Luận án tiến sĩ: Kích thước và phân nhánh động mạch chủ ở người Việt Nam trưởng thành

Luận án tiến sĩ nghiên cứu kích thước và phân nhánh động mạch chủ ở người Việt Nam trưởng thành, cung cấp dữ liệu quan trọng cho y học lâm sàng và giải phẫu.

Chuyên ngành

Giải Phẫu Người

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ Y Học

2020

140
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Kích thước động mạch chủ

Nghiên cứu tập trung vào việc xác định kích thước động mạch chủ ở người Việt Nam trưởng thành, bao gồm cả đoạn ngực và bụng. Kết quả cho thấy đường kính trung bình của động mạch chủ ngực là 19.1mm, trong khi động mạch chủ bụng có đường kính trung bình nhỏ hơn, giảm dần từ trên xuống dưới. Những số liệu này cung cấp cơ sở quan trọng cho việc chẩn đoán và điều trị các bệnh lý liên quan đến hệ thống tuần hoàn, đặc biệt là phình động mạch chủ. So sánh với các nghiên cứu quốc tế, kích thước động mạch chủ người Việt Nam nhỏ hơn đáng kể, điều này cần được lưu ý trong việc thiết kế các thiết bị y tế như stent và ghép Teflon.

1.1. Động mạch chủ ngực

Động mạch chủ ngực được chia thành ba đoạn chính: đoạn lên, cung động mạch chủ và đoạn xuống. Đoạn lên có đường kính trung bình khoảng 5cm, trong khi cung động mạch chủ có đường kính trung bình 19.1mm. Đoạn xuống kết thúc tại đốt sống ngực thứ 12 với đường kính trung bình 15.8mm. Những số liệu này được đo từ cả xác ướp và hình ảnh chụp cắt lớp vi tính (CLVT), đảm bảo độ chính xác cao. Điều này giúp hỗ trợ chẩn đoán các bệnh lý như bóc tách động mạch chủphình động mạch chủ.

1.2. Động mạch chủ bụng

Động mạch chủ bụng có đường kính giảm dần từ trên xuống dưới, với kích thước trung bình tại đốt sống thắt lưng L4 là 15mm. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng phình động mạch chủ bụng được định nghĩa khi đường kính vượt quá 30mm. Những số liệu này rất quan trọng trong việc xác định các trường hợp phình động mạch và lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp, đặc biệt là trong bối cảnh người Việt Nam có kích thước cơ thể nhỏ hơn so với người Âu Mỹ.

II. Phân nhánh động mạch chủ

Nghiên cứu cũng tập trung vào việc phân tích phân nhánh động mạch chủ, đặc biệt là các biến thể trong cấu trúc và vị trí xuất phát của các nhánh. Kết quả cho thấy cung động mạch chủ thường cho ba nhánh chính: thân cánh tay đầu, động mạch cảnh chung tráiđộng mạch dưới đòn trái. Tuy nhiên, có nhiều biến thể như động mạch đốt sống xuất phát trực tiếp từ cung động mạch chủ. Những biến thể này có ý nghĩa quan trọng trong phẫu thuật và chẩn đoán hình ảnh, đặc biệt là trong các trường hợp bất thường về cấu trúc động mạch chủ.

2.1. Cung động mạch chủ

Cung động mạch chủ là đoạn chuyển tiếp giữa động mạch chủ lên và xuống, thường cho ba nhánh chính. Tuy nhiên, nghiên cứu ghi nhận nhiều biến thể như động mạch dưới đòn phải xuất phát trực tiếp từ cung động mạch chủ. Những biến thể này cần được lưu ý trong các thủ thuật phẫu thuật và chẩn đoán hình ảnh, đặc biệt là trong các trường hợp bất thường về giải phẫu động mạch chủ.

