Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU HỨNG THÚ HỌC TẬP CÁC MÔN CƠ SỞ CỦA SINH VIÊN KHOA SƯ PHẠM KỸ THUẬT TRƯỜNG CAO ĐẲNG NÔNG LÂM – BẮC GIANG 1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề. Các nghiên cứu ở nước ngoài về hứng thú Ở nước ngoài, các công trình nghiên cứu về hứng thú nói chung và hứng thú nhận thức nói riêng đã tiến hành từ rất sớm, trong đó có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học Mỹ, Thụy Sỹ, Đức, đặc biệt là các công trình nghiên cứu của các nhà Tâm lý học Xô Viết trước đây. John Dewey (1859-1952), nhà tâm lý- giáo dục học người Mỹ, ngay từ năm 1896 đã sáng lập Trường thực nghiệm, trong đó các học sinh được ưu tiên hoạt động tập trung vào những hứng thú hoặc nhu cầu đặc trưng cho từng lứa tuổi.
Theo Ông: “hứng thú thực sự xuất hiện khi cái tôi đồng nhất hoá với một ý tưởng hoặc một vật thể, khi nó tìm thấy ở chúng phương tiện biểu lộ và chúng trở thành thức ăn thiết yếu cho sự hoạt động của nó” [dẫn theo 28,tr. Herbart (1776-1841), nhà tâm lý học và giáo dục học nổi tiếng người Đức. Ông là người xây dựng tâm lý học như một hệ thống các khoa học dựa trên phép siêu hình, kinh nghiệm và toán học. Trong huấn luyện và giáo dục, Herbart đã đưa ra 4 mức độ (nguyên tắc) của việc dạy học là: tính sáng tạo, tính liên tưởng, tính hệ thống và phương pháp.
Ông đặc biệt quan tâm đến việc “phải chú ý đến những thời kỳ của sự phát triển, đến cá tính của học sinh hoặc nhất là đến hứng thú - yếu tố quyết định của các phương pháp hiện nay” [dẫn theo 27,tr. Piaget ( 1896-1989 ), nhà tâm lý học nổi tiếng người Thụy Sỹ đã dày công nghiên cứu hoạt động trí tuệ của trẻ và đã đi đến nhiều kết luận quan trọng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 thông qua các thực nghiệm do Ông tự thiết kế. Trong nhiều lần, Piaget đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của hứng thú trong lĩnh hội tri thức. Ông viết: “Nhà Trường mới yêu cầu hoạt động nhận thức phải dựa trên cơ sở nhu cầu và hứng thú cá nhân” [28, tr.
Trong một văn cảnh khác, Piaget nhấn mạnh “Cũng giống như người lớn, đứa trẻ là một thực thể hoạt động mà hoạt động bị chi phối bởi quy luật của hứng thú hoặc của nhu cầu, sẽ không đem lại hiệu suất đầy đủ nếu người ta không động viên tới những động cơ tự do của hoạt động ấy” [28, tr. Khi phân tích trí thông minh của trẻ và những đòi hỏi của một nền giáo dục mới, Piaget đã có sự phân tích hết sức tài tình “Hứng thú không chút nào loại bỏ sự nỗ lực… một sự giáo dục chuẩn bị cho cuộc sống không bao hàm việc thay thế những nỗ lực tự phát bằng sự lao dịch…. Các phương pháp hoạt động không hề dẫn đến một chủ nghĩa cá nhân vô chính phủ; trái lại, nhất là khi nó kết hợp được công việc của cá nhân với công việc theo nhóm, nó sẽ dẫn đến sự giáo dục kỷ luật tự giác và sự nỗ lực tự nguyện” [28, tr. Năm 1931, nhà Tâm lý học người Mỹ E.
