CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. SƠ LƯỢC GIẢI PHẪU CÂY KHÍ – PHẾ QUẢN. Bộ máy hô hấp của người bao gồm đường dẫn khí, phổi, lồng ngực và các cơ hô hấp. Chức năng hô hấp bao gồm chức năng thông khí, vận chuyển khí và hô hấp tế bào [1], [2].
Đường dẫn khí đi từ trên xuống gồm có mũi miệng, tiếp theo là đến hầu (họng), thanh quản, khí quản, các phế quản, tiểu phế quản, đến các tiểu phế quản tận là những tiểu phế quản ở trước ống phế nang đến các túi phế nang và các phế nang. Cơ quan hô hấp bao gồm đường hô hấp trên và đường hô hấp dưới. Đường hô hấp trên gồm mũi, miệng, hầu và các xoang đóng vai trò sưởi ấm, làm ẩm và làm sạch một phần không khí trước khi đi vào phổi. Đường hô hấp dưới được tính từ thanh quản trở xuống [1], [2].
Tất cả các nhánh phế quản tạo thành đường dẫn khí, có chức năng đưa khí hít vào đến vùng trao đổi khí của phổi là các phế nang. Vì đường dẫn khí không chứa phế nang, nó không có vai trò trong việc trao đổi khí và tạo nên khoảng chết giải phẫu với thể tích khoảng 150ml khí [1], [2]. Các phế nang là nơi thực sự diễn ra sự trao đổi khí. Vùng chứa phế nang gọi là vùng hô hấp.
Ở người trưởng thành có khoảng 300 triệu phế nang với diện tích trao đổi khí lên đến 70 – 120 m 2. Phát triển của phổi từ khi sinh ra cho đến 8 tuổi mới thực sự hoàn thiện [1], [2]. Thùy phổi và rãnh liên thùy. Người ta có 2 lá phổi gồm phổi phải và phổi trái, phổi phải lớn hơn phổi trái.
Phổi phải gồm 3 thùy: thùy trên, thùy giữa và thùy dưới. Các thùy 4 được ngăn cách nhau bởi rãnh liên thùy lớn và rãnh liên thùy bé. Rãnh liên thùy lớn ngăn cách thùy trên và giữa với thùy dưới. Rãnh liên thùy bé ngăn cách thùy trên và thùy giữa.
Trên thực tế, rãnh liên thùy lớn bắt đầu ở phía sau ngang mức xương sườn 5 hoặc khoang liên sườn 5, sau đó chạy xuống dưới và ra trước, kết thúc tại điểm giao nhau giữa cơ hoành và sụn sườn 6. Rãnh liên thùy bé bắt đầu từ rãnh liên thùy lớn ở ngang mức xương sườn 6 phía sau, chạy ra trước và kết thúc ở sụn sườn 6, 7 [24]. Phổi trái gồm hai thùy: Thùy trên và thùy dưới ngăn cách nhau bởi một rãnh liên thùy. Rãnh liên thùy bắt đầu ở phía sau ở khoang liên sườn 3, chạy xuống dưới và ra trước, kết thúc ở ngang mức sụn sườn 6 [24].
Cây khí phế quản. Tiếp nối ngay dưới thanh quản là khí quản. Khí quản bao gồm khoảng từ 20-22 vòng sụn nối tiếp nhau, có chiều dài khoảng từ 10-12cm, tính từ phần giáp thanh quản đến chỗ chia ra của phế quản gốc hai bên ở trong lồng ngực. Đường kính ngang của khí quản lớn hơn đường kính dọc khoảng 25%.
Đường kính của khí quản rộng hẹp tùy theo chiều cao của cơ thể của cá thể đó. Đối với người trưởng thành đường kính khí quản khoảng từ 2,2-2,5cm. Khi còn nhỏ, mặt cắt ngang khí quản có dạng tương đối tròn, dần dần kích thước trước sau lớn hơn kích thước ngang và có hình oval. Với những người có tuổi, mặt cắt ngang của khí quản có hình móng ngựa.
Các vòng sụn của khí quản bao bọc hoàn toàn khí quản. Từ khí quản, phế quản gốc đến các thế hệ phế quản cấp 4-5 sụn phế quản có hình bán nguyệt, hở ở mặt sau. Mặt sau được cấu tạo bằng tổ chức liên kết sợi chun và xơ cơ. Các phế quản nhỏ hơn các sụn không liên tục mà phân thành từng đám nhỏ không đều và không thấy sụn ở các tiểu phế quản.
