Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Vấn đề bảo vệ quyền lợi của người lao động chưa thành niên (LĐCTN) khi tham gia quan hệ lao động (QHLĐ) giữ vị trí quan trọng trong việc bảo đảm sự phát triển toàn diện của thế hệ tương lai và thực hiện các cam kết quốc tế của quốc gia. Là thành viên đã phê chuẩn Công ước số 138 (năm 1973) về độ tuổi tối thiểu và Công ước số 182 (năm 1999) về việc cấm và hành động ngay lập tức để xóa bỏ những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), Việt Nam đã từng bước nội luật hóa các tiêu chuẩn quốc tế vào hệ thống pháp luật quốc gia. Theo số liệu điều tra thống kê quốc gia, tỷ lệ trẻ em tham gia lao động tại Việt Nam đã giảm từ 15,5% (năm 2012) xuống 9,1% (năm 2018) và còn 3,5% (năm 2023). Dù vậy, theo kết quả khảo sát năm 2023, cả nước vẫn còn 269.604 lao động trẻ em, chiếm 1,31% tổng số trẻ em từ 5 đến 17 tuổi và chiếm 36,9% số trẻ em tham gia hoạt động kinh tế. LĐCTN do chưa phát triển đầy đủ về thể chất, tâm lý và nhận thức nên luôn là nhóm chủ thể yếu thế, dễ bị lạm dụng, bóc lột sức lao động hoặc làm việc trong môi trường độc hại, nguy hiểm. Trong bối cảnh Bộ luật Lao động (BLLĐ) năm 2019 có hiệu lực với nhiều quy định mới, việc nghiên cứu đề tài "Lao động chưa thành niên theo quy định của Bộ luật lao động năm 2019 - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn" của tác giả Đỗ Minh Phương (Trường Đại học Luật Hà Nội, 2025) là cần thiết nhằm đánh giá thực trạng pháp lý và hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là làm rõ một số vấn đề lý luận liên quan đến quy định của BLLĐ năm 2019 về LĐCTN, bổ sung nguồn tài liệu phục vụ công tác nghiên cứu, đào tạo và phổ biến pháp luật cho người lao động (NLĐ) và người sử dụng lao động (NSDLĐ). Để đạt được mục đích này, khóa luận triển khai ba nhiệm vụ cụ thể:

  1. Nghiên cứu, phân tích khái niệm "người chưa thành niên", "lao động chưa thành niên" theo pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam.
  2. Đánh giá thực trạng quy định pháp luật tại Việt Nam về LĐCTN, so sánh quy định của BLLĐ năm 2019 với BLLĐ năm 2012 để chỉ ra ưu điểm, hạn chế.
  3. Đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật đối với LĐCTN.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu được xác định rõ:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quy phạm pháp luật lao động trong BLLĐ năm 2019 và các văn bản hướng dẫn liên quan đến LĐCTN (việc làm, đào tạo nghề, hợp đồng lao động, an toàn - vệ sinh lao động, thời giờ làm việc - nghỉ ngơi, tiền lương, kỷ luật, thanh tra, xử lý vi phạm, giải quyết tranh chấp); kết hợp với số liệu thống kê thực tiễn thực hiện pháp luật về sử dụng LĐCTN tại Việt Nam.
  • Phạm vi không gian: Lãnh thổ Việt Nam (có đối chiếu có chọn lọc với một số chuẩn mực quốc tế và quy định pháp luật của Hoa Kỳ, Trung Quốc, Pháp, Hàn Quốc, Ý, Vương quốc Anh).
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ năm 2019 đến năm 2024.
  • Phạm vi nội dung: Chế định lao động chưa thành niên theo quy định của BLLĐ năm 2019.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của triết học Mác - Lênin, lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, cùng các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về bảo vệ, chăm sóc người chưa thành niên.