2.2. Động mạch chủ bụng

Động mạch chủ bụng cho nhiều nhánh cấp máu cho các tạng trong ổ bụng, bao gồm động mạch thân tạng, động mạch mạc treo tràng trênđộng mạch thận. Nghiên cứu cũng ghi nhận các biến thể như động mạch thận phải xuất phát từ động mạch chủ ngực. Những biến thể này có ý nghĩa quan trọng trong việc lập kế hoạch phẫu thuật và chẩn đoán các bệnh lý liên quan đến sinh lý học động mạch chủ.

III. Ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu này có giá trị thực tiễn cao trong lĩnh vực y học Việt Nam, đặc biệt là trong chẩn đoán và điều trị các bệnh lý liên quan đến động mạch chủ. Các số liệu về kích thước động mạch chủphân nhánh động mạch chủ cung cấp cơ sở quan trọng cho việc thiết kế các thiết bị y tế phù hợp với đặc điểm cơ thể người Việt Nam. Đồng thời, nghiên cứu cũng giúp nâng cao hiểu biết về giải phẫu động mạch chủsinh lý học động mạch chủ, hỗ trợ đắc lực cho các bác sĩ trong việc chẩn đoán và điều trị các bệnh lý tim mạch.

3.1. Chẩn đoán hình ảnh

Các số liệu từ nghiên cứu giúp cải thiện độ chính xác trong chẩn đoán hình ảnh, đặc biệt là trong việc xác định phình động mạch chủbóc tách động mạch chủ. Những thông tin này cũng hỗ trợ trong việc lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp, bao gồm cả phẫu thuật và đặt stent.

3.2. Thiết kế thiết bị y tế

Nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu quan trọng cho việc thiết kế các thiết bị y tế như stent và ghép Teflon, đảm bảo phù hợp với kích thước động mạch chủ của người Việt Nam. Điều này giúp giảm thiểu rủi ro và nâng cao hiệu quả điều trị.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Động mạch chủ là mạch máu lớn nhất trong cơ thể, xuất phát từ tâm thất trái và kết thúc bằng cách chia đôi thành hai động mạch chậu chung. Động mạch chủ có nhiều bệnh lý liên quan như: phình động mạch chủ, bóc tách động mạch chủ, hẹp động mạch chủ,… Phình động mạch chủ là một bệnh lý quan trọng, cần được quan tâm do mức độ nguy hiểm và tính chất cấp cứu của nó. Phình động mạch chủ có thể được ch n đoán rõ ràng bằng siêu âm, CT hoặc MRI nếu mạch máu có hình dạng phình rõ hoặc có đường kính lớn. Có nhiều tác giả đề xuất các định nghĩa phình động mạch chủ khác nhau.

Trong đó, phình động mạch chủ bụng được định nghĩa khi đường kính động mạch chủ bụng lớn hơn 30 mm được chấp nhận nhiều nhất [96]. Tuy nhiên, cũng có tác giả đề nghị phình động mạch chủ bụng phải được định nghĩa dựa trên đường kính động động mạch chủ bụng đoạn trên thận. Theo Hội Phẫu thuật tim mạch thế giới, phình động mạch chủ bụng khi đường kính động mạch chủ bụng lớn hơn 1,5 lần kích thước của động mạch chủ bụng đoạn trên thận. Vấn đề xác định đường kính có thể được đo trực tiếp qua mổ trên thi thể.

Tuy nhiên trên thực tế ch n đoán và điều trị thì chúng ta đo qua chụp cắt lớp vi tính. Để ch n đoán được phình động mạch chủ đòi hỏi phải biết được kích thước bình thường của động mạch. Trên thế giới đã có nhiều tài liệu nghiên cứu về kích thước bình thường của động mạch chủ. Nhưng, tại Việt Nam, hiện có rất ít đề tài nghiên cứu về vấn đề này [11], [16], [17].