5 Khí quản được chia làm 2 phần bằng nhau, phần trong lồng ngực và phần ở ngoài lồng ngực. Khí quản khi đến ngang mức đốt sống ngực thứ 7 thì chia ra thành phế quản gốc phải và phế quản gốc trái ở ngã ba khí phế quản (Carina), từ đây phế quản gốc phân nhánh vào trong phổi. Phế quản gốc phải ngắn hơn và tạo góc dốc hơn với khí quản so với phế quản gốc trái [24]. Hình ảnh cây khí phế quản Hi (Nguồn: med-ed.html) Phế quản gốc phải: Tạo với trục của khí quản góc 20 – 30 độ.
Ở người lớn, phế quản gốc phải có khẩu kính 1,5cm, dài khoảng 2,5cm sau đó tách ra thành phế quản thùy trên và phế quản trung gian. Phế quản thùy trên tách vuông góc ra từ phế quản gốc phải, dài khoảng 1 – 1,5cm và phân thành các nhánh phế quản phân thùy đỉnh, phân thùy sau và phân thùy trước. Phế quản phân thùy giữa xuất phát từ phế quản trung gian và dài khoảng 1,2 – 2,2cm trước khi phân thành phế quản phân thùy bên và phế quản phân thùy giữa (phế quản phân thùy sau ngoài và phế quản phân thùy trước trong). Phế quản thùy dưới phân thành các nhánh phế quản phân thùy đỉnh, đáy trong, đáy trước, đáy bên và đáy sau (phân thuỳ đỉnh, phân thuỳ cạnh tim, phân thuỳ trước nền, phân thuỳ cạnh nền, phân thùy sau nền) [12], [24].
6 Phế quản gốc trái chạy ngang hơn so với phế quản gốc phải, tạo với đường trục của khí quản góc 40 – 45 độ, dài hơn (khoảng 4 – 6cm) nhưng nhỏ hơn (11mm) phế quản gốc phải, sau đó tách thành phế quản thùy trên và phế quản thùy dưới. Phế quản thùy trên tách ra từ bờ trước ngoài của phế quản gốc trái rồi đi chếch lên trên và ra ngoài, dài khoảng 1 – 1,5cm và phân thành phế quản phân thùy trên và dưới. Phế quản phân thùy trên lại phân thành phế quản phân thùy đỉnh sau và phế quản phân thùy trước. Phế quản phân thùy dưới hay còn gọi là phế quản phân thùy lưỡi (Lingular segment) (về giải phẫu tương đương với thùy giữa của phổi phải) thay đổi chiều dài từ 1 – 2cm.
Nó cho các nhánh phân thùy lưỡi trên và phế quản phân thùy lưỡi dưới. Phế quản thùy dưới phân thành các phế quản phân thùy đỉnh, dưới đỉnh, đáy giữa, đáy trước, đáy bên và đáy sau (phân thuỳ đỉnh, phân thuỳ trước nền, phân thùy sau nền, phân thuỳ cạnh nền) [12], [24]. Tóm lại, về sự phân chia của những phân thuỳ phổi bên phổi phải và phổi trái theo thứ tự dưới đây: Phổi phải. 1) Thuỳ trên: 1) Thùy trên: - Phân thùy đỉnh (số 1).
- Phân thuỳ đỉnh (số 1). - Phân thuỳ sau (số 2). - Phân thùy sau (số 2). - Phân thùy trước (số 3).
- Phân thùy trước (số 3). 2) Thùy giữa: 2) Thuỳ lưỡi: - Phân thuỳ sau ngoài (số 4). - Phân thùy lưỡi trên (số 4). - Phân thuỳ trước trong (số 5).
- Phân thuỳ lưỡi dưới (số 5). 3) Thuỳ dưới: 3) Thùy dưới: - Phân thuỳ đỉnh (số 6). - Phân thuỳ đỉnh trên (số 6). - Phân thuỳ cạnh tim (số 7).
- Phân thuỳ cạnh tim. - Phân thuỳ trước nền (số 8). - Phân thuỳ trước nền (số 8). - Phân thuỳ cạnh nền (số 9).
- Phân thuỳ cạnh nền (số 9). - Phân thùy sau nền (số 10). - Phân thùy sau nền (số 10). ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU SINH LÝ THÙY GIỮA.