Khung pháp lý và cơ sở lý thuyết tác giả sử dụng bao gồm:

  • Hệ thống văn bản luật Việt Nam: Hiến pháp năm 2013 (Điều 35); Bộ luật Lao động năm 2019 (đặc biệt là Chương XI về Lao động chưa thành niên và một số lao động đặc thù); Bộ luật Lao động năm 2012; Bộ luật Dân sự năm 2015 (Khoản 1 Điều 21, Điều 586); Luật Trẻ em năm 2016 (Điều 4); Luật Việc làm năm 2013 (Điều 3); Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015; Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014; Luật Thanh tra năm 2022; Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Điều 296); Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (Điều 69).
  • Văn bản dưới luật: Nghị định số 145/2020/NĐ-CP; Nghị định số 12/2022/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động; Nghị định số 74/2024/NĐ-CP quy định mức lương tối thiểu; Thông tư số 09/2020/TT-BLĐTBXH ban hành danh mục công việc nhẹ, danh mục công việc và nơi làm việc cấm sử dụng người từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi.
  • Điều ước và văn kiện quốc tế: Công ước số 138 (năm 1973) của ILO về độ tuổi tối thiểu; Công ước số 182 (năm 1999) của ILO về xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất; Công ước số 155 của ILO về an toàn vệ sinh lao động; Công ước số 124 của ILO; Công ước của Liên hợp quốc về Quyền trẻ em (UNCRC 1989); Bản quy tắc của Liên hợp quốc năm 1990.

Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả áp dụng linh hoạt bao gồm:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp quy phạm pháp luật để làm rõ nội hàm các điều luật.
  • Phương pháp so sánh luật học (đối chiếu BLLĐ năm 2019 với BLLĐ năm 2012; đối chiếu pháp luật Việt Nam với các công ước của ILO và pháp luật của các quốc gia như Hoa Kỳ, Trung Quốc, Pháp, Hàn Quốc, Ý, Anh).
  • Phương pháp thống kê xã hội học pháp lý để phân tích thực trạng lao động trẻ em.
  • Phương pháp lịch sử nhằm theo dõi sự phát triển của hệ thống chính sách.

Nguồn dữ liệu chính của đề tài được trích xuất từ:

  • "Báo cáo kết quả chủ yếu về thực trạng trẻ em tham gia lao động và lao động trẻ em của Việt Nam năm 2023" do Tổng cục Thống kê, Cục Trẻ em (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) và ILO công bố ngày 23/01/2025.
  • Các công trình khoa học chuyên ngành của các tác giả Đỗ Thị Dung (2012), Đỗ Ngân Bình (2009), Vũ Công Giao - Nguyễn Hoàng Hà (2017), Lâm Hồng Loan Chi - Ngô Nguyễn Phương Thùy, Nguyễn Hoàng Phương (2009), Hồ Thị Nga (2012), Nguyễn Thế Hùng (2018), Phạm Đức Tôn (2021), Mai Phước Bảo (2022), Nguyễn Thị Nhàn (2016), Đỗ Đinh Tâm Như (2023), Đào Đức Anh (2024).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về lao động là người chưa thành niên và pháp luật lao động chưa thành niên

Chương này làm sáng tỏ các khái niệm cơ bản, đặc điểm, phân loại và các nguyên tắc pháp lý điều chỉnh LĐCTN:

