phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm 3 chƣơng Chƣơng 1: Cơ sở khoa học về việc khai thác sử dụng đất bãi bồi và đất mặt nước ven biển. Chƣơng 2: Thực trạng khai thác sử dụng vùng đất bãi bồi và đất mặt nước ven biển huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Chƣơng 3: Giải pháp tăng cường khai thác sử dụng vùng đất bãi bồi và đất mặt nước ven biển huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. 5 CHƢƠNG I CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ VIỆC KHAI THÁC SỬ DỤNG VÙNG ĐẤT BÃI BỒI VÀ ĐẤT MẶT NƢỚC VEN BIỂN 1.
Cơ sở khoa học của đề tài nghiên cứu 1. Cơ sở lý luận khai thác sử dụng vùng đất bãi bồi và đất mặt nước ven biển. Khái niệm về đất bãi bồi và đất mặt nước ven biển Đất bãi bồi và đất mặt nước ven biển có nguồn gốc là đất được hình thành do bồi tụ dưới sự tác động của quá trình sói mòn, rửa trôi và quá trình bồi lắng mà được hình thành lên, trong đó có phầnđất nổi và phần đất mặt nước nông có thể đưa vào phát triển sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, khai thác, nuôi trồng thủy sản. Đất bãi bồi được bồi tụ do quá trình chuyển dịch của đất từ đất liền, bắt đầu là các lớp đất bề mặt qua quá trình bị nước mưa, thiên nhiên sói mòn, rửa trôi thành dòng phù sa chảy xuống các dòng sông chảy ra biển rồi được lắng đọng, bồi tụ hình thành lên các vùng bãi bồi ven biển và ven các dòng sông.
Đất bãi bồi còn được bồi tụ từ quá trình phát triển phân huỷ xác của các thảm thực, động vật thành các chất hữu ở trên bề mặt các dòng sông lớn và vùng mặt nước ven biển được lắng tụ lâu ngày tạo lên. Nguồn gốc để hình thành lên đất bãi bồi và đất mặt nước ven biển có những đặc điển hình thành khác với đất đai bình thường. Đất đai thông thường được hình thành từ sự vận động của vỏ trái đất và phải trải qua quá trình phong hoá, chịu sự tác động của rất nhiều yếu tố của tự nhiên, thiên nhiên được hình thành lên phải trải qua hàng triệu, hàng nghìn năm. Còn đối với đất bãi bồi và đất mặt nước được hình thành lắng tụ từ kết quả của quá trình bị nước mưa, thiên nhiên sói mòn, rửa trôi đất liền rồi được bồi lắng với quá trình chỉ với thời gian ngắn vào khoảng vài, ba chục năm các vùng đất mới đã được hình thành.
Quá trình hình thành này là kết 6 quả của quá trình phá hủy các vùng đất cũ của thiên nhiên. Thời gian hình thành các vùng đất mới ngắn hơn rất nhiều lần so với quá trình đất phong hoá. Từ những vấn đề trên, có thể hiểu rằng: Đất bãi bồi và đất mặt nước ven biển là loại đất được hình thành do bồi tụ dưới sự tác động của quá trình rửa trôi và quá trình bồi lắng mà thành, trong đó đất mặt nước là phần đất ngập nông và đất bãi bồi là phần đất có sự tác động trực tiếp của biển. Phạm Văn Khôi (2014), Sử dụng bền vững tài nguyên nước và đất cho sản xuất nông nghiệp vùng đất bãi bồi ven biển Đồng bằng sông Hồng, Đề tài khoa học công nghệ cấp Bộ.
Trên thực tế, đất bãi bồi và đất mặt nước ven biển qua quá trình cải tạo, khai thác sử dụng của con người nó đã dần trở thành đất nội đồng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, cho hoạt động phát triển kinh tế- xã hội. Vì nhờ hoạt động sáng tạo thông qua lao động sản xuất sự tác động vào tự nhiên của con người đất bãi bồi và đất mặt nước ven biển đã được cải tạo phục vụ cho hoạt động phát triển sản xuất cao hơn. Các yếu tố tự nhiên, thiên nhiên và biển đã được hạn chế nhiều sự ảnh hưởng đến các vùng đất bãi bồi này. Ở trường hợp này, đất được gọi là đất có nguồn gốc từ đất bãi bồi và đất mặt nước ven biển.
Trong trường hợp của một địa phương nào đó, đất bãi bồi và đất mặt nước ven biển ở thời điểm xem xét là đất được bồi tụ, có vị trí ven biển và đang chịu sự tác động trực tiếp của biển. Đất bãi bồi và đất mặt nước ở phía trong đê biển là đất ở các địa phương đã được xây dựng đê bao ven biển. Đất bãi bồi và đất mặt nước phải chịu ảnh hưởng của sự tác động trực tiếp của biển là những địa phương chưa xây dựng được các đê bao ven biển. Vai trò của đất bãi bồi và đất mặt nước ven biển đối với sản xuất nông nghiệp.
Đất bãi bồi và đất mặt nước ven biển là những vùng đất mới được hình thành sau so với các vùng đất khác. Đó là những vùng đất hoang hoá hoặc những vùng đất mới được đưa vào hoạt động. So với các loại đất thông thường, đất bãi bồi và mặt nước ven biển có số lượng và diện tích nhỏ hơn rất nhiều. Trên thực tế chúng lại giữ 7 vai trò, vị trí hết sức không quan trọng trong các loại đất.