Mà chủ yếu số liệu tham khảo được dựa trên số đo của người nước ngoài. Vấn đề điều trị phình động mạch chủ hiện nay có nhiều phương pháp, phương pháp chủ yếu gồm đặt stent và cắt túi phình ghép Teflon. Các stent và Teflon thường được 2 sản xuất cho người nước ngoài, mà chủ yếu là người Châu Âu, Châu Mỹ với thể trạng to lớn hơn người Việt Nam. Người Việt Nam có kích thước cơ thể và trọng lượng nhỏ hơn người Âu Mỹ.

Vậy kích thước, đường kính của động mạch chủ ở người Việt Nam có kích thước cụ thể ra sao so với các nghiên cứu trên người Âu Mỹ? Bên cạnh đó, các dạng của động mạch chủ và các nhánh bên có thể có nhiều dạng và những biến đổi. Vậy các dạng và những biến đổi của động mạch chủ ở người Việt Nam trưởng thành có gì khác biệt so với những kết quả nghiên cứu ở người Âu Mỹ? Do đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu kích thước và phân nhánh của động mạch chủ ở người Việt Nam trưởng thành” với mục đích giải đáp phần nào những câu hỏi ở trên, đồng thời có thể cung cấp những số liệu tham khảo về kích thước của động mạch chủ cho các bác sĩ chuyên ngành giải phẫu người, phẫu thuật tim mạch, ch n đoán hình ảnh. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Xác định đặc điểm về đường kính, sự phân nhánh của động mạch chủ ngực trên xác và trên chụp cắt lớp vi tính.

Xác định đặc điểm về đường kính, sự phân nhánh của động mạch chủ bụng trên xác và trên chụp cắt lớp vi tính. 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Phôi thai học động mạch chủ ngực Ở thời kỳ phôi thai, hệ tim mạch là cơ quan hoạt động sớm nhất. Ở giai đoạn sớm, phôi được cung cấp dinh dưỡng nhờ vào sự th m thấu từ các mô bao quanh, nhưng vì phôi lớn rất nhanh nên đòi hỏi phải có một phương thức cung cấp năng lượng và loại bỏ chất thải một cách hiệu quả hơn.

Do đó, hệ tim mạch phát triển rất sớm và trở thành cơ quan cung cấp dinh dưỡng chủ yếu cho phôi. Vào ngày thứ 17, trung bì lá tạng của túi noãn hoàng tụ lại tạo nên đảo máu. Vào ngày thứ 18, sự tạo mạch bắt đầu, trung bì lá tạng biệt hoá thành tế bào nội mô và tạo thành dây sinh mạch. Dây sinh mạch sau đó hội tụ, tăng sinh và tạo lòng để trở thành hệ mạch máu của phôi.

Khi tim còn là ống tim nội mô, phần hành ĐMC được tiếp nối bởi rễ ĐMC bụng. Động mạch này sau đó phát triển hướng về đuôi phôi để tạo nên ĐMC lưng. Khi phôi khép mình, đôi ĐMC lưng tiến sát vào nhau ở mặt bụng để tạo nên một cung động mạch lưng bụng được gọi là cung ĐMC thứ nhất. Ở tuần thứ tư và thứ năm, 4 đôi ĐMC khác liên tiếp được hình thành theo hướng đầu-đuôi.

Hệ thống cung ĐMC này được sửa đổi sau đó để trở thành các động mạch cung cấp máu cho phần ngực và cổ. 5 Ở người: - Cung động mạch thứ nhất trở thành động mạch hàm trong. - Cung thứ hai thành động mạch xương móng và xương bàn đạp. - Cung thứ ba tạo thành đoạn gần của động mạch cảnh trong.

- Cung thứ tư góp phần tạo thành cung ĐMC. - Cung thứ năm không phát triển. - Cung thứ sáu phát triển thành ống động mạch thông nối giữa động mạch phổi và ĐMC. Động mạch chủ lên III Vách giữa động mạch chủ và động mạch phổi IV Thân động mạch phổi V Động mạch phổi nguyên phát Hình 1.1: Cung động mạch chủ ở tuần thứ nhất “Nguồn: Nguyễn Trí Dũng, 2005” [5] 6 1.