  • Khái niệm và phân biệt: Căn cứ Khoản 1 Điều 21 BLDS năm 2015 và Khoản 1 Điều 143 BLLĐ năm 2019, người LĐCTN là người lao động chưa đủ 18 tuổi, làm việc cho NSDLĐ theo thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của NSDLĐ. Tác giả phân biệt rõ: "Lao động chưa thành niên" mang ý nghĩa tích cực, được pháp luật thừa nhận nhằm tạo thu nhập hợp pháp và rèn luyện kỹ năng; trong khi "Lao động trẻ em" (gắn với hành vi bóc lột trẻ em theo Điều 4 Luật Trẻ em năm 2016) mang ý nghĩa tiêu cực, chỉ các hoạt động lao động trái pháp luật, tước đi tuổi thơ, gây tổn hại đến thể chất, tinh thần và nhân cách.
  • Đặc điểm của LĐCTN: Khóa luận xác định 4 đặc điểm cốt lõi: (1) Thể chất, nhận thức và tâm sinh lý chưa phát triển hoàn thiện; (2) Năng lực chủ thể trong xác lập hợp đồng lao động bị hạn chế, cần sự đồng ý hoặc tham gia của người đại diện theo pháp luật; (3) Phạm vi công việc và thời giờ làm việc bị giới hạn nghiêm ngặt; (4) Trình độ chuyên môn kỹ thuật và kinh nghiệm làm việc còn hạn chế.
  • Phân loại độ tuổi pháp lý: Pháp luật phân chia LĐCTN thành 03 nhóm: Dưới 13 tuổi (chỉ làm nghệ thuật, thể thao có sự đồng ý của cơ quan chuyên môn cấp tỉnh); Từ đủ 13 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi (làm công việc nhẹ theo danh mục); Từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi (được tham gia đa số quan hệ lao động, trừ công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm).
  • Ba nguyên tắc điều chỉnh pháp luật: (1) Đảm bảo quyền được tham gia QHLĐ của LĐCTN; (2) Bảo vệ LĐCTN thông qua các tiêu chuẩn tối thiểu (về quyền lợi) và tối đa (về nghĩa vụ) trên cơ sở độ tuổi, đồng thời khuyến khích các thỏa thuận có lợi hơn cho NLĐ; (3) Bảo vệ LĐCTN trong mối tương quan với bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của NSDLĐ.
  • Tổng quan nội dung pháp luật quốc tế: Khảo cứu quy định pháp luật của Hoa Kỳ (Đạo luật Tiêu chuẩn Lao động công bằng), Trung Quốc (Luật Bảo vệ trẻ vị thành niên 2020), Pháp (độ tuổi học nghề tối thiểu 16 tuổi), Hàn Quốc (giấy phép lao động dưới 15 tuổi theo Điều 64 Đạo luật Tiêu chuẩn Lao động số 18176), Ý (thời giờ làm việc tối đa 7h/ngày đối với trẻ em và quy định nghỉ bắt buộc 1 giờ sau 4,5 giờ làm việc theo Luật số 977/1967), và Vương quốc Anh (mức lương tối thiểu 5,28 bảng/giờ áp dụng cho nhóm từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi).

Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về lao động chưa thành niên và thực tiễn thực hiện pháp luật về lao động chưa thành niên ở Việt Nam

Chương này đánh giá toàn diện hai khía cạnh: thực trạng các quy định pháp luật hiện hành và thực tế áp dụng tại Việt Nam.

1. Thực trạng các quy định pháp luật:

  • Về việc làm và hợp đồng lao động: BLLĐ năm 2019 chuẩn hóa cụm từ "chưa đủ 18 tuổi" (thay cho "dưới 18 tuổi" trong BLLĐ năm 2012). Quy định cụ thể điều kiện làm việc: dưới 13 tuổi làm việc nghệ thuật, thể thao theo Khoản 3 Điều 145; từ đủ 13 đến dưới 15 tuổi làm công việc nhẹ theo Phụ lục II Thông tư 09/2020/TT-BLĐTBXH; từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi bị cấm làm 69 công việc (Phụ lục III) và cấm làm việc tại các địa điểm nhạy cảm (Phụ lục IV Thông tư 09/2020/TT-BLĐTBXH). Bắt buộc giao kết HĐLĐ bằng văn bản với người đại diện khi tuyển dụng lao động dưới 15 tuổi.
  • Về an toàn, vệ sinh lao động: NSDLĐ phải lập sổ theo dõi riêng (Điều 144 BLLĐ năm 2019), khám sức khỏe định kỳ 6 tháng/lần cho lao động dưới 15 tuổi (Khoản 1 Điều 145). Hành vi không tổ chức khám sức khỏe định kỳ bị phạt tiền theo Khoản 2 Điều 22 Nghị định 12/2022/NĐ-CP.
  • Về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi: Người chưa đủ 15 tuổi làm việc không quá 04 giờ/ngày và 20 giờ/tuần, cấm làm thêm giờ và cấm làm ban đêm (Khoản 1 Điều 146). Người từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi làm việc không quá 08 giờ/ngày và 40 giờ/tuần; chỉ được làm thêm giờ hoặc ban đêm trong một số nghề (biểu diễn nghệ thuật, vận động viên thể thao, viết văn, viết báo, nghề truyền thống theo Phụ lục V Thông tư 09/2020/TT-BLĐTBXH). Lao động chưa thành niên được hưởng chế độ nghỉ phép năm 14 ngày làm việc nguyên lương (Điểm b Khoản 1 Điều 113).
  • Về tiền lương và bảo hiểm: Tiền lương xác định theo thỏa thuận, năng suất và không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng theo Nghị định 74/2024/NĐ-CP. Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 quy định tham gia BHXH bắt buộc đối với HĐLĐ có thời hạn từ đủ 01 tháng trở lên, bao gồm cả HĐLĐ ký kết với người đại diện của lao động dưới 15 tuổi.
  • Về kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất: Xử lý kỷ luật người dưới 15 tuổi bắt buộc phải có mặt người đại diện theo pháp luật (Điểm c Khoản 1 Điều 122 BLLĐ năm 2019 và Điều 70 Nghị định 145/2020/NĐ-CP). Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thực hiện theo Điều 586 BLDS năm 2015.
  • Về thanh tra, xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp: Thanh tra lao động có quyền thanh tra đột xuất không báo trước trong trường hợp khẩn cấp (Điều 216 BLLĐ năm 2019). Chế tài xử phạt hành chính đối với hành vi sử dụng lao động dưới 15 tuổi không giao kết HĐLĐ bằng văn bản với người đại diện được nâng lên mức 20.000.000 đồng theo Điểm b Khoản 2 Điều 29 Nghị định 12/2022/NĐ-CP. Điều 296 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi 2017) quy định phạt tù từ 05 đến 10 năm đối với tội vi phạm quy định về sử dụng người lao động dưới 16 tuổi trong trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng. Tranh chấp lao động được giải quyết qua hòa giải viên (thời hạn 5 ngày), Hội đồng trọng tài lao động (thời hạn 7 ngày) hoặc Tòa án (Điều 69 BLTTDS năm 2015 quy định người từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi có HĐLĐ được tự mình tham gia tố tụng).