Chính vì vậy, vai trò của đất bãi bồi và đất mặt nước ven biển được khai thác sử dụng thay đổi theo thời gian và được khai thác sử dụng trong những điều kiện cụ thể: Thứ nhất là, đất bãi bồi và đất mặt nước ven biển do có đặc điểm là những vùng đất sơ khai, hoang sơ, ban đầu việc khai thác là rất khó khăn, cần phải đượ đầu tư cải tạo, cần phải được đầu tư nguồn lực, xây dựng cơ sở hạ tầng để hạn chế tối đa sự tác động tiêu cực của thiên nhiên. Vì vậy, khai thác đất bãi bồi và mặt nước ở thời điểm bắt đầu khai thác trong trạng thái đất còn hoang sơ cần phải được khai phá, cải tạo tự nhiên đến tập trung khai thác. Trong quá trình khai thác phải từng bước phát triển khai thác từ quảng canh đến khai thác thâm canh. Trình độ khai thác đất bãi bồi và đất mặt nước ven biển càng phát triển thì vai trò của chúng cũng tăng lên do tăng kết quả và hiệu quả của khai thác.
Ban đầu, đất bãi bồi và đất mặt nước được khai thác dưới dạng tự nhiên do nguồn lực bị hạn chế và khi được đầu tư lớn nguồn lực thì quá trình khai thác sử dụng mới được tập trung. Trong điều kiện của sản xuất hàng hoá của nền kinh tế thị trường, khi các yếu tố sử dụng đất được gắn với các yếu tố khai thác các lợi thế so sánh, khi yếu tố an ninh lương thực đã được giải quyết cơ bản thì tiềm năng lợi thế của vùng đất bãi bồi và đất mặt nước tạo ra sự thu hút mới về đầu tư trong lĩnh vực phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, khai thác, nuôi trồng thuỷ sản, khai thác dịch vụ và du lịch. Trên thực tế, khi các điều kiện cho phép quá trình khai thác đất bãi bồi và mặt nước ven sông, ven biển cho nuôi trồng thuỷ sản được thực hiện thì quy mô và tốc độ khai thác diễn ra hết sức nhanh chóng. Quá trình khai thác đất bãi bồi và đất mặt nước ven biển từ hoang sơ đến quá trình phát triển chuyển dịch cơ cấu cây trồng con vật nuôi ở các địa phương ven biển trong cả nước, đặc biệt là ở các địa phương vùng Đồng bằng sông Hồng, miền Tây Nam Bộ trong những năm qua là những thực tế rõ nét nhất về sự chuyển đổi vai trò, vị trí của đất bãi bồi và đất mặt nước ven biển.
Thứ hai là, về thời điểm khai thác, vị trí và vai trò của đất bãi bồi và đất mặt 8 nước ven biển có các biểu hiện khác nhau. Một xu hướng vận động phổ biến là: quỹ đất cho sản xuất nông nghiệp ngày càng bị co hẹp do quá trình phát triển phi nông nghị và quá trình đô thị hoá, trong khi nguồn lao động giản đơn ngày càng dôi dư do dân số tăn nhanh. Vì vậy, việc khai mở thêm các vùng đất mới, trong đó có đất bãi bồi và đất mặt nước ven biển là việc làm rất quan trọng và cấp bách. Chính vì thế, trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội vị trí, vai trò tầm quan trọng của đất mặt nước ven biển và đất bãi bồi ngày một tăng cao.
Nước ta trong những năm chưa đổi mới nguồn lực khó khăn việc khai thác những vùng đầm ven biển được thực hiện trong điều kiện thủ công có kết quả năng suất thấp. Sau khi được Đảng và Nhà nước đổi mới cơ chế áp nền kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa, dòng đầu tư về nguồn lực, áp dụng công nghệ khoa học tiên tiến. Hoạt động khai thác sử dụng, nuôi trồng thủy sản đã được chuyển dịch từ hoạt động quảng canh sang, các hình thức đầu tư thâm canh, năng suất và hiệu quả tăng cao. Thứ ba là, mục tiêu và điều kiện của khai thác sử dụng khác nhau cũng sẽ làm thay đổi vị trí, vai trò của đất bãi bồi và đất mặt nước ven biển.
Điều kiện và mục tiêu sử dụng, khai thác đất đai thường phải thống nhất với nhau. Nó có sự ảnh hưởng rất quan trọng đến kết quả, hiệu quả của quá trình khai thác và sử dụng đất đai. Vì thế, nó làm cho vị trí vai trò nói chung của đất đai và đất bãi bồi và đất mặt nước ven biển có biểu hiện khác nhau. Khi khai thác đất mặt nước và đất bãi bồi ven biển trong điều kiện còn hạn chế, mục tiêu khai thác ban đầu nhằm giải quyết vấn đề lương thực thì vai trò của đất bãi bồi và đất mặt nước ven biển còn biểu hiện một cách khiêm tốn.
Bởi vì, khi khai thác đất bãi bồi phục vụ cho nhiệm vụ sản xuất lúa thì phải trải qua thời gian dài và hiệu quả thấp, thậm chí không thực hiện được. Nhưng, khi điều kiện khai thác có sự thay đổi, nhất là khi chuyển đổi từ việc khai thác cho sản xuất lúa kém hiệu quả sang mô hình sản xuất nuôi trồng thuỷ sản thì vị trí của vùng đất này được thay đổi và được biểu hiện rõ nét của các mặt như: tạo khối lượng nông sản có giá trị kinh tế cao, đáp ứng nhu cầu ở trong nước và xuất khẩu ngày càng tăng về số 9 lượng và chất lượng nông sản thủy sản, góp phần quan trọng vào tăng nguồn thu ngân sách Nhà nước, giải quyết các vấn đề xã hội như tạo ra nhiều công việc làm, xóa đói giảm nghèo, giữ vững ổn định trật tự, an toàn xã hội, an ninh chính trị và xây dựng nông thôn mới, 1.