Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm lâm sàng tổn thương cơ quan đích và tình trạng kháng insulin ở bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát có rối loạn glucose máu lúc đói

Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, tổn thương cơ quan đích và tình trạng kháng insulin ở bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát có rối loạn glucose máu lúc đói.

Trường đại học

Viện Nghiên Cứu Khoa Học Y Dược Lâm Sang

Chuyên ngành

Nội Tim Mạch

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ y học

2019

149
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. KHÁI NIỆM VỀ INSULIN VÀ KHÁNG INSULIN

1.1.1. Khái niệm về insulin

1.1.2. Khái niệm về kháng insulin

1.1.3. Các phương pháp xác định kháng insulin

1.1.4. Các bệnh lý, hội chứng lâm sàng liên quan với kháng insulin

1.2. TỔN THƯƠNG CƠ QUAN ĐÍCH Ở BỆNH NHÂN TĂNG HUYẾT ÁP CÓ RỐI LOẠN GLUCOSE MÁU LÚC ĐÓI

1.2.1. Rối loạn chức năng nội mạc

1.2.2. Tổn thương hệ thống mạch máu lớn

1.2.3. Tổn thương hệ thống mạch máu nhỏ

1.3. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ THA CÓ RỐI LOẠN GLUCOSE MÁU LÚC ĐÓI TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM

1.3.1. Tình hình nghiên cứu trên Thế giới

1.3.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

2.2. THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

2.2.1. Thời gian nghiên cứu

2.2.2. Địa điểm nghiên cứu

2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.3.1. Thiết kế nghiên cứu

2.3.2. Quy trình nghiên cứu

2.3.3. Các chỉ tiêu nghiên cứu và tiêu chí đánh giá

2.4. XỬ LÝ SỐ LIỆU NGHIÊN CỨU

2.5. ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, MỘT SỐ TỔN THƯƠNG CƠ QUAN ĐÍCH, KẾT QUẢ NGHIỆM PHÁP DUNG NẠP GLUCOSE VÀ TÌNH TRẠNG KHÁNG INSULIN Ở BỆNH NHÂN TĂNG HUYẾT ÁP MỚI PHÁT HIỆN CÓ RỐI LOẠN GLUCOSE MÁU LÚC ĐÓI

3.1.1. Đặc điểm lâm sàng

3.1.2. Một số tổn thương cơ quan đích

3.1.3. Kết quả nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống của nhóm bệnh

3.1.4. Tình trạng kháng insulin ở các nhóm nghiên cứu

3.2. ĐÁNH GIÁ MỐI LIÊN QUAN GIỮA KHÁNG INSULIN VÀ TỔN THƯƠNG MỘT SỐ CƠ QUAN ĐÍCH

3.2.1. Mối liên quan với tổn thương tim mạch

3.2.2. Mối liên quan với tổn thương thận

3.2.3. Mối liên quan với tổn thương mắt

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, MỘT SỐ TỔN THƯƠNG CƠ QUAN ĐÍCH, KẾT QUẢ NGHIỆM PHÁP DUNG NẠP GLUCOSE, TÌNH TRẠNG KHÁNG INSULIN CỦA NHÓM NGHIÊN CỨU

4.1.1. Đặc điểm lâm sàng của nhóm đối tượng nghiên cứu

4.1.2. Một số tổn thương cơ quan đích

4.1.3. Kết quả nghiệm pháp dung nạp glucose ở nhóm bệnh tăng huyết áp có rối loạn glucose máu lúc đói

4.1.4. Tình trạng kháng insulin ở các nhóm nghiên cứu

4.2. MỐI LIÊN QUAN GIỮA KHÁNG INSULIN VỚI TỔN THƯƠNG MỘT SỐ CƠ QUAN ĐÍCH Ở NHÓM NGHIÊN CỨU

4.2.1. Mối liên quan với tim mạch

4.2.2. Mối liên quan giữa kháng insulin và một số tổn thương thận

4.2.3. Mối liên quan với tổn thương đáy mắt

CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN CỦA NGHIÊN CỨU SINH

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

A. CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Khái niệm về insulin và kháng insulin

Insulin là hormon do tế bào β tuyến tụy tiết ra, có vai trò điều hòa chuyển hóa carbohydrate, lipid và protein. Kháng insulin là tình trạng giảm đáp ứng sinh học của các tế bào, cơ quan, tổ chức đối với tác động của insulin. Nguyên nhân kháng insulin bao gồm bất thường về cấu trúc insulin, xuất hiện kháng thể kháng insulin, rối loạn dẫn truyền tín hiệu insulin và giảm tác dụng của insulin tại mô đích. Các phương pháp xác định kháng insulin bao gồm định lượng insulin máu cơ bản lúc đói, nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống và kỹ thuật 'kẹp' glucose.

