Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. SƠ LƯỢC GIẢI PHẪU VÀ SINH LÝ AMIĐAN KHẨU CÁI 1. Vòng Waldeyer Henrich von Waldeyer, nhà giải phẫu học người Đức là người đầu tiên mô tả một cách hệ thống các khối mô lympho ở thành sau họng mũi và họng miệng liên kết với nhau tạo nên một vòng lympho khép kín mang tên vòng Waldeyer. Vòng bạch huyết Waldeyer (Nguồn: J Clin Diagn Res, 2015 [44]) - Amiđan họng/hạnh nhân hầu: chỉ có một nằm ở vòm họng và có thể phát triển theo thành sau họng mũi, còn gọi là amiđan vòm hay VA (Vegetations Adenoid).
- Amiđan vòi/hạnh nhân vòi: là một cặp bên phải và bên trái, nằm quanh lỗ vòi Eustachia trong hố Rosenmuller. - Amiđan lưỡi/hạnh nhân lưỡi: chỉ có một nằm ở đáy lưỡi [8]. 4 - Amiđan khẩu cái: là một cặp bên phải và bên trái, nằm ở hai phía bên họng miệng, giữa trụ trước (cung khẩu cái lưỡi) và trụ sau (cung khẩu cái hầu). Một số tác giả cho rằng các hạnh nhân ở vòng Waldeyer có tác dụng tiêu diệt vi trùng do niêm mạc của mũi và họng chặn lại.
Thực ra, những tế bào đơn nhân do hạnh nhân sản xuất có khả năng thực bào rất ít. Chính những bạch cầu thoát ra ngoài từ mao mạch và lẫn lộn với những tế bào đơn nhân mới là lực lượng chủ yếu diệt vi trùng [34], [50]. Cấu trúc của Amiđan Amiđan khẩu cái, thường gọi tắt là amiđan, gồm 2 khối mô lympho lớn nhất trong vòng Waldeyer ở hai bên họng miệng. - Hốc amiđan: là nơi amiđan khẩu cái nằm gọn giữa các khung khẩu cái lưỡi và khẩu cái hầu, do đó cần nắm vững giải phẫu và liên quan của amiđan để thực hiện đúng và tốt thủ thuật, tránh các tai biến.
Các hốc amiđan như những hầm ngầm từ bên mặt đi sâu vào nhu mô amiđan đến tận bao. Có khoảng 10 - 30 hốc cho mỗi bên amiđan. Các hốc làm tăng diện tiếp xúc bề mặt của amiđan và cho phép biểu mô dễ tiếp cận được các nang lympho. Về mặt lâm sàng, các hốc chính là nơi ứ đọng cặn thức ăn, mảnh vỡ của tế bào, vi khuẩn cư trú.
- Thành trước: tạo bởi trụ trước, mỏng, có cơ màn hầu – lưỡi hay cơ trụ trước được bao phủ bởi niêm mạc. Trụ trước đi từ phía ngoài của lưỡi gà, cách 15mm xuống dưới, hơi ra ngoài, xuống đến nếp lưỡi amiđan. Ở cực trên bờ trước của khối amiđan tương đối phân cách với trụ trước nên khi mở khuyết bóc tách amiđan khỏi hốc amiđan nên mở cao ở 1/3 trên cho dễ. Phía dưới khối amiđan dính vào trụ trước tạo với đáy lưỡi nếp tam giác Hiss [8], [9].
5 - Thành sau: tạo bởi trụ sau, có cơ màn hầu – hay cơ trụ sau, được bao phủ bởi niêm mạc, trụ sau đi từ bờ tự do của buồm hàm, gần như đi thẳng xuống dưới tiếp với thành bên của họng tạo nên cơ xiết họng giữa. Trụ sau cũng là một nếp mỏng nhưng dày hơn trụ trước và có lưới tĩnh mạch rất phong phú nên khi bóc tách trụ sau khỏi khối amiđan cần nhẹ nhàng vì dễ gây chảy máu, hơn nữa nếu cơ họng khẩu cái bị tổn thương có thể gây khó nói vì dính, cản trở hoạt động. - Thành bên: được đóng kín bởi các cơ khít họng, ngăn cách với khoang bên họng bởi cân giữa họng và cân quanh họng. Thành này rất quan trọng trong khi bóc tách khối amiđan khỏi hốc giữa vỏ bọc khối amiđan và lớp cân là tổ chức liên kết lỏng lẻo rõ rệt ở phía trên nên dễ bóc tách.
