ĐẶT VẤN ĐỀ Răng khôn hay còn gọi là răng hàm lớn thứ 3 hay răng số 8, là chiếc răng mọc cuối cùng trên cung hàm ở độ tuổi trưởng thành 18 – 25 tuổi. Do vị trí giải phẫu đặc biệt và mọc lúc xương hàm không còn phát triển, răng không đủ chỗ để mọc nên thường mọc lệch, mọc ngầm gây ra một số biến chứng như sâu phía xa răng hàm lớn thứ 2, viêm quanh thân răng, viêm mô tế bào, viêm tổ chức liên kết, viêm xương, viêm hạch … ảnh hưởng tới sức khỏe người bệnh.[1] Một nghiên cứu về các biến chứng liên quan đến răng khôn hàm dưới mọc lệch ngầm cho thấy có 35,6 tiêu xương ổ răng, 19,5 viêm lợi trùm, 18,4 viêm quanh thân răng, 14,94 sâu răng hàm lớn thứ hai, 11,5 sâu răng khôn.[2] Một nghiên cứu khác cho t lệ về các biến chứng do mọc RKHD đưa ra kết quả 48,84 viêm quanh thân răng, 30,23 sâu răng hàm lớn thứ hai, 6,98 sâu răng khôn.[3] Do sự đa dạng về hình thái, giải phẫu, vị trí, kích thước và liên quan tương đối phức tạp với các tổ chức xung quanh nên việc chẩn đoán, tiên lượng và điều trị răng khôn hàm dưới, đặc biệt là những răng lệch ngầm gặp rất nhiều khó khăn. Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học kĩ thuật, ngoài việc dựa trên thăm khám lâm sàng, các bác sĩ đã sử dụng chụp phim Xquang để hỗ trợ trong chẩn đoán và lập kế hoạch điều trị. Các phim X-quang thường dùng như: phim cận chóp, phim panorama, phim Conebeam CT.
Phim cận chóp được sử dụng trong nhiều năm, đặc biệt là kĩ thuật chụp cận chóp song song được lựa chọn do giảm liều phóng xạ, độ phóng đại ít hơn.[4] Tuy nhiên, nhược điểm lớn của phim cận chóp là không thể đánh giá trên phạm vi rộng. Điều này được khắc phục trên phim toàn cảnh với phạm vi bao phủ rộng. Nhưng nhược điểm chính của phim toàn cảnh là độ phân giải hình ảnh thấp hơn, độ biến dạng cao và sự hiện diện của hình ảnh ảo hay chồng bóng các cấu trúc, làm che lấp các cấu trúc quan trọng. Ngoài ra, hai loại phim này chỉ có thể quan sát hình ảnh 2 chiều nên không thể đánh giá chính xác tương quan 2 RKHD với các cấu trúc xung quanh, đặc biệt là ống thần kinh răng dưới.[5] Phim Conebeam CT ra đời không những đánh giá chính xác vị trí, hình dạng, hướng thân răng, số lượng và hình dáng chân răng mà còn cho phép xác định chính xác các tương quan của răng khôn với các cấu trúc giải phẫu liên quan theo 3 chiều không gian, đặc biệt là tương quan với ống thần kinh răng dưới.[6] Ghaeminia và Matzen đã đánh giá vai trò của CBCT trong điều trị người bệnh có răng khôn hàm dưới bị kẹt có nguy cơ cao bị tổn thương dây thần kinh răng dưới.
Sau khi xem xét các hình ảnh CBCT, nhiều đối tượng đáng kể đã được phân loại lại thành nguy cơ tổn thương thần kinh răng dưới thấp hơn so với các đánh giá X quang toàn cảnh.[6], [7] Do đó, phim Conebeam CT giúp các bác sĩ có thể tiên lượng và đưa ra kế hoạch điều trị chính xác. Trên thế giới cũng như ở Việt Nam cũng đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến răng khôn hàm dưới. Tuy nhiên vẫn chưa có nhiều nghiên cứu khảo sát mối tương quan giữa lâm sàng và đặc điểm của răng khôn hàm dưới trên Conebeam CT. Chính vì vậy, nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả cho chẩn đoán, tiên lượng và điều trị cũng như góp phần vào cơ sở dữ liệu phục vụ giảng dạy và nghiên cứu, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: ―Đặc điểm lâm sàng và hình thái trên Conebeam CT của ngƣời bệnh có răng khôn hàm dƣới gây biến chứng‖ với 2 mục tiêu: 1.