Strong ( Trường đại học tổng hợp Stanford) nghiên cứu “Sự biến đổi hứng thú theo lứa tuổi”( Change of interest with age) đã đưa ra kết luận được đánh giá cao: Sự phát triển của hứng thú thường gắn liền với sự phát triển lứa tuổi. Điều đó dễ hiểu vì muốn hình thành một hứng thú nào đó, cần phải có một mức độ phát triển tâm lý cũng như một mức độ tri thức và kinh nghiệm sống nhất định. Về lĩnh vực hứng thú, đặc biệt là hứng thú nhận thức, các nhà tâm lý học Liên xô trước đây đã có những đóng góp đặc biệt to lớn. Từ những năm đầu của thế kỷ XX, trong cuốn chuyên khảo Hứng thú công bố năm 1914.A Ananhin đứng trên quan điểm chức năng luận, có quan điểm cho rằng: “Không có hứng thú với tư cách là một hiện tượng tâm lý độc lập trong đời sống tâm lý của cá nhân” [dẫn theo 3, tr.
Với quan điểm như LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 vậy, Ananhin đã quy hứng thú về nhu cầu ( Hứng thú chính là nhu cầu được nhận thức). Một số tác giả khác lại đồng nhất hứng thú với xu hướng, chú ý.Trên thực tế, hứng thú có quan hệ mật thiết với nhu cầu, chú ý nhưng không đồng nhất với với các hiện tượng tâm lý này, mà có tính độc lập tương đối với những đặc điểm riêng. Vào những năm 50 của thế kỷ trước, V. Ackhipov đã có những nghiên cứu về hứng thú với tư cách là một hiện tượng trong đời sống tâm lý của cá nhân, trong đó đi sâu nghiên cứu Hứng thú học tập của học sinh.
Tác giả cho rằng: Hứng thú là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy học sinh tích cực trong quá trình học tập. Đề cập đến các yếu tố ảnh hưởng tới hứng thú học tập của học sinh, Ackhipov cho rằng: Sự hiểu biết ban đầu của học sinh về môn học ( tên môn học, giáo viên đảm nhiệm, hình thức tổ chức học tập.) có ảnh hưởng nhất định đến sự hình thành, phát triển nhân cách của học sinh đối với môn học. Ivanôv nghiên cứu về Giáo dục phát triển hứng thú học tập cho học sinh trong các nhà Trường. Trên cơ sở làm rõ vai trò, vị trí của hứng thú đối với hoạt động học tập của học sinh, tác giả nhấn mạnh: Giáo dục phát triển hứng thú học tập cho học sinh phải được coi là một nhiệm vụ quan trọng của quá trình dạy học.
Điều này có nghĩa là, hoạt động dạy học không chỉ có nhiệm vụ trang bị cho học sinh những tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo, mà còn có nhiệm vụ phát triển hứng thú cho học sinh trong quá trình tiếp thu tri thức, rèn luyện các kỹ năng, kỹ xảo. Ganbirô, trong luận án tiến sỹ: Vận dụng tính hứng thú trong giảng dạy tiếng Nga. Tác giả cũng đánh giá cao vai trò của hứng thú trong học tập nói chung, học tập môn tiếng Nga nói riêng. Ông cho rằng: Hứng thú không chỉ là điều kiện mà còn là phương tiện để nâng cao chất lượng giảng dạy tiếng Nga trong các nhà Trường.
Ở đây, hứng thú được xem là một LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 phương tiện về mặt tinh thần, tư tưởng có tính độc lập trong nâng cao chất lượng giảng dạy môn học. Trong cuốn Tâm lý học cá nhân ( tập 1), tác giả A. Côvaliốp đã dành một chương trình với tiêu đề: Hứng thú, nhân tố kích thích hoạt động của cá nhân. Ông cho rằng: “ Hứng thú có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống và hoạt động của con người.