Một phần ba dưới khó khăn hơn khi gây tê vào quanh hốc amiđan để bóc tách sẽ thấy thuốc bơm vào đẩy khối amiđan vào trong và hơi xuống dưới dễ dàng. - Đỉnh: do hai trụ trước và trụ sau dính vào nhau tạo nên vòm hốc có nếp hình bán nguyệt. Hố trên amiđan lấn vào giữa khối amiđan và phần trên của trụ trước. Đôi khi cực trên của amiđan phát triển vào hốc và bị che lấp nếu không lưu ý khi bóc lên cao phần đỉnh dễ bị bỏ sót.
- Đáy: giới hạn bên ngoài là rãnh amiđan lưỡi. Phía trước là trụ trước, phía sau là nếp họng thanh thiệt. Đôi khi amiđan chìm sâu xuống đáy, nhiều khe hốc có khi thành thùy nhỏ dính vào amiđan lưỡi làm bóc tách khó khăn vì phần tiếp cận với bó mạch, thần kinh ở buồng amiđan nếu không lưu ý khi cắt dễ bị bỏ sót, chảy máu phần lớn là do cắt sát amiđan phần còn lại ở cực dưới [8], [9]. - Khoang amiđan: giữa khối amiđan và hốc amiđan là khoang amiđan, khoang này là tổ chức liên kết lỏng lẻo gồm các sợi liên kết và sợi cơ, do đó có thể bóc tách được khối amiđan ra khỏi hốc amiđan dễ dàng, nhất là ở trẻ em.
Ở 6 người lớn do đã bị viêm amiđan nhiều lần, nhất là bị áp-xe quanh amiđan, các tổ chức liên kết bị xơ cứng, dính rất khó bóc tách. Ở đây còn có hệ thống lưới tĩnh mạch quanh hốc amiđan. Thủ thuật cắt amiđan nhằm bóc tách khối amiđan ra khỏi hốc amiđan quanh khoanh quanh amiđan, không được làm thương tổn đến các cơ (trụ trước, trụ sau và khít họng) và các cân cơ của thành hốc. Đặc biệt không được làm thương tổn và đi qua lớp cân quanh họng làm thông hốc amiđan với khoang bên họng nơi có các mạch và thần kinh quan trọng.
- Chân cuống amiđan và động mạch amiđan: amiđan có một cuống gần phía cực dưới ngoài với mạch máu chính của nó là động mạch amiđan (nhánh của động mạch khẩu cái lên). Trong thủ thuật phải chú ý đến cuống này, cầm máu cuống động mạch amiđan là một thì quan trọng của phẫu thuật. - Bao amiđan: amiđan nằm trong một vỏ bao bọc lấy 4/5 chu vi amiđan chỉ trừ mặt tự do là không có bao. Giữa mô amiđan và lớp cơ phía ngoài là mô lỏng lẻo, dễ bóc tách ở phía trên.
Đây là vị trí dễ phát sinh áp-xe quanh amiđan. - Nếp tam giác: là cấu trúc bình thường có từ trong bào thai. Nếp này không có mô cơ và phải lấy đi khi cắt amiđan. Nếu để lại có thể tạo nên túi ứ đọng chất bã, thức ăn kích thích mô lympho phát triển làm cho dày lên gây nhiễm khuẩn hoặc quá phát sau này [50].
Mạch máu, bạch huyết và thần kinh amiđan - Động mạch: + Động mạch cảnh trong và cảnh ngoài thường nằm ở phía sau mặt phẳng trán đi qua trụ sau. + Động mạch cảnh ngoài nằm ở phần trong, sâu sau của hố mang tai, đi từ dưới lên hơi cong vào trong, ở xa bên ngoài và sau cực dưới của amiđan khoảng 10 – 20mm, cách trụ sau 7-8mm. 7 Nuôi dưỡng amiđan là một hệ thống khá nhiều động mạch và đều là nhánh động mạch cảnh ngoài, phân chia làm 2 nhóm chính: - Nhóm ở cực dưới amiđan là quan trọng nhất, gồm có: + Động mạch mặt: sau khi uốn vòng cung cách cực dưới 10mm, sinh ra động mạch khẩu cái lên. Động mạch này cho nhánh amiđan và tưới máu cho thành bên họng.