Vị trí và hình thể thùy giữa. Thuỳ giữa chiếm vị trí trước dưới của lồng ngực phải, được chia ra làm 2 phân thùy. Phân thùy sau ngoài của thuỳ giữa hay còn được gọi là phân thuỳ số 4. Phân thùy trước trong của thuỳ giữa hay còn được gọi là phân thùy số 5.
Sự phân chia thành hai phân thuỳ số 4 và số 5 của thùy giữa được giới hạn ở hai bờ trên và dưới bởi nửa dưới của rãnh liên thùy lớn và rãnh liên thùy nhỏ tạo thành một băng nhỏ nằm ngang. Nhìn ở phim chụp phổi chuẩn hướng thẳng, bờ trên của nó tạo thành một đường thẳng và rõ, thường đường này ước lượng từ mỏm xương bả vai phải tới rốn phổi phải, đó là rãnh liên thùy nhỏ. Bờ trong là hình mờ do tim giới hạn, còn bờ ngoài là đường mờ đi từ nách đến cơ hoành nhưng không tiến tới góc sườn hoành. Nhìn ở hướng nghiêng, thùy giữa tạo thành một tam giác có đỉnh ở rốn phổi và đáy một phần dựa trên cơ hoành, một phần dựa trên thành ngực và chiếm phần trước dưới của ngực.
Thùy giữa phổi phải là một thùy nhỏ nằm xen giữa thùy trên và thùy dưới, được ngăn cách bởi rãnh liên thùy bé ở trên và rãnh liên thùy lớn ở dưới. Đối chiếu lên thành ngực thùy giữa nằm ở phía trước bên thành ngực phải từ khoang gian sườn IV trở xuống [10], [24]. Thùy giữa hình tứ diện, giống như một cái chêm sắc cạnh lấp đầy góc giữa thùy trên và thùy dưới. Mặt trên phẳng, nằm ngang, áp vào mặt dưới của phân thùy trước hay phân thùy 3 của thùy trên.
Mặt trong áp vào tim phải. Cuống phế quản và động mạch của thùy giữa đi vào mặt này ở phía trước đỉnh. 8 Mặt dưới đi dốc xuống dưới, ra trước và dựa lên mặt trên của thùy dưới. Mặt ngoài hay mặt sườn lồi, áp vào thành trước – bên của lồng ngực dọc theo xương sườn thứ 5 từ đường nách giữa từ xương sườn thứ 4 tới xương sườn thứ 6 [10].
Tuy nhiên, do có tính đàn hồi mà hình dáng thùy giữa phổi phải có thể rất thay đổi [18]. Sự liên quan của thùy giữa với màng phổi và tỷ lệ giữa phần có màng phổi và phần không có màng phổi cũng rất đặc biệt. Tỷ lệ giữa phần có màng phổi và không có màng phổi của thùy giữa là nhỏ hơn các thùy khác [4],[17]. posteroanterior view lateral view Right Middle Lobe Anatomy ( Nguồn: fitsweb./ review/lobes-anterior.html ) 9 posteroanterior view lateral view Right Middle Lobe Anatomy ( Nguồn: rad.edu/medpix/ parent.php3?mode=slide_s.) Right Middle Lobe and Lingula Segment: posteroanterior view ( Nguồn: fitsweb./ review/lobes-anterior.
Cấu trúc phế quản thùy giữa. Phế quản thùy giữa được tách ra từ mặt trước của phế quản trung gian, cách nơi tách ra của phế quản thùy trên khoảng 2,5cm rồi chạy chếnh xuống dưới và ra ngoài, góc tách ra gần vuông góc so với phế quản thùy dưới. Phế quản thùy giữa dài (khoảng 1.2cm trước khi tách thành phế quản phân thùy bên và phế quản phân thùy giữa) và hẹp hơn phế quản thùy khác, đường kính lòng phế quản thùy giữa cũng nhỏ hơn so với thùy trên [10], [4], [2], [31]. posteroanterior view lateral view Resection of the right middle lobe bronchus (Nguồn: www.com/ ) Cuống phổi thùy giữa được hợp thành bởi 3 thành phần: Phế quản thùy giữa, động mạch và tĩnh mạch.
Cuống phổi thùy giữa dài và mảnh dẻ nên thùy giữa dễ bị xoắn vặn [29].