Nhận xét đặc điểm lâm sàng và hình thái trên Conebeam CT của người bệnh có răng khôn hàm dưới gây biến chứng. Phân tích mối tương quan giữa lâm sàng và hình thái răng khôn hàm dưới trên Conebeam CT của nhóm người bệnh trên. 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Răng khôn hàm dƣới 1.
Sự hình thành và phát triển của răng khôn hàm dưới Răng khôn hàm dưới (RKHD) có chung thừng liên bào với răng hàm lớn thứ nhất và thứ hai. Vào tuần lễ thứ 16 bào thai, từ bờ tự do phía xa của lá răng nguyên thủy hàm sữa thứ 2 xuất hiện một dây biểu bì. Đó là nụ biểu bì của mầm răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất. Sau đó dây biểu bì tiếp tục phát triển về phía xa và cho nụ biểu bì của răng hàm lớn vĩnh viễn thứ hai vào tháng thứ 9 của bào thai.
Cuối cùng nụ biểu bì của răng hàm lớn thứ 3 được hình thành khoảng 4 -5 tuổi.[1], [8] Như vậy, các nụ biểu bì răng hàm lớn vĩnh viễn không phát sinh trực tiếp từ lá răng mà hình thành từ đoạn phát triển kéo dài về phía xa của lá răng nguyên thủy. Mỗi nụ biểu bì của răng hàm lớn vĩnh viễn đều lần lượt xuất hiện ở giữa mặt xa của mầm răng kế cận và cành lên xương hàm dưới (XHD). Quá trình hình thành và phát triển của RKHD cũng phải trải qua các giai đoạn giống như các răng vĩnh viễn khác. Răng bắt đầu canxi hóa vào lúc 8-9 tuổi và hoàn tất sự canxi hóa thân răng vào năm 12-15 tuổi, chân răng vào lúc 18- 25 tuổi.[9] RKHD khi mọc lên chuyển động theo hướng từ sau ra trước và sự mọc răng nằm theo một đường cong lõm phía sau.
Mặt khác, do sự phát triển của cành lên, XHD bị đẩy lùi về phía xa. Vì vậy mầm RKHD cũng bị xoay chuyển theo ở giai đoạn hình thành thân răng từ 4-13 tuổi, khiến răng mọc có tư thế lệch gần góc là hay gặp nhất. Ngoài ra, quá trình này chịu sự tác động của nhiều yếu tố vì vậy mà răng khôn có thể không mọc được ở vị trí bình thường và thẳng đứng như các răng khác, nó thường bị mọc lệch, kẹt, ngầm một phần và thậm chí ngầm hoàn toàn trong xương, không mọc lên được. Từ đó, RKHD thường gây nhiều biến 4 chứng tại chỗ hay toàn thân, ảnh hưởng đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống của người bệnh, nên hay có chỉ định nhổ bỏ.
Mối liên quan của răng khôn hàm dưới với các cấu trúc giải phẫu lân cận Liên quan trực tiếp - Phía trƣớc: RKHD thường đứng ở cuối cùng của hàm dưới, kế cận với mặt xa của răng hàm lớn thứ hai. - Phía sau: liên quan ở sau với bờ trước cành lên XHD, có khoảng tam giác hậu hàm (phía sau). Tam giác hậu hàm còn gọi là hố phía sau xương ổ răng, đây là vùng gồ ghề đôi khi cong lõm lên trên, được tổ chức biểu mô lợi có nhiều collagen bao phủ. Đáy tam giác hậu hàm tạo bởi xương ổ răng và răng hàm lớn thứ 2, đỉnh của tam giác hậu hàm tạo bởi sự kéo dài của gờ chéo trong và chéo ngoài của XHD chập lại tạo thành bờ trước cành lên XHD.