1.1. Khái niệm về insulin

Insulin là hormon có vai trò quan trọng trong việc duy trì lượng glucose trong máu bình thường. Nó thúc đẩy sự phân chia và tăng trưởng tế bào, đồng thời điều hòa chuyển hóa carbohydrate, lipid và protein. Insulin được tiết ra từ tế bào β tuyến tụy và có tác dụng giảm glucose máu bằng cách tăng thoái hóa glucose ở cơ và tăng dự trữ glycogen ở gan.

1.2. Khái niệm về kháng insulin

Kháng insulin là tình trạng giảm đáp ứng sinh học của các tế bào, cơ quan, tổ chức đối với tác động của insulin. Tình trạng này thường biểu hiện bằng gia tăng nồng độ insulin trong máu. Nguyên nhân kháng insulin bao gồm bất thường về cấu trúc insulin, xuất hiện kháng thể kháng insulin, rối loạn dẫn truyền tín hiệu insulin và giảm tác dụng của insulin tại mô đích.

II. Tổn thương cơ quan đích ở bệnh nhân tăng huyết áp có rối loạn glucose máu lúc đói

Tổn thương cơ quan đích là một trong những hậu quả nghiêm trọng của tăng huyết áprối loạn glucose máu lúc đói. Các cơ quan đích thường bị ảnh hưởng bao gồm tim, thận và mắt. Rối loạn chức năng nội mạc, tổn thương hệ thống mạch máu lớntổn thương hệ thống mạch máu nhỏ là những biểu hiện thường gặp. Nghiên cứu cho thấy, những bệnh nhân có rối loạn glucose máu lúc đói có nguy cơ tổn thương cơ quan đích cao hơn so với nhóm có nồng độ glucose bình thường.

2.1. Rối loạn chức năng nội mạc

Rối loạn chức năng nội mạc là một trong những biểu hiện sớm của tổn thương cơ quan đích ở bệnh nhân tăng huyết áprối loạn glucose máu lúc đói. Tình trạng này dẫn đến giảm khả năng giãn mạch và tăng nguy cơ xơ vữa động mạch.

2.2. Tổn thương hệ thống mạch máu lớn

Tổn thương hệ thống mạch máu lớn bao gồm các biến chứng như xơ vữa động mạch, nhồi máu cơ tim và đột quỵ. Những bệnh nhân có rối loạn glucose máu lúc đóităng huyết áp có nguy cơ cao hơn đối với các biến chứng này.

III. Tình hình nghiên cứu về tăng huyết áp có rối loạn glucose máu lúc đói

Nghiên cứu về tăng huyết áprối loạn glucose máu lúc đói đã được thực hiện rộng rãi trên thế giới và tại Việt Nam. Các nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ rối loạn glucose máu lúc đói ở bệnh nhân tăng huyết áp đang gia tăng nhanh chóng. Tại Việt Nam, tỷ lệ này được ghi nhận là 4,5% trong nghiên cứu của Phạm Thị Hồng Hoa năm 2007. Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, rối loạn glucose máu lúc đói là yếu tố nguy cơ độc lập làm tăng gấp đôi các bệnh lý mạch máu.

3.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Nghiên cứu của Yu S. ghi nhận tỷ lệ rối loạn glucose máu lúc đói ở bệnh nhân tăng huyết áp tăng từ 9,7% lên 13,6% trong giai đoạn 2011-2013. Nghiên cứu của Novoa F. cũng chỉ ra rằng, những người có rối loạn glucose máu lúc đói có nguy cơ tổn thương cơ quan đích cao hơn so với nhóm có nồng độ glucose bình thường.

3.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Tại Việt Nam, nghiên cứu của Tạ Văn Bình năm 2002 cho thấy tỷ lệ rối loạn glucose máu lúc đói là 2,2%. Nghiên cứu của Phạm Thị Hồng Hoa năm 2007 ghi nhận tỷ lệ này là 4,5% ở đối tượng có yếu tố nguy cơ cao. Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, rối loạn glucose máu lúc đói là yếu tố nguy cơ độc lập làm tăng gấp đôi các bệnh lý mạch máu.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

13/02/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm lâm sàng tổn thương cơ quan đích và tình trạng kháng insulin ở bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát có rối loạn glucose máu lúc đói

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. KHÁI NIỆM VỀ INSULIN VÀ KHÁNG INSULIN 1. Khái niệm về insulin Insulin là hormon do tế bào β tuyến tụy tiết ra nhằm duy trì lượng glucose trong máu bình thường. Insulin có vai trò điều hòa chuyển hóa carbohydrate, chuyển hóa lipid và protein, thúc đẩy sự phân chia và tăng trưởng tế bào.