Đôi khi động mạch amiđan xuất phát trực tiếp từ động mạch mặt. + Động mạch lưỡi: cũng có khi cho một nhánh đi tới amiđan. Tổn thương thường gặp hơn là do tổn thương động mạch mặt hoặc động mạch lưỡi vì chúng có thể đi sát cực dưới amiđan, còn động mạch cảnh trong ít bị tổn thương hơn vì nằm xa cực trên amiđan khoảng 1,5cm. Cần lưu ý khi bệnh nhân ngửa cổ và quay đầu, động mạch cảnh trong sẽ tiến sát vào trụ sau.
- Nhóm mạch cực trên amiđan gồm có: + Động mạch hàm trong: do nhánh động mạch khẩu cái xuống kèm với một nhánh cho amiđan. + Động mạch hầu lên: Cũng cho một nhánh tới amiđan. Các động mạch của amiđan vừa kể trên đều đi qua thành ngoài họng, tức là cơ khít họng để vào hố amiđan rồi vào amiđan qua cuống của nó. Tại amiđan, chúng làm thành một đám rối rồi vào amiđan qua cuống của nó.
Trong amiđan, chúng làm thành một đám rối rồi phân ra toàn amiđan qua các lớp mô liên kết. Vậy chảy máu amiđan có thể chảy từ hai hệ thống: + Hoặc của hệ thống từ hố vỏ amiđan sẽ chảy thành tia nhỏ sau khi cắt bóc tách theo đúng kỹ thuật và sẽ hết đi sau khi ép chặt tại chỗ. + Hoặc của hệ thống ở trong vỏ, sẽ chảy kiểu thấm rỉ khối amiđan bị rách hoặc cắt amiđan còn sót lại [8], [9]. Động mạch cung cấp máu cho amiđan (Nguồn: Otolaryngol Head Neck Surg, 2017 [34]) - Tĩnh mạch: + Đám rối quanh bao amiđan.
+ Tĩnh mạch cạnh amiđan rất quan trọng vì nó đi xuống từ khẩu cái mềm và đi qua thành bên của bao amiđan. Nó gần như luôn bị bóc tách khi cắt amiđan nên có thể gây chảy máu trầm trọng. - Bạch huyết: bạch mạch nhận bạch huyết ở amiđan rồi xuyên qua cân quanh họng đến nhóm hạch cổ sâu trên và đặc biệt đến nhóm hạch cảnh nhị thân. - Thần kinh: nhánh amiđan của dây thần kinh thiệt hầu cho cảm giác chủ yếu vùng amiđan.
Dây thần kinh khẩu cái nhỏ thuộc dây hàm dưới, nhánh của dây sinh ba (V) cho cảm giác ở phần trên của amiđan [9]. Liên quan của amiđan - Mặt trong của amiđan là mặt tự do và nhìn vào khoang trong họng. Khi nuốt các cơ họng co lại đẩy amiđan vào trong và quay về phía khoang miệng. 9 - Phía trước và sau amiđan liên hệ với cơ khẩu cái lưỡi và cơ khẩu cái hầu.
Một số sợi của cơ khẩu cái hầu làm nên hố amiđan. - Phía dưới amiđan dính với phần bên của lưỡi. - Phía trên amiđan có thể chui sâu vào khẩu cái mềm. - Phía ngoài hố amiđan liên hệ với cân họng (mạc nền hầu) và ở ngoài là cơ khít hầu trên ở phía trên và cơ trâm lưỡi ở dưới.
Dây thần kinh thiệt hầu đi chéo xuống dưới và ra trước ngay bờ dưới cơ khít hầu trên. Một tĩnh mạch rất lớn gọi là tĩnh mạch quanh amiđan hoặc tĩnh mạch khẩu cái ngoài đi từ màn hầu xuống băng qua mặt ngoài của hố amiđan trước khi xuyên qua thành họng đến đám rối họng. Tĩnh mạch này là nguyên nhân thường gặp gây chảy máu thứ phát sau cắt amiđan. Động mạch amiđan, là nhánh của động mạch khẩu cái lên, là động mạch cấp máu chủ yếu cho amiđan, xuyên qua cơ khít hầu trên trực tiếp đi đến amiđan có hai tĩnh mạch nhỏ đi kèm.
Xa hơn nữa, về phía ngoài ở phần dưới amiđan liên hệ với cơ nhị thân và tuyến dưới hàm.