Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Thuật ngữ răng khôn hàm dưới mọc lệch, ngầm Thuật ngữ răng khôn hàm dưới (RKHD) được dùng để chỉ răng cối lớn thứ ba hàm dưới, là răng mọc trễ nhất và có mức độ lệch cao nhất so với các răng còn lại trên cung hàm [12]. Theo Ủy ban Phẫu thuật miệng của Mỹ năm 1971 [6]: - Răng mọc chìm: là răng không mọc một phần hoặc hoàn toàn do vướng răng khác bên cạnh, xương ổ hay mô mềm ngăn cản sự mọc lên của răng đó. - Răng mọc lệch: là răng đã mọc nhưng nằm ở tư thế bất thường trên hàm, do không đủ chỗ trên cung hàm hoặc do di truyền. - Răng không mọc: là răng không xuyên qua được niêm mạc miệng sau khi đã qua thời kỳ mọc.
Một số định nghĩa khác [6]: - Răng ngầm trong xương: là răng nằm hoàn toàn trong xương. - Răng ngầm dưới niêm mạc: phần lớn thân răng đã mọc ra khỏi xương, nhưng vẫn bị niêm mạc bao bọc một phần hay toàn bộ. - Răng kẹt: một phần thân răng đã mọc ra khỏi xương nhưng bị kẹt không thể mọc thêm được nữa.2 Quá trình và nguyên nhân hình thành răng khôn hàm dưới 1.1 Quá trình hình thành Mầm RKHD có chung thừng liên bào với răng cối lớn thứ nhất và thứ hai. Từ tuần lễ thứ 16 bào thai, từ bó tự do phía xa của lá răng nguyên thủy cối sữa thứ hai, xuất hiện một dây biểu bì.
Đó là nụ biểu bì của mầm răng cối lớn vĩnh viễn thứ nhất. Sau đó dây biểu bì vẫn tiếp tục phát triển lan về phía xa, cho nụ 4 biểu bì răng 7 vào khoảng tháng thứ 9 của bào thai. Cuối cùng nụ biểu bì của RKHD được hình thành khoảng 4-5 tuổi [6]. Quá trình hình thành và phát triển của RKHD cũng trải qua các giai đoạn tương tự các răng khác.
Giai đoạn hoàn thiện thân răng và calci hóa lúc khoảng 12-15 tuổi, giai đoạn hoàn thiện chân răng khoảng 18-25 tuổi [6]. Quá trình phát triển của cành lên xương hàm dưới bị lùi về phía xa. Vì vậy mầm RKHD cũng bị xoay chuyển theo ở giai đoạn hình thành thân răng từ 4- 13 tuổi. Thời kỳ hình thành chân răng, thân răng xoay dần đứng ở phía xa răng 7 để mọc.
Quá trình này có nhiều yếu tố tác động đến, vì vậy mà RKHD có thể không mọc được ở vị trí bình thường và thẳng đứng như các răng khác. Chúng có thể mọc lệch, lạc chỗ, kẹt, thậm chí không mọc lên được [6].2 Nguyên nhân răng khôn hàm dưới mọc lệch, ngầm Nguyên nhân tại chỗ - Do mầm răng không đủ các yếu tố để mọc: không có cơ quan tạo men, không có dây chằng Sharpey, … [6]. - Do niêm mạc và mô mềm phủ trên xương quá dày, quá chắc làm răng không mọc lên được [6], [12]. - Do RKHD mọc khoảng từ 18 đến 25 tuổi, là những răng mọc sau cùng khi xương hàm không còn tăng trưởng, đồng thời lúc này xương đã trưởng thành có độ cứng cao, vì vậy răng khôn thường bị lệch và ngầm [12].
Nguyên nhân toàn thân - Do các bệnh gây rối loạn quá trình tăng trưởng xương hàm và quá trình mọc răng: loạn sản xương, giang mai, suy dinh dưỡng, … [12]. - Do những dị tật bẩm sinh vùng hàm mặt hoặc một số bệnh lý làm rối loạn hoặc kém phát triển sọ mặt [6]. - Yếu tố chủng tộc: người châu Âu có kích thước hàm lớn hơn người châu Á nên tỷ lệ này cũng thấp hơn người châu Á [12].3 Đặc điểm hình thái và phân loại răng khôn hàm dưới 1.1 Đặc điểm hình thái của răng khôn hàm dưới Theo Mai Đình Hưng tổng kết từ 6/1971-10/1972 tại khoa Răng Hàm Mặt bệnh viện Bạch Mai thì răng 8 lệch gần chiếm tỷ lệ cao nhất 69,9%, trong khi đó răng 8 mọc thẳng bình thường chỉ chiếm 13,5%. Đến năm 1991, báo cáo trên 72 sinh viên răng hàm mặt ở Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh cho thấy: RKHD lệch gần chiếm 43,2% và răng mọc thẳng chỉ chiếm 6,8% [6].