฀ Vai trò tác dụng của insulin. - Tác dụng lên chuyển hóa glucid: insulin là hormon có tác dụng giảm glucose máu do tăng thoái hóa glucose ở cơ, tăng dự trữ glycogen ở cơ, tăng thu nhập, dự trữ, sử dụng glucose ở gan, ức chế quá trình tân tạo glucose. - Tác dụng lên chuyển hóa lipid: tăng tổng hợp acid béo, triglycerid và vận chuyển acid béo, tăng dự trữ lipid ở mô mỡ. - Tác dụng lên chuyển hóa protein và sự tăng trưởng: insulin làm tăng tổng hợp và dự trữ protein tham gia làm phát triển cơ thể.

฀ Điều hòa bài tiết: - Cơ chế thể dịch: phụ thuộc nồng độ glucose, acid amin, nồng độ các hormon ống tiêu hóa như incretin, gastrin, secretin, cholecystokinin… - Cơ chế thần kinh: kích thích thần kinh giao cảm và phó giao cảm có thể tăng tiết insulin. Khái niệm về kháng insulin Đầu tiên kháng insulin là thuật ngữ dùng để chỉ những bệnh nhân đái tháo đường type 1 khi điều trị phải dùng đến hay nhiều hơn 200 đơn vị insulin/ ngày mới kiểm soát được glucose máu. Tình trạng này chủ yếu do sự xuất hiện các 4 kháng thể kháng lại insulin được chiết xuất từ insulin bò hay lợn. Ngày nay thuật ngữ kháng insulin không còn mang ý nghĩa đơn thuần trong điều trị mà chủ yếu dùng để chỉ tình trạng kháng insulin ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 hay ở người có hội chứng chuyển hóa bao gồm tập hợp các tình trạng hay hội chứng như tăng huyết áp, béo phì, rối loạn chuyển hóa lipid, rối loạn chuyển hóa glucose, béo dạng nam… “Kháng insulin là tình trạng giảm đáp ứng sinh học của các tế bào, cơ quan, tổ chức đối với tác động của insulin".

Khái niệm kháng insulin để chỉ tình trạng suy giảm hiệu quả đáp ứng sinh học của insulin trên tế bào đích, biểu hiện thông thường bằng gia tăng nồng độ insulin trong máu. Có thể nói cách khác kháng insulin xảy ra khi tế bào của mô đích không đáp ứng hoặc bản thân tế bào chống lại sự tăng insulin máu. Insulin từ tế bào β lưu hành trong máu tác dụng đến tế bào đích, các biến cố xảy ra ở bất kỳ khâu nào cũng ảnh hưởng tác dụng của hormone này. ฀ Nguyên nhân kháng insulin.

- Tế bào β bài tiết sản phẩm bất thường: Phân tử insulin có thể bị bất thường về cấu trúc, đột biến gen cấu trúc insulin hay bất thường tại các vị trí cắt C - peptide của phân tử oroinsulin làm tăng proinsulin dẫn tới bất thường về tác dụng sinh học. - Xuất hiện kháng thể kháng insulin: ở người điều trị Insulin động vật lâu ngày. - Xuất hiện kháng thể kháng receptor insulin: gặp chủ yếu ở nữ và có các bệnh tự miễn khác như lupus ban đỏ hệ thống, bệnh gai đen, dày sừng. - Rối loạn dẫn truyền tín hiệu insulin: khiếm khuyết tại thụ thể và sau thụ thể, do giảm số lượng các thụ thể gắn với insulin tại các tế bào nhưng hiếm gặp.

Giảm hoạt tính của kinase ở thụ thể, giảm các chất vận chuyển glucose (GLUT) tại tế bào mỡ và tế bào cơ là cơ chế chính trong đề kháng insulin ở bệnh nhân 5 tăng glucose máu. Giảm gắn insulin là vấn đề chính trên người có rối loạn dung nạp glucose và tăng glucose máu nhẹ. Khi nồng độ glucose máu vượt quá 7,8 mmol/l thì khiếm khuyết sau thụ thể chiếm ưu thế [17]. - Giảm tác dụng của insulin tại mô đích: kháng insulin được đặc trưng bởi giảm tác dụng của insulin tại rất nhiều cơ quan đích.