Giải phẫu động mạch chủ ngực [2], [3], [36] Động mạch dưới Thân động mạch đòn trái cánh tay đầu Động mạch cảnh Khí quản chung trái Động mạch chủ ngực Thực quản Hình 1.2: Động mạch chủ ngực và các cấu trúc liên quan “Nguồn:Netter, 2011” [6] ĐMC ngực được chia làm 3 đoạn: - Đoạn thứ nhất chạy từ van ĐMC đến động mạch thân cánh tay đầu: đoạn này tương ứng với đoạn 0 (vị trí xoang ĐMC, vị trí giãn) và đoạn I theo phân loại lâm sàng trong bóc tách ĐMC. - Đoạn thứ hai, cung ĐMC, là một đoạn nằm ngang, giới hạn từ động mạch thân cánh tay đầu đến động mạch dưới đòn trái (nơi bắt đầu của ĐMC xuống), đoạn này tương ứng với đoạn II. 7 - Đoạn thứ ba: bắt đầu ngay sau lỗ động mạch dưới đòn trái và tận cùng tại lỗ ĐMC của cơ hoành. Động mạch cảnh chung trái Thân động mạch cánh tay đầu Động mạch dưới đòn trái Cung động mạch chủ Động mạch chủ lên Hình 1.3: Tim và động mạch chủ “Nguồn: Putz R., 1994” [77] ĐMC là thân chính của một số mạch máu, là một động mạch lớn với chức năng chuyên chở oxy để nuôi dưỡng phần lớn các cơ quan của cơ thể.

Thành mạch gồm 3 lớp: - Màng đáy là một lớp nội mô mỏng. - Lớp giữa: chiếm hầu hết bề dày của thành động mạch, chứa đựng các sợi đàn hồi, cơ trơn và mô liên kết. 8 - Lớp ngoài: là một lớp mô liên kết và đàn hồi mỏng, ngoài ra còn chứa đựng thần kinh, hệ bạch huyết và ống màng mạch mao quản. Gốc động mạch chủ và động mạch chủ lên Phần đầu tiên của ĐMC ngực là gốc ĐMC.

Gốc ĐMC được bao quanh bởi bốn buồng tim. ĐMC lên là sự tiếp nối với gốc ĐMC ở ngang mức nửa dưới sụn sườn thứ 3 cạnh bờ trái xương ức với chiều dài khoảng 5cm. Nó đi chếch lên trên, ra trước và về phía phải theo trục tim. Đến ngang mức nửa trên của sụn sườn thứ 2, ĐMC lên sẽ trở thành cung ĐMC.

Tại đây đường kính mạch máu gia tăng do sự phình của thành bên phải động mạch. Đoạn giãn này được gọi là phần củ của ĐMC. Trên mặt cắt ngang đoạn này có hình bầu dục. Đoạn lên của ĐMC được giới hạn bởi màng ngoài tim nên nó như được bao quanh trong một cái ống chứa đựng dịch màng tim.

Điều này cũng tương tự với động mạch phổi. Cung động mạch chủ Cung ĐMC là một đoạn mạch máu chuyển tiếp giữa ĐMC lên và ĐMC xuống. Cung ĐMC bắt đầu ngang viền trên của khớp nối ức-sườn số 2 bên phải, chạy hướng lên trên ra sau và về phía bên trái, chạy trước khí quản sau đó chạy về phía sau trái của phế quản gốc bên trái rồi đi thẳng dọc theo bờ trái cột sống đến đốt sống ngực thứ 4 sẽ trở thành ĐMC xuống. Giới hạn trên của cung ĐMC nằm dưới khoảng 2,5cm so với giới hạn trên của cán xương ức.