Điểm đáng chú ý là chỗ giao nhau của cành lên XHD với mặt xa của răng hàm lớn thứ hai, tam giác hậu hàm ở đây có xu hướng hẹp lại, do đó thân răng thường bị kẹt một phần ở cành lên XHD. Nếu khoảng tam giác hậu hàm này đủ rộng, RKHD có thể mọc lên mà không bị kẹt. Như vậy, khoảng cách từ mặt xa răng hàm lớn thứ hai tới bờ trước cành lên XHD (tính theo chiều trước – sau) là một yếu tố quan trọng trong việc mọc và xác lập tình trạng của RKHD. Đây cũng là một trong những tiêu chí hàng đầu để xem xét đánh giá việc bảo tồn hay nhổ RKHD khi nó bị lợi che phủ và gây biến chứng.
- Phía trong: qua lớp xương mỏng, liên quan đến thần kinh lưỡi. - Phía ngoài: liên quan với một lớp xương dày. - Phía dƣới: liên quan với ống răng dưới, ống răng dưới có chứa mạch máu và thần kinh, chân răng có thể nằm sát ống răng dưới. Một nghiên cứu trên 1296 RKHD cho thấy: 88,1 ống thần kinh răng dưới nằm ở phía chóp răng, tiếp theo là phía ngoài 7,9%, phía trong 3,5%, giữa các chân răng là 0,5%.[10] Mối quan hệ gần gũi này có nguy cơ gây tổn thương dây thần kinh răng hàm dưới trong các thủ thuật nha khoa, đặc biệt là nhổ răng hàm lớn thứ 5 ba hàm dưới.[11] Tỉ lệ tổn thương dây thần kinh răng dưới khi nhổ RKHD từ 0,4 – 0,6%.[12], [13], [14] Phân loại tương quan chân RKHD và OTKRD theo Parant gồm[15]: Vị trí 1: OTKRD chạy về phía dưới chóp hoặc phía má so với RKHD và không bị gián đoạn Vị trí 2: OTKRD chạy về phía lưỡi so với RKHD và không bị gián đoạn Vị trí 3: OTKRD chạy về phía dưới chóp hoặc phía má so với RKHD và chạm vào răng Vị trí 4: OTKRD chạy về phía dưới lưỡi so với RKHD và chạm vào răng Vị trí 5: OTKRD chạy giữa các chân răng và không chạm vào chân răng Vị trí 6: OTKRD chạy giữa các chân răng và chạm vào chân răng Vị trí 7: Chân RKHD bọc quanh OTKRD Liên quan gián tiếp - Phía trước ngoài: liên quan với tiền đình miệng và má.
- Phía trước trong: liên quan với sàn miệng. - Phía sau trên: liên quan với trụ trước vòm miệng và hố chân bướm hàm. - Phía sau ngoài: liên quan với khối cơ nhai ở thấp và hố thái dương ở cao. Nguyên nhân răng khôn hàm dưới mọc lệch, ngầm Nguyên nhân tại chỗ Có nhiều yếu tố liên quan tới quá trình mọc răng như mầm răng, xương ổ răng, niêm mạc lợi, sự phát triển của sọ mặt.
[17] Mầm răng không có đủ các yếu tố để mọc Thân răng mọc lên chủ yếu do hai yếu tố: Sự phát triển của tủy răng và quá trình khoáng hóa đầy đủ. Quá trình phát triển tủy răng làm nở rộng đầu buồng tủy và tăng lượng máu tưới vào buồng tủy. Do vậy, một số yếu tố sau có thể làm cho răng mọc lệch, mọc ngầm: Răng có hình thái bất thường: Bất thường ở cả thân răng và chân răng mà nguyên nhân thường do các chấn thương trước đó. 6 - Răng nằm ở các vị trí bất thường do: + Nhổ răng sữa sớm.
+ Các răng kế bên nghiêng. + Mất tương quan về vị trí giữa mầm răng sữa và mầm răng vĩnh viễn trong quá trình mọc răng sữa. - Quá trình mọc răng bị rối loạn do có thêm các yếu tố phát triển như u răng, răng thừa, nang quanh thân răng. Những vật cản này sẽ tạo nên một lực cản trở quá trình mở rộng của buồng tủy, dẫn đến tình trạng vi xung huyết và thoát huyết thanh.