Ở người khoẻ mạnh bình thường mô cơ sử dụng khoảng 70 - 80% nguồn glucose được cung cấp và mô mỡ sử dụng khoảng 10%. Sự thu nạp glucose ở các cơ quan nội tạng chiếm khoảng 7% liên quan mật thiết với insulin và các acid béo. Giảm sử dụng glucose qua trung gian insulin chủ yếu ở mô cơ, là cơ chế bệnh sinh chủ yếu trong rối loạn chuyển hóa glucose. Các phương pháp xác định kháng insulin Hiện nay vì không có chỉ số nào đánh giá tình trạng kháng insulin chính xác tuyệt đối nên người ta sử dụng nhiều phương pháp và chỉ số để đánh giá tình trạng kháng insulin.

฀ Các phương pháp nội sinh Đây là những phương pháp đánh giá hoạt động insulin nội sinh có kết hợp với đưa glucose vào cơ thể hoặc không. - Định lượng insulin máu cơ bản lúc đói: là phương pháp đơn giản và được áp dụng rộng rãi nhất để xác định tình trạng kháng insulin (I0). - Nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống: định lượng nồng độ glucose và insulin lúc đói (G0, I0), sau uống 75g glucose trong vòng 5-10 phút. Sau 120 phút, lấy lại máu để định lượng nồng độ glucose và insulin (G120, I120 ) lần 2.

฀ Các phương pháp ngoại sinh Đây là phương pháp đánh giá đáp ứng glucose máu đối với một lượng insulin nhất định được đưa từ ngoài vào trong cơ thể. 6 - Kỹ thuật "kẹp" glucose (the glucose clamp): phương pháp này được coi là chính xác nhất hay "tiêu chuẩn vàng". Nồng độ glucose được "kẹp" chặt hay cố định ở một mức nhất định trong khi đánh giá sự tiết của insulin. Tiêm insulin vào tĩnh mạch để nâng cao nồng độ insulin lúc đói, sau đó truyền tĩnh mạch liên tục để duy trì nồng độ insulin vào khoảng 100 U/ml.

Đồng thời truyền cả glucose tĩnh mạch để ngăn không cho giảm glucose máu và "kẹp" hay duy trì nồng độ glucose 100mg/dl (5,5 mmol/l). Ở tình trạng này lượng glucose truyền vào tương ứng với sự thu nạp glucose ở các mô và qua đó tính được sự chuyển hóa glucose qua trung gian insulin hay nói cách khác tình trạng nhạy cảm với insulin tại mô. Nếu khi làm nghiệm pháp người tiến hành thực nghiệm cần một lượng lớn glucose để duy trì nồng độ glucose máu ở mức bình thường thì chứng tỏ trường hợp đó không kháng insulin. Ngược lại nếu chỉ cần một lượng nhỏ glucose để duy trì nồng độ glucose máu ở mức bình thường thì chứng tỏ trường hợp đó kháng mạnh với insulin.

- Nghiệm pháp dung nạp insulin hay ức chế insulin: tiêm vào tĩnh mạch insulin hoặc epinephrine và propranolol, tiến hành định lượng glucose và insulin, kỹ thuật này hiện nay ít được áp dụng vì có nhiều tác dụng phụ [44]. ฀ Một số chỉ số đánh giá kháng insulin - Chỉ số HOMA - IR (Homeostasis Model Assessment Insulin Resistance): Phương pháp đánh giá kháng insulin nội sinh theo tác giả ( / )× ( / ) Matthew đề xuất. HOMA -IR = , - Tổ chức Y tế Thế giới đã công nhận công thức tính này để làm tiêu chuẩn chẩn đoán kháng insulin vì đã được tính toán có giá trị tương đương với kỹ thuật kẹp insulin – glucose [89]. 7 - Nhược điểm: đối với các đối tượng có giảm nặng hoặc mất chức năng tế bào β thì chỉ số HOMA –IR không cho kết quả dự báo chính xác nữa.

- Chỉ số QUICKI: Quantitative Insulin Sensitivity Check Index. QUICKI = 1/log (I0 + G0) - Chỉ số đánh giá chức năng tiết của tế bào ß (β cell function Homeostasis Model Assessment) theo công thức do Matthew D đề xuất [89] × ( / ) + HOMA - %β = ( / ) , Để đánh giá giảm chức năng tế bào β đa số các tác giả chọn điểm trên giới hạn < – 1SD. - Chỉ số ISI0-120 (Chỉ số độ nhạy của insulin). ISI: Insulin Sensitivity Index.