2. Thực tiễn thực hiện và số liệu thống kê: Báo cáo của Tổng cục Thống kê, Cục Trẻ em và ILO (công bố ngày 23/01/2025) phản ánh tình hình thực tế:

Chỉ tiêu thống kê Số liệu ghi nhận (Năm 2023) Tỷ lệ / Ghi chú
Dân số trẻ em (5 - 17 tuổi) 20,6 triệu người Chiếm 20,6% dân số cả nước
Trẻ em tham gia lao động 731,6 nghìn người Chiếm 3,5% trẻ em (giảm từ 9,1% năm 2018)
Phân bố khu vực của trẻ lao động Nông thôn: 84,6% Thành thị: 15,4%
Cơ cấu giới tính của trẻ lao động Trẻ em trai: 55,1% Trẻ em gái: 44,9%
Tổng số lao động trẻ em 269.604 người Chiếm 1,31% trẻ em 5-17 tuổi, 36,9% trẻ lao động
Lao động trẻ em làm việc quá giờ 177.840 người 65,9% tổng số LĐ trẻ em (75% nông thôn, 61,6% nam)
Lao động trẻ em làm việc ban đêm (22h-6h) 50,1 nghìn người Chiếm 18,6% tổng số lao động trẻ em
Trẻ em làm công việc nguy hại Gần 94,3 nghìn người Chiếm 35,0% tổng số lao động trẻ em
Trẻ em gặp vấn đề sức khỏe do lao động 32,6 nghìn người Chiếm 12,1% tổng số lao động trẻ em
Thu nhập bình quân của lao động trẻ em Khoảng 3,0 triệu đồng/tháng So với 7,1 triệu đồng/tháng của LĐ từ 15 tuổi trở lên
Nguyên nhân chính bỏ học đi làm Do không thích học / học kém Chiếm 59,9%

Về mặt đạt được, Việt Nam triển khai hiệu quả Quyết định số 1023/QĐ-TTg (Chương trình giai đoạn 2016-2020) và Quyết định số 782/QĐ-TTg (Chương trình giai đoạn 2021-2025, định hướng 2030); tham gia Liên minh 8.7 toàn cầu và chia sẻ kinh nghiệm tại Hội nghị toàn cầu tại Nam Phi năm 2022.

Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về lao động chưa thành niên ở Việt Nam

Tác giả đề xuất các phương hướng và giải pháp cụ thể:

  • Phương hướng hoàn thiện: Bảo đảm tính đồng bộ giữa BLLĐ năm 2019 với các đạo luật chuyên ngành (BLDS, Luật Trẻ em, Luật An toàn, vệ sinh lao động, Luật BHXH); nội luật hóa đầy đủ các công ước quốc tế của ILO.
  • Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật: Bổ sung quy định chi tiết về thời gian nghỉ giữa giờ cho người lao động dưới 15 tuổi; chuẩn hóa quy trình giao kết và giám sát hợp đồng đào tạo nghề đối với người chưa thành niên; hoàn thiện cơ chế trách nhiệm vật chất và quy trình xử lý kỷ luật phù hợp với năng lực nhận thức của từng nhóm tuổi.
  • Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi: Nâng cao năng lực và tăng cường thanh tra đột xuất của Thanh tra lao động; đẩy mạnh tuyên truyền cho NSDLĐ tại các cơ sở kinh doanh nhỏ lẻ, làng nghề truyền thống; lồng ghép công tác phòng ngừa LĐCTN vào các chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo và phổ cập giáo dục.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã đạt được những kết quả và đóng góp cụ thể:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận: Xác lập ranh giới pháp lý rõ ràng giữa khái niệm "lao động chưa thành niên" (lao động hợp pháp) và "lao động trẻ em / bóc lột trẻ em" (lao động trái pháp luật); làm rõ 3 nguyên tắc pháp lý điều chỉnh quan hệ lao động có sự tham gia của người chưa thành niên.
  2. Đánh giá thực trạng pháp lý theo BLLĐ năm 2019: Phân tích toàn diện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành từ BLLĐ năm 2019, Nghị định số 145/2020/NĐ-CP, Nghị định số 12/2022/NĐ-CP, Nghị định số 74/2024/NĐ-CP đến Thông tư số 09/2020/TT-BLĐTBXH; chỉ ra các điểm tiến bộ về hợp đồng lao động, mức phạt vi phạm hành chính, và bảo hiểm xã hội bắt buộc.
  3. Cập nhật dữ liệu thực tiễn mới: Sử dụng kết quả điều tra thống kê quốc gia năm 2023 (công bố tháng 01/2025) để cung cấp bức tranh số liệu về tình trạng lao động trẻ em, thời giờ làm việc thực tế, thu nhập bình quân và nguyên nhân bỏ học của trẻ em tại Việt Nam.
  4. Đề xuất giải pháp khả thi: Kiến nghị các điều chỉnh pháp lý cụ thể nhằm hoàn thiện chế định LĐCTN và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thanh tra, kiểm tra và bảo trợ xã hội.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi nghiên cứu của khóa luận giới hạn trong hệ thống pháp luật lao động Việt Nam giai đoạn 2019 - 2024; việc so sánh quốc tế chủ yếu mang tính chọn lọc các quy định tiêu biểu của một số quốc gia phát triển và trong khu vực mà chưa đi sâu vào toàn bộ hệ thống án lệ quốc tế.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu cơ chế thanh tra và giám sát lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức, các làng nghề thủ công gia đình; đánh giá tác động của Luật Bảo hiểm xã hội mới đối với quyền lợi của lao động chưa thành niên; khảo sát định lượng sâu hơn về hiệu quả của các mô hình đào tạo nghề kết hợp học văn hóa cho thanh thiếu niên có hoàn cảnh khó khăn.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật: Đặc biệt thuộc các chuyên ngành Luật Lao động, Luật Dân sự, Quyền con người khi nghiên cứu về chế định bảo vệ các nhóm lao động đặc thù.
  • Cán bộ quản lý nhà nước và thanh tra lao động: Cung cấp hệ thống đối chiếu văn bản quy phạm pháp luật, thẩm quyền thanh tra và khung xử phạt vi phạm hành chính, hình sự đối với các hành vi vi phạm về sử dụng LĐCTN.
  • Người sử dụng lao động và các tổ chức xã hội: Hướng dẫn chi tiết các điều kiện tuyển dụng, danh mục công việc được phép/bị cấm, thủ tục ký kết hợp đồng bằng văn bản với người đại diện, giúp doanh nghiệp tuân thủ đúng pháp luật và phòng ngừa rủi ro pháp lý.

