ĐẶT VẤN ĐỀ Nhu cầu sử dụng thuốc của con người ngày càng tăng cao vì vậy việc nghiên cứu phát triển thuốc mới rất cần thiết để đáp ứng được nhu cầu đó. Các thuốc có nguồn gốc thảo dược là đối tượng được hướng đến và được đẩy mạnh đầu tư nghiên cứu bởi tính an toàn, không gây độc hoặc ít gây độc, dễ hấp thu và chuyển hóa trong cơ thể. Hiện nay, có rất nhiều hoạt chất có nguồn gốc tự nhiên được đánh giá hoạt tính sinh học, trong đó là các hoạt tính: hoạt tính hạ đường huyết, hoạt tính chống viêm do có tính ứng dụng cao. Viêm là một đáp ứng bảo vệ cơ thể của hệ miễn dịch đối với các tác nhân có hại.
Quá trình viêm quá mức gây nên rất nhiều loại bệnh. Hiện nay, viêm đang được điều trị bằng thuốc kháng viêm steroid và thuốc kháng viêm không steroid. Tuy nhiên cả hai loại thuốc trên đều có những tác dụng phụ không mong muốn trên nhiều cơ quan. Vì vậy nhu cầu tìm kiếm những hợp chất kháng viêm mới là cấp thiết, đặc biệt là hợp chất có nguồn gốc tự nhiên.
Phương pháp xây dựng mô hình tế bào RAW 264.7 nghiên cứu đánh giá khả năng chống viêm của các mẫu thử được sử dụng phổ biến trong sàng lọc khả năng chống viêm của các hợp chất tự nhiên. Đái tháo đường là một bệnh phổ biến hiện nay, việc nghiên cứu phát triển thuốc điều trị đái tháo đường đang được đẩy mạnh. Các thuốc có nguồn gốc tự nhiên góp phần làm giảm chi phí, mang lại hiệu quả điều trị đái tháo đường cho bệnh nhân. Các phương pháp đánh giá đặc tính chống đái tháo đường in vitro của các hợp chất tự nhiên hay được sử dụng là đánh giá khả năng ức chế các enzyme thủy phân tinh bột liên quan đến việc điều chỉnh mức đường huyết.
Cây Hồng (Diospyros kaki Thunb. silvestris Makino) là một trong những cây thuộc chi Diospyros L. sinh trưởng và phát triển tự nhiên trên địa bàn Lào Cai. Với lợi thế về khí hậu, thổ nhưỡng, tri thức bản địa của đồng bào dân tộc thiểu số về cây thuốc, ngoài việc sử dụng rộng rãi các cây dược liệu quý có giá trị kinh tế như Tam thất, Đương quy, Đinh lăng, Atiso,… Hồng cũng là một trong những cây được sử dụng làm thuốc trong thời gian gần đây trên địa bàn tỉnh Lào Cai.
Về tác dụng sinh học bao gồm chống oxy hóa, hạ đường huyết, chống viêm, tác dụng trên tim mạch, cầm máu. Để chứng minh được trí thức dân gian sử dụng tác dụng chống viêm, hạ đường huyết của dược liệu này và bổ sung cơ sở dữ liệu hoạt tính sinh học in vitro cũng như nâng cao công dụng và giá trị ứng dụng thực tiễn của cây Hồng, khóa luận tiến hành đề tài “Nghiên 1 cứu một số hoạt tính sinh học của lá cây Hồng (Diospyros kaki Thunb. silvestris Makino)” với các nội dung: 1. Thử hoạt tính ức chế NO trên đại thực bào RAW 264.7 của các phân đoạn và các hợp chất phân lập được từ lá cây Hồng 2.
Thử hoạt tính ức chế enzyme -glucosidase của các phân đoạn và các hợp chất phân lập được từ lá cây Hồng. Thử hoạt tính ức chế enzyme -amylase của các phân đoạn và các hợp chất phân lập được từ lá cây Hồng. Tổng quan về chi Dyospiros L. Vị trí phân loại Theo hệ thống phân loại thực vật của Armen L.
Takhtajan (2009) chi Diospyros L. có vị trí phân loại như sau [12]: Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) Lớp Ngọc lan (Magnoliopsida) Phân lớp Sổ (Dillenianae) Liên bộ Đỗ quyên (Ericanae) Bộ Thị (Ebenales) Họ Thị (Ebenaceae) Chi Diospyros L. Phân bố của chi Dyospiros L. là chi lớn nhất trong họ Ebenaceae, có khoảng 500 loài, phân bố chủ yếu ở khu vực nhiệt đới (Châu Á có tới 200 loài) và một số nơi thuộc khu vực ôn đới, trong đó đa dạng nhất là khu vực Đông Nam Á, chỉ có một số loài ở Tây Á, Nhật Bản và Đông Nam nước Mỹ [12].
Ở Trung Quốc, có 60 loài phân bố nhiều nhất ở khu vực Đông Nam và Tây Nam. Ở Việt Nam, chi Diospyros L. trong đó có chín loài cho gỗ có giá trị sử dụng, hai loài có quả ăn được là Hồng (D. Trong tổng số 24 loài thuộc chi Diospyros từ các vùng khác nhau có 3 loài phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới Châu Á đó là D., D oleifera Cheng và một loài ở Châu Mỹ là D.
Hình thái thực vật của 4 loài D. có nhiều nét tương đồng về lá, hoa, quả,… Một số loài thuộc chi này rất quan trọng về mặt thương mại, hoặc cho trái cây, lá hoặc gỗ [17]. Các giống trái cây ăn được là D. Đặc điểm thực vật của chi Dyospiros L.