- Chỉ số glucose/insulin (G/I): Một số nghiên cứu sử dụng chỉ số G/I để đánh giá kháng insulin (đặc biệt là sử dụng cho các bệnh nhân mắc hội chứng buồng trứng đa nang). Tuy nhiên, đối với bệnh nhân đái tháo đường chỉ số này ít có giá trị vì nồng độ glucose và insulin có sai số lớn giữa các thời điểm lấy máu xét nghiệm. 8 - Chỉ số MMAMG (Minimal Model Approximation of the Metabolism of Glucose). Công thức tối thiểu này được tác giả Bergman và cộng sự đề xuất từ năm 1979, cung cấp một phương pháp gián tiếp tính độ nhạy/kháng insulin trên cơ sở thông số glucose, insulin thu được trong suốt nghiệm pháp dung nạp glucose bằng đường truyền tĩnh mạch.

Công thức tối thiểu được tính bằng hai phép tính với 4 thông số. Phép tính thứ nhất thể hiện động học glucose huyết tương. Phép tính thứ hai mô tả động học của insulin. - Chỉ số McAuley (dựa vào sự gia tăng của nồng độ triglycerid và insulin máu lúc đói do McAuley đề xuất), công thức tính: f(x) = exp [2,63 - 0,28ln) I0 U/ml) - 0,31ln (TG mmol/l), - Chỉ số Bennett = 1/[ln(i0 U/ml) x ln(G0mmol/l).

Các bệnh lý, hội chứng lâm sàng liên quan với kháng insulin Kháng insulin có mối liên quan chặt chẽ với bệnh đái tháo đường type 2 và hội chứng chuyển hóa như tình trạng béo phì, tăng huyết áp, hội chứng buồng trứng đa nang, gan nhiễm mỡ không do rượu, chứng ngưng thở khi ngủ và một số bệnh lý ung thư. Kháng insulin thứ phát do tăng sản xuất các hormone điều hòa ngược như trong các bệnh cấp tính, xơ gan, suy thận, mang thai, cường giáp, bệnh Cushing, bệnh to đầu chi, u tủy thượng thận… tuy nhiên ít gặp hơn. Vai trò của kháng insulin trong bệnh đái tháo đường type 2 Kháng insulin là yếu tố tiên quyết trong rối loạn chuyển hóa glucose. Người ta nhận thấy kháng insulin ở người tiền đái tháo đường như rối loạn glucose máu lúc đói hay rối loạn dung nạp glucose cũng gần tương đương như trong đái tháo đường type 2 mới phát hiện, insulin máu tăng kèm glucose máu tăng.

Hình thức kháng insulin cũng rất phong phú bao gồm: giảm khả năng ức chế sản xuất glucose ở gan, giảm khả năng thu nạp glucose ở mô ngoại vi và giảm khả năng sử dụng glucose ở các cơ quan. Pha sớm tiết 9 insulin bị suy giảm ở cả người rối loạn glucose máu lúc đói và rối loạn dung nạp glucose. Pha muộn tiết insulin thì người rối loạn glucose máu lúc đói bình thường, người rối loạn dung nạp glucose bị suy giảm. Ở người đái tháo đường, nồng độ glucose máu khi đói tăng cao, dẫn đến nồng độ insulin máu tăng cao ức chế gan sản xuất glucose.

Do cơ chế tự điều chỉnh tại gan sinh ra tình trạng kháng insulin tại gan tiếp tục sản xuất glucose đáp ứng theo yêu cầu của cơ thể. Nồng độ đường máu lúc đói tăng cao ở mức nhẹ hoặc trung bình, lượng các sản phẩm glucose từ gan sẽ tăng khoảng 0,5 mg/kg/phút.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Chào bạn,

Nghiên cứu về "Kháng Insulin và Tổn Thương Cơ Quan ở Bệnh Nhân Tăng Huyết Áp có Rối Loạn Glucose" tập trung vào mối liên hệ phức tạp giữa tăng huyết áp, rối loạn glucose và tình trạng kháng insulin, đồng thời xem xét tác động của chúng lên các cơ quan trong cơ thể. Nghiên cứu này giúp độc giả hiểu rõ hơn về cơ chế bệnh sinh của các bệnh lý tim mạch và chuyển hóa, từ đó có cái nhìn toàn diện hơn về việc phòng ngừa và điều trị.

Để hiểu sâu hơn về rối loạn glucose máu, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn nghiên cứu rối loạn glucose máu và yếu tố liên quan ở một số dân tộc tỉnh bắc kạn tại đây. Tài liệu này sẽ cung cấp thêm thông tin chi tiết về các yếu tố liên quan đến rối loạn glucose máu trong một bối cảnh cụ thể.