Nghiên cứu của Lưu Văn Hồng năm 2006 trên 2650 bệnh nhân (BN) tại bệnh viện Việt Nam-Cu Ba cho thấy RKHD có trục lệch gần chiếm 44,0%, ngầm trong xương chiếm 2,0% và trục răng thẳng chiếm 34,0% [6]. Lê Anh Chiến, Nguyễn Mạnh Hà nghiên cứu trên 206 BN với 393 RKHD qua phim toàn cảnh cho thấy có 55,6% lệch gần, mọc ngầm chiếm 1,9% và mọc thẳng chiếm 34,4% [6]. Nghiên cứu của Hoàng Việt Hải (2016) [8] trên 126 BN tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội ghi nhận: răng khôn mọc lệch gần chiếm 64,29%, trong đó tỷ lệ chân răng cong là 53,97%, đa số có 2 chân răng 60,32%. Nguyễn Thị Bảo Ngọc (2014) [17] thực hiện nghiên cứu trên 337 phim toàn cảnh lứa tuổi từ 17 đến 25 với sự hiện diện của 674 răng khôn tại Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh ghi nhận 50,4% răng nghiêng gần, vị trí B chiếm đa số với 55,8%.2 Phân loại răng khôn hàm dưới mọc lệch, ngầm RKHD có thể mọc một phần hay mọc hoàn toàn trong miệng.
Lệch lạc RKHD rất đa dạng trên lâm sàng, có thể được phân loại dựa vào thăm khám lâm sàng, hình ảnh X quang hay phương pháp phẫu thuật. Mục đích chính để tiên lượng và vạch ra kế hoạch điều trị thích hợp cho từng trường hợp cụ thể. 6 Phân loại răng khôn hàm dưới theo Pell-Gregory (1933), Archer (1975) và Kruger (1984) [6], [12], [34] - Dựa vào tương quan giữa khoảng cách từ mặt xa răng 7 đến bờ trước cành đứng xương hàm dưới (a) và chiều dài gần xa thân RKHD (b): + Loại I: a > b: phía xa răng 7 có đủ khoảng cho phép răng khôn có thể mọc lên hoàn toàn nếu hướng mọc thích hợp. + Loại II: a < b: khoảng cách giữa răng 7 và cành đứng quá nhỏ không cho phép răng khôn mọc hoàn toàn.
+ Loại III: a rất nhỏ hoặc bằng 0: phần lớn hoặc toàn bộ thân răng khôn nằm hoàn toàn trong cành đứng. - Dựa vào độ sâu của RKHD so với răng 7: + Vị trí A: điểm cao nhất của RKHD nằm ngang hay cao hơn so với mặt nhai răng 7. + Vị trí B: điểm cao nhất của RKHD nằm ở khoảng giữa của mặt nhai và cổ răng 7. + Vị trí C: điểm cao nhất của RKHD nằm thấp hơn cổ răng 7.1: Phân loại răng khôn hàm dưới theo Pell-Gregory.
(Nguồn: Oral Surgery, pp. 126 [34]) 7 - Dựa vào vị trí của trục RKHD so với trục răng 7: trục RKHD thẳng, nằm ngang, lệch gần, lệch xa, lệch về phía má (lệch ngoài), lệch về phía lưỡi (lệch trong), lộn ngược.2: Phân loại răng khôn hàm dưới theo Archer và Kruger. (Nguồn: Oral Surgery, pp. 126 [34]) Phân loại răng khôn hàm dưới theo Montero (2011) [44] - Dựa vào tương quan giữa RKHD theo chiều ngang và chiều sâu với răng 7 và cành đứng xương hàm dưới, chia làm 2 loại: + Răng khôn vị trí nông.
+ Răng khôn vị trí sâu. Phân loại hình dáng chân răng theo J.C Donesnard (1977) [2] - Chân loại 1: chân hội tụ, đường kính chân răng nhỏ hơn thân. - Chân loại 2: chân cong xuôi chiều bẩy. - Chân loại 3: răng lệch gần chân ngược chiều (cong về phía gần).