Cây gỗ hoặc cây bụi, rụng lá hoặc thường xanh lá. Lá mọc so le, nguyên [1]. Thỉnh thoảng có các vết mờ rải rác hoặc có các vết rỗ lớn [15]. 3 Hoa thường đơn tính, khác gốc hoặc cùng gốc; hiếm khi lưỡng tính.
Hoa đực mọc thành xim ở nách lá; nhị từ 4 đến rất nhiều, thường kết hợp thành hai vòng xoắn. Hoa cái thường đơn độc, mọc ở nách lá; nhị lớp 1-16 hoặc không có; bầu thường có 2-6. Đài hoa thường có 3-7 thùy. Tràng hoa hình chum, hình chuông, hoặc hình ống, 3-7 thùy rụng sớm.
Quả thịt, mang đài to không rụng. Thành phần hóa học của chi Dyospiros L. Một số thành phần hóa học có hiệu quả cao trong điều trị bệnh đã được phân lập được từ nhiều loài thuộc chi Diospyros L. Theo nghiên cứu của U.
Rao và cộng sự đã có khoảng 300 chất hữu cơ đã được phân lập từ chi Diospyros L. [22] Các thành phần tự nhiên như terpenoid, Ursan, lupan, polyphenol, Tanin, hydrocarbon và lipid, benzopyron, naphthoquinon, oleanan và taraxeran đã được phân lập từ các loài khác nhau trong chi này. [17] Nhóm triterpen là nhóm phổ biến nhất được tìm thấy trong chi Diospyros L. bao gồm các chất đã được phân lập như: peregrinol, acid ursolic, taraxerol…[22] Chi Diospyros L.
có một lượng lớn 1,4-naphthoquinon đã được nghiên cứu và chúng có thể được sử dụng làm dấu hiệu hóa học cho các nghiên cứu phân loại. Plumbagin và 7- methyljuglone là các naphthoquinon phân bố rộng rãi nhất và được tìm thấy tích lũy với số lượng đáng kể trong một số loài Diospyros L. Hai glycosid 5-methylcoumarin mới có tên là diosfebosid A (1) và B (2) và 5 hợp chất đã biết là kaempferol 3-O-α-L-rhamnopyranosyl- (1 → 2) -β-d-glucopyranosid (3), acid ursolic (4), acid betulinic (5), stigmasterol (6) và stigmasterol 3-O-β-d- glucopyranosid (7) được phân lập từ phân đoạn n-butanol của lá cây Diospyros crassiflora (Hiern) thuộc chi Diospyros L. Tác dụng sinh học của chi Dyospiros L.
từ họ Ebenaceae có những công dụng linh hoạt bao gồm trái cây ăn được, gỗ có giá trị và sử dụng trang trí. Các bộ phận thực vật của nhiều loài đã được sử dụng làm phương thuốc trong các bài chữa bệnh dân gian khác nhau, bao gồm điều trị xuất huyết, tiểu không tự chủ, mất ngủ, nấc, tiêu chảy, v. Lipid, Benzopyrone, Naphthoquinon, Oleanan và Taraxeran đã được phân lập từ các loài khác nhau của chi này. Các hoạt tính sinh học của các loại chi này như chống oxy hóa, chống viêm, giảm 4 đau, hạ sốt, chống tiểu đường, kháng khuẩn, tẩy giun sán, hạ huyết áp, chống lão hóa, ức chế enzyme, v.
đã được xác nhận bằng phương pháp in vitro, in vivo, và làm thử nghiệm lâm sàng. Là một nguồn dự trữ phong phú của các thành phần có tác dụng dược lý quan trọng, chi này có thể đẩy nhanh tốc độ khám phá thuốc. Tác dụng giảm đau, chống viêm Một nghiên cứu được thực hiện năm 2013 về tác dụng và cơ chế chống viêm của cắn chiết nước lá của loài Diospyros kaki L. ở liều 100mg/ml có tác dụng ức chế giải phóng histamin và β-hexosaminidase từ tế bào mast bằng cách điều chỉnh nồng độ cAMP và calci nội bào.
Tác dụng ức chế của AEDK đối với phản ứng dị ứng và giải phóng histamin được phát hiện là tương tự như tác dụng của dinatri cromoglycate, một loại thuốc chống dị ứng đã biết [27]. Trongsakul với cộng sự đã chứng minh cao chiết n-hexan của rễ từ loài Diospyros variegata Kruz ở liều 150mg/kg cho thấy tác dụng chống viêm trên mô hình gây viêm bằng ethyl phenylpropiolat (EPP) và gây phù nề trên chuột nhắt trắng do acid arachidonic (AA) kết quả cho thấy có tác dụng chống viêm đến 93% và chống phù nền đến 91% [9]. Adzu với cộng sự đã chứng minh cao chiết methanol từ lá của loài Diospyros mespiliformis Hochst (50mg/kg và 100mg/kg) có tác dụng chống viêm có ý nghĩa (p <0,05) trên mô hình gây viêm trên chuột nhắt trắng [39]. Năm 2014, Uddin với cộng sự đã chứng minh cao chiết chloroform, diospyrin, 8- hydroxyisodiospyrin của rễ Diospyros lotus L.
có tác dụng chống viêm rõ rệt. Cao chiết chloroform (77,43%), diospyrin (80,54%) và 8-hydroxyisodiospyrin (75,87%) bảo vệ phù