Cung ĐMC là nơi cho ra một số động mạch lớn vùng cánh tay, vùng đầu và vùng cổ: động mạch thân cánh tay đầu, động mạch cảnh chung trái, và động mạch dưới đòn trái. 9 Trong thành của cung ĐMC có những thụ thể giúp điều chỉnh huyết áp, còn phía dưới là thân của ĐMC nơi thích nghi với những thay đổi về thành phần hoá học trong máu. Động mạch cảnh chung phải Động mạch cảnh chung trái Động mạch Thân động mạch cánh dưới đòn trái tay đầu Cung động mạch chủ Hình 1.4: Dạng phân nhánh bình thường của cung động mạch chủ “Nguồn: Putz R., 1994” [77] Giữa điểm xuất phát của động mạch dưới đòn trái và vị trí ống động mạch gắn vào ĐMC có một chỗ hẹp, được gọi là eo ĐMC, trong khi đó bên kia của eo ĐMC thì mạch máu giãn rộng thành hình thoi nên được gọi là thoi ĐMC. Người ta nhận thấy tình trạng này cố định ở một số trường hợp, tuy nhiên cũng có một số trường hợp giãn rộng hơn nhưng trung bình thì đường kính của thoi ĐMC hơn eo ĐMC là 3 mm.

Sự khác biệt những giãn rộng và sự hẹp vừa phải tại eo là tình trạng đã được biết như sự hẹp của ĐMC, nhưng tình trạng hẹp đáng kể tới mức tắc nghẽn hoàn toàn lòng ống động mạch thường được thấy ở người trưởng thành và xảy ra ngay tại hoặc ở gần nhưng 10 thường thấy nhất là ở vị trí bên dưới một chút của dây chằng động mạch nối vào ĐMC. Theo Bonnet, sự hẹp này không bao giờ tìm thấy ở thai nhi hoặc trẻ sơ sinh và đây là nguyên nhân phát triển những mô bất thường trong ống động mạch đến thành của ĐMC, đồng thời làm hẹp cả mạch máu và ống động mạch sau khi sinh.5: Các biến thể của sự phân nhánh ở cung động mạch chủ “Nguồn: Putz R. Thân cánh tay đầu và động mạch cảnh chung trái có chung nguyên ủy b. Thân chung cho thân cánh tay đầu và động mạch cảnh chung trái c.

Động mạch đốt sống bên trái tách ra từ cung động mạch chủ d.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu kích thước và phân nhánh động mạch chủ ở người Việt Nam trưởng thành là một tài liệu quan trọng cung cấp thông tin chi tiết về đặc điểm giải phẫu của động mạch chủ, một mạch máu lớn và thiết yếu trong cơ thể. Nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về cấu trúc và chức năng của động mạch chủ mà còn hỗ trợ trong chẩn đoán và điều trị các bệnh lý liên quan đến hệ tuần hoàn. Đây là nguồn tài liệu quý giá cho các bác sĩ, nhà nghiên cứu và sinh viên y khoa.

Để mở rộng kiến thức về giải phẫu mạch máu, bạn có thể tham khảo Luận án tiến sĩ nghiên cứu giải phẫu mạch máu và thần kinh tuyến giáp trên người việt nam trưởng thành, một nghiên cứu chuyên sâu về hệ thống mạch máu và thần kinh ở tuyến giáp. Ngoài ra, Luận án nghiên cứu giải phẫu các vạt mạch xuyên cơ bụng chân và động mạch gối xuống cũng là một tài liệu hữu ích để hiểu thêm về cấu trúc mạch máu ở chi dưới. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ nghiên cứu hiệu quả của phẫu thuật van hai lá ít xâm lấn qua đường mở ngực phải sẽ cung cấp thêm góc nhìn về các phương pháp điều trị liên quan đến hệ tuần hoàn. Hãy khám phá những tài liệu này để có cái nhìn toàn diện hơn về chủ đề này!