Con người cảm thấy sống đầy đủ và hạnh phúc có những hứng thú. Cùng với nhu cầu, hứng thú kích thích hoạt động, làm cho con người trở nên tích cực. X Xôlôvâytrich – nhà Tâm lý học người Nga nghiên cứu về mối quan hệ giữa hứng thú với việc phát triển các thuộc tính tâm lý của nhân cách, đặc biệt là đối với các trình độ phát triển của năng lực. Ông viết “ Hứng thú - đó là chiếc dù nhỏ mở ra trước tiên, tạo điều kiện tập trung vòm dù chính bao bọc các năng khiếu, năng khiếu nảy sinh trước hết từ hoạt động nào gây ra hứng thú cao độ và bao trùm toàn bộ cá tính”.
Đối với tài năng và thiên tài X. Xôlôvâytrích cho rằng: “ Hứng thú mãnh liệt, đắm say thường là dấu hiệu của những năng lực to lớn. Và ngược lại, tài năng thường kèm theo hứng thú mạnh mẽ đối với hoạt động. Thiên tài, thường say mê làm việc như ma ám” [40, tr.
Như vậy, để hình thành kỹ năng và phát triển năng lực cho hoạt động cá nhân với chuyên môn nghề nghiệp, chúng ta không chỉ trang bị kiến thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo, mà còn quan tâm giáo dục hình thành và phát triển cho cá nhân có hứng thú với nghề nghiệp chuyên môn đó. Các nghiên cứu ở nước ngoài về hứng thú khá đa dạng và phong phú. Bên cạnh những kết quả nghiên cứu vừa nêu trên, còn phải kể đến nhiều tác giả với những quan điểm và cách tiếp cận khác nhau về hiện tượng tâm lý này: - Quan điểm sinh vật luận: Đại diện cho phái theo quan điểm sinh vật luận là: J. Herbart, nhà Tâm lý học người Đức.
Ông là người mong muốn xây dựng Tâm lý học như một hệ thống các khoa học dựa trên phép siêu hình, kinh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 nghiệm và toán học. Khi đề cập đến bản chất của hứng thú Herbart cho rằng: Hứng thú là thuộc tính bẩm sinh vốn có của con người, được biểu hiện thông qua thái độ tình cảm của con người vào một đối tượng nào đó trong thế giới khách quan. Ở đây, Herbart đã chỉ ra được mặt biểu hiện cơ bản của hứng thú, đó là tình cảm của chủ thể trong mối quan hệ với đối tượng tạo nên sự hứng thú. Tuy nhiên, Herbart đã lý giải một cách không thỏa đáng về nguồn gốc của hứng thú.
Hứng thú không phải là thuộc tính tâm lý có sẵn mang tính bẩm sinh di truyền, mà cũng như mọi hiện tượng tâm lý khác trong đời sống tinh thần – tâm lý của con người, hứng thú được hình thành và phát triển trong hoạt động, thông qua mối quan hệ tác động qua lại giữa các chủ thể của hứng thú và đối tượng gây nên hứng thú, dựa trên cơ sở nhận thức và thái độ của chủ thể đối với đối tượng. - Quan điểm duy tâm: Người đại diện cho quan điểm duy tâm là R. Annoi, nhà Tâm lý học người Mỹ. Theo Annoi: Hứng thú là sự sáng tạo của tinh thần tối cao đối với đối tượng mà người hứng thú tham gia vào.
“Tinh thần tối cao” theo quan điểm của Annoi đó là thần linh, thượng đế hay còn gọi là Lực lượng siêu nhiên. Điều đó có nghĩa là, hứng thú của cá nhân hoàn toàn do sự mách bảo, sự sắp đặt của thần linh, thượng đế chứ không phụ thuộc vào các yếu tố thuộc về chủ thể như: Nhu cầu, động cơ, nhận thức, cảm xúc, tình cảm.Quan điểm của Annoi đã phủ nhận vai trò của chủ thể của hứng thú, đồng thời góp phần bảo vệ quan điểm duy tâm trong nghiên cứu đời sống tâm lý của con người. Ngoài quan điểm của Annoi, một số nhà Tâm lý học như: W.