CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÊ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG VÀ CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG 1. Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng lao động 1.1 Khái niệm về hợp đồng lao động. Từ khi chưa có luật lao động, quan hệ lao động phát sinh đã được điều chỉnh bởi Bộ luật dân sự.
Tuy nhiên xã hội không ngừng phát triển, vấn đề lao động ngày càng trở nên phức tạp và nhiều vấn đề phát sinh, nó không còn đơn thuần như lúc ban đầu. Kèm theo đó, khái niệm về hợp đồng lao động cũng thay đổi cùng với sự thay đổi quan điểm và nhận thức về hàng hóa sức lao động. Như vậy để theo kịp sự phát triển của xã hội, luật pháp cũng phải thay đổi theo, những đạo luật dành riêng cho quan hệ lao động đã dần được hình thành để có thể giải quyết những vấn đề phát sinh trong quan hệ lao động. Luật lao động dần trở nên đầy đủ, hoàn thiện hơn và trở thành hành lang pháp lý bảo vệ quyền và quy định những nghĩa vụ dành cho người tham gia lao động.
Tại những đất nước có pháp luật phát triển hàng đầu thế giới như Đức và Pháp, quan niệm về hợp đồng lao động áp dụng theo Điều 611 Bộ luật Dân sự Đức năm 1896 “thông qua hợp đồng, bên đã cam kết thực hiện một hoạt động thì phải thực hiện hoạt động đó, còn bên kia có nghĩa vụ trả thù lao theo thỏa thuận”. Ở Pháp, khái niệm hợp đồng lao động lần đầu tiên được ghi nhận tại điều 1779 Bộ luật dân sự năm 1804 “hợp đồng lao động là sự thỏa thuận, theo đó một người cam kết tiến hành một hoạt động theo sự chỉ đạo của người khác, lệ thuộc vào người đó và được trả công”. Nói chung, các quan niệm này đều coi hợp đồng lao động thuần túy tương tự như một loại hợp đồng dịch vụ dân sự. Khái niệm này là đã chỉ ra một phần nội dung của hợp đồng lao động và sự lệ thuộc pháp lý của người lao động đối với người sử dụng lao động, song cũng chưa xác định được vấn đề chủ thể và nội 4 dung hợp đồng.
Như vậy hệ thống pháp luật của Pháp, Đức chỉ ghi nhận hợp đồng lao động như là một dạng hợp đồng dân sự, có bản chất của hợp đồng dân sự. Tại Việt Nam, hợp đồng lao động được quy định rõ ràng tại điều 15 Bộ luật lao động năm 2012, cụ thể: “hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động”. Như vậy, khái niệm về hợp đồng lao động chỉ ra được chủ thể, nội dung của hợp đồng lao động, từ đó có thể phân biệt được so với hợp đồng dân sự.2 Đặc điểm của hợp đồng lao động Hợp đồng lao động có sự phụ thuộc pháp lý của người lao động với người sử dụng lao động. Đây là đặc trưng được coi là tiêu biểu nhất của HĐLĐ.
Khi tham gia quan hệ HĐLĐ, mỗi người lao động thực hiện các nghĩa vụ có tính cá nhân, đơn lẻ nhưng lao động ở đây là lao động mang tính xã hội hóa, vì thế hiệu quả cuối cùng lại phụ thuộc vào sự phối hợp của cả tập thể, của tất cả các quan hệ lao động. Vì vậy, cần thiết phải có sự thống nhất, liên kết, điều phối bằng các yêu cầu, mệnh lệnh… của chủ sở hữu doanh nghiệp. - Đối tượng của hợp đồng lao động là việc làm có trả công. Mặc dù quan hệ lao động là một loại quan hệ mua bán đặc biệt do hàng hóa trao đổi là sức lao động luôn tồn tại gắn liền với cơ thể người lao động.
Do đó, khi NSDLĐ mua hàng hóa sức lao động thì cái mà họ được sở hữu là một quá trình lao động biểu thị thông qua thời gian làm việc, trình độ chuyên môn, thái độ, ý thức. của người lao động. Để thực hiện được những yêu cầu nói trên, người lao động phải cung ứng sức lao động từ thể lực và trí lực của chính mình biểu thị qua những thời gian đã được xác định. Như vậy, sức lao động được mua bán trên thị trường không phải là lao động trừu tượng mà là lao động cụ thể, được thể hiện thành việc làm.
- Hợp đồng lao động do đích danh người lao động thực hiện. Đặc trưng này xuất phát từ bản chất của quan hệ HĐLĐ. Mỗi NLĐ là một cá thể riêng biệt, không ai giống ai, vì vậy ý thức, quan niệm đạo đức của họ sẽ khác nhau. Khi giao kết 5 HĐLĐ, NSDLĐ quan tâm tới đạo đức, ý thức, phẩm chất.
tức nhân thân riêng biệt của người lao động đó. Do đó, người lao động phải trực tiếp thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết, không được chuyển dịch vụ cho người thứ ba. - Sự thỏa thuận của các bên tham gia giao kết hợp đồng lao động thường bị khống chế bới những giới hạn pháp lý nhất định. Đặc trưng này của HĐLĐ xuất phát từ nhu cầu cần bảo vệ, duy trì và phát triển sức lao động trong điều kiện nền kinh tế thị trường không chỉ với tư cách là các quyền cơ bản của công dân mà còn có ý nghĩa xã hội đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
- Hợp đồng lao động được thực hiện liên tục trong thời gian nhất định hay vô định. Thời hạn của hợp đồng có thể được xác định rõ từ ngày có hiệu lực tới một thời điểm nào đó, cũng có thể không xác định trước thời hạn kết thúc. Phân loại hợp đồng lao động Để phù hợp với nhu cầu sản xuất - kinh doanh của người sử dụng lao động và tuỳ theo thời hạn hoàn thành từng loại công việc mà Hợp đồng lao động được chia làm 03 loại và được quy định chi tiết trong điều 22 Bộ luật lao động năm 2012. Ở mỗi loại hợp đồng, quyền lợi, nghĩa vụ và thời hạn thực hiện là khác nhau.
Phân loại được 3 loại hợp đồng này giúp mỗi chủ thể khi ký kết hợp đồng có thể bảo vệ quyền và lợi ích của mình tối đa nhất. Hợp đồng lao động không xác định thời hạn: là hợp đồng mà trong đó hai bên không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng. Đối với loại hợp đồng này, một trong hai bên kết thúc với bất kỳ thời điểm nào là phải tuân theo điều kiện và thủ tục do pháp luật quy định. HĐLĐ xác định thời hạn: là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến 36 tháng.
Trong bản Hợp đồng lao động: loại hợp đồng này dược áp dụng cho những công việc mà người sử dụng lao động đã chủ động xác định được thời hạn kết thúc trong kế hoạch sản xuất – kinh doanh của mình. 6 HĐLĐ theo mùa vụ hoặc một công việc nhất định mà thời hạn dưới 12 tháng. Đây là loại hợp đồng phổ biến, thích ứng với những công việc đòi hỏi một lượng thời gian hoàn thành ngắn một vài ngày hay một vài tháng hay dưới một năm, hoặc những công việc có đặc điểm sản xuất theo mùa, vụ, trường hợp phải tạm thời thay thế người lao động đi làm nghĩa vụ quân sự, nghỉ theo chế độ thai sản, ốm đau, tai nạn lao động hoặc nghỉ việc có tính chất tạm thời khác. Vai trò, ý nghĩa của hợp đồng lao động HĐLĐ có vai trò rất quan trọng trong đời sống kinh tế – xã hội.
Trước hết nó là cơ sở để các doanh nghiệp cơ quan, tổ chức, cá nhân tuyển chọn lao động phù hợp với yêu cầu của mình. Mặt khác HĐLĐ là một trong những hình thức pháp lý chủ yếu nhất để công dân thực hiện quyền tự do làm việc, tự nguyện lựa chọn việc làm cũng như nơi làm việc. HĐLĐ là một chế định quan trọng vào bậc nhất của luật lao động, là xương sống của pháp luật lao động, là một chương không thể thiếu trong Bộ luật lao động của bất kỳ nước nào trên thế giới nói chung và nước ta nói riêng, vì vậy HĐLĐ có một ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống xã hội. Thứ nhất, hợp đồng lao động là hình thức pháp lý chủ yếu làm phát sinh, thay đổi và chấm dứt quan hệ pháp luật lao động trong nền kinh tế thị trường.
Thứ hai, hợp đồng lao động là hình thức pháp lý đáp ứng được nguyên tắc tự do “khế ước” của nền kinh tế thị trường, trong đó có thị trường sức lao động. Thứ ba, nội dung của hợp đồng lao động liên quan đến hầu hết chế định của Bộ luật Lao động và là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc giải quyết tranh chấp lao động cá nhân. Thứ tư, hợp đồng lao động là công cụ pháp lý hữu hiệu để người sử dụng lao động quản lý lao động. 7 CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG 4.
Khái lược về sự phát triển của pháp luật về hợp đồng lao động ở Việt Nam. Thực tế thì HĐLĐ tồn tại hàng trăm năm và phát triển song song với quan hệ lao động. Ở nước ta trước đây nhà nước đã dùng HĐLĐ như một hình thức tuyển dụng lao động vào các cơ quan hành chính sự nghiệp và các xí nghiệp quốc doanh. Sau năm 1975, trước tình hình mới về sự phát triển kinh tế, việc tuyển dụng lao động lại đặt ra những yêu cầu mới.
Chính vì vậy, đến năm 1977 Nhà nước cho phép áp dụng chế độ HĐLĐ để đáp ứng nhu cầu tuyển dụng lao động của các đơn vị kinh tế. Và như vậy, từ chỗ quy định HĐLĐ là hình thức chỉ để tuyển lao động tạm thời vào năm 1961 thì năm 1977 Nhà nước đã xác định HĐLĐ là một hình thức tuyển dụng lao động cơ bản. Sau khi có Nghị quyết Đại hội lần thứ VI của Đảng. Nhà nước xác định rõ chính sách phát triển kinh tế xã hội với phương châm mở rộng quyền tự chủ cho các đơn vị kinh tế cơ sở.
Theo đó Nhà nước ban hành Quyết định số 217/ HĐBT (14/ 11/1987) để tạo quyền chủ động về kế hoạch, tài chính, cung ứng. và lao động cho các xí nghiệp quốc doanh. Để thi hành quyết định này Bộ lao động – Thương binh và xã hội ra thông tư 01 LĐTB-XH (09/01/1988) hướng dẫn thi hành Quyết định 217/ HĐBT.