- Chân loại 4: hai chân răng cong ngược chiều. - Chân loại 5: đường kính chân răng to hơn thân răng (răng hình khối). - Chân loại 6: răng nhiều chân phân kỳ. 8 Phân loại theo mức độ khó nhổ [6] Để đánh giá và tiên lượng mức độ khó nhổ của RKHD, Pederson (1988) dựa vào 4 tiêu chí sau: Bảng 1.1: Phân loại theo mức độ khó nhổ của Pederson Điểm Tương quan với cành đứng Loại I 1 Loại II 2 Loại III 3 Tương quan theo độ sâu Vị trí A1 1 Vị trí A2 2 Vị trí B 3 Vị trí C 4 Trục răng Lệch gần hay thẳng ở vị trí A 1 Răng nằm ngang hay lệch má, lưỡi hay xa ở vị trí A 2 Răng đứng thẳng ở vị trí B hoặc C 3 Răng lệch xa ở vị trí B hoặc C 4 Chân răng Một chân răng hay nhiều chân chụm thon, xuôi chiều bẩy 1 Hai chân dang xuôi chiều hay một chân có phần chóp mảnh 2 Ba chân dang xuôi chiều, một hay nhiều chân chụm ngược 3 chiều, một chân to hay mảnh cong kiểu móc câu Hai hay nhiều chân dang ngược chiều nhau 4 Thang điểm đánh giá mức độ khó nhổ như sau: - Khó nhổ: từ 1 đến 5 điểm.
- Khó nhổ trung bình: từ 6 đến 10 điểm. - Rất khó: từ 11 đến 15 điểm. 9 Phân loại theo quan điểm phẫu thuật của Parant (1981) [6], [12] Parant phân phẫu thuật RKHD ra làm 4 loại: - Loại I: chỉ cần mở rộng một phần xương tạo điểm tựa cho bẩy bằng cách khoan một rãnh ở mặt ngoài gần răng 8. Chỉ định: RKHD mọc lệch gần, kẹt răng 7, hai chân tách rời nhưng thuôn và thuận chiều bẩy hoặc chân răng chụm và cong xuôi chiều bẩy.3: Phẫu thuật răng khôn hàm dưới loại I theo Parant.
(Nguồn: Oral Surgery, pp. 130-131 [34]) - Loại II: cần mở một phần xương ổ răng và cắt cổ răng. Chỉ định: + RKHD lệch gần ngang, thấp, kẹt răng 7, chân chụm thẳng hay cong. + RKHD ngầm đứng, nằm chìm sâu, chân răng chụm to hay hai chân cong.
+ RKHD chìm sâu, lệch xa hay răng nằm ngang. + RKHD lệch về phía lưỡi.4: Phẫu thuật răng khôn hàm dưới loại II theo Parant. (Nguồn: Oral Surgery, pp. 133-135 [34]) 10 - Loại III: cần mở xương ổ răng, cắt cổ răng và chia chân.
Chỉ định: + RKHD kẹt, hai chân RKHD choãi ngược chiều nhau. + RKHD chìm, nằm ngang, hai chân choãi ngược chiều nhau. + RKHD kẹt, hai chân choãi ngược chiều nhau, chân răng nhỏ. + RKHD kẹt, hai chân cong ngược chiều bẩy.5: Phẫu thuật răng khôn hàm dưới loại III theo Parant.
(Nguồn: Oral Surgery, pp. 137-139 [34]) - Loại IV: những răng nhổ khó cần mở xương, chia cắt răng tùy trường hợp + RKHD nằm thấp sát răng 7 đứng một mình do mất răng 6. + RKHD nhiều chân, mảnh, choãi ra theo nhiều hướng khác nhau khó xác định trên phim X quang. + RKHD to, kích thước chân răng lớn hơn kích thước thân răng.
+ RKHD lệch gần ít nhưng rất thấp. + RKHD nằm ngay trên ống răng dưới hay ống răng dưới nằm giữa hai chân răng, chân răng cong ôm lấy ống răng dưới hoặc chân răng dính vào xương ổ.4 Chỉ định, chống chỉ định và ảnh hưởng của phẫu thuật răng khôn hàm dưới mọc lệch, ngầm lên tình trạng mô nha chu 1.