Câu hỏi thường gặp

1. Bộ luật Lao động năm 2019 phân chia lao động chưa thành niên thành những nhóm độ tuổi nào và điều kiện việc làm tương ứng ra sao?
Theo Điều 143 và Điều 145 BLLĐ năm 2019, LĐCTN được chia làm 3 nhóm: (1) Nhóm dưới 13 tuổi chỉ được làm công việc nghệ thuật, thể dục, thể thao theo quy định và phải có sự đồng ý của cơ quan chuyên môn về lao động thuộc UBND cấp tỉnh; (2) Nhóm từ đủ 13 đến dưới 15 tuổi chỉ được làm các công việc nhẹ theo danh mục tại Thông tư số 09/2020/TT-BLĐTBXH; (3) Nhóm từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi được làm các công việc mà pháp luật không cấm (loại trừ danh mục 69 công việc và các nơi làm việc độc hại, nguy hiểm quy định tại Điều 147 BLLĐ năm 2019 và Thông tư 09/2020/TT-BLĐTBXH).

2. Thời giờ làm việc tối đa của người lao động dưới 15 tuổi và người từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi được quy định như thế nào?
Căn cứ Điều 146 BLLĐ năm 2019: Người chưa đủ 15 tuổi có thời giờ làm việc không quá 04 giờ/ngày và không quá 20 giờ/tuần, tuyệt đối không được làm thêm giờ hoặc làm việc vào ban đêm. Người từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi có thời giờ làm việc không quá 08 giờ/ngày và không quá 40 giờ/tuần; chỉ được làm thêm giờ hoặc làm việc ban đêm trong một số ngành nghề nhất định (biểu diễn nghệ thuật, vận động viên thể thao, viết văn, viết báo, nghề truyền thống) theo danh mục của Bộ LĐ-TB&XH.

3. Theo Báo cáo thống kê năm 2023, thực trạng lao động trẻ em tại Việt Nam có những số liệu nổi bật nào?
Năm 2023, cả nước có 731,6 nghìn trẻ em từ 5-17 tuổi tham gia lao động (chiếm 3,5% trẻ em, trong đó 84,6% ở nông thôn, 55,1% là nam). Tổng số lao động trẻ em là 269.604 em; trong đó 177.840 em (65,9%) phải làm việc quá số giờ quy định, 50,1 nghìn em (18,6%) làm việc ban đêm, gần 94,3 nghìn em (35,0%) làm công việc nguy hại và 32,6 nghìn em (12,1%) gặp vấn đề sức khỏe. Thu nhập bình quân của lao động trẻ em là khoảng 3,0 triệu đồng/tháng (so với 7,1 triệu đồng/tháng của lao động từ 15 tuổi trở lên). Lý do bỏ học đi làm chủ yếu là do không thích học/học kém (chiếm 59,9%).

4. Khi ký kết hợp đồng lao động và xử lý kỷ luật đối với lao động dưới 15 tuổi, pháp luật có yêu cầu bắt buộc gì về người đại diện?
Theo Điều 145 BLLĐ năm 2019, khi tuyển dụng người chưa đủ 15 tuổi, NSDLĐ bắt buộc phải giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản với cả người lao động và người đại diện theo pháp luật của người đó. Khi tiến hành xử lý kỷ luật lao động đối với người dưới 15 tuổi, theo Điểm c Khoản 1 Điều 122 BLLĐ năm 2019 và Điều 70 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, cuộc họp xử lý kỷ luật bắt buộc phải có sự tham gia của người đại diện theo pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động.

5. Thủ tục giải quyết tranh chấp lao động đối với người lao động chưa thành niên tại Tòa án được quy định ra sao?
Theo Điều 69 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: Đối với đương sự là người dưới 15 tuổi, việc thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự tại Tòa án do người đại diện hợp pháp thực hiện. Đối với đương sự từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi đã tham gia lao động theo HĐLĐ thì được tự mình tham gia tố tụng về những việc có liên quan đến quan hệ lao động đó; Tòa án có quyền triệu tập người đại diện hợp pháp khi cần thiết.


Kết luận

Khóa luận của tác giả Đỗ Minh Phương đã phân tích một cách có hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn pháp lý về lao động chưa thành niên theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2019. Đề tài đã chỉ rõ những bước tiến trong việc hoàn thiện khung pháp luật bảo vệ quyền trẻ em tại Việt Nam, đồng thời phản ánh khách quan những thách thức trong thực tế thông qua số liệu điều tra thống kê năm 2023. Các giải pháp và kiến nghị được đề xuất trong công trình mang giá trị khoa học và thực tiễn, đóng góp thiết thực cho công tác hoàn thiện pháp luật lao động và nâng cao hiệu quả phòng ngừa, giảm thiểu lao động trẻ em tại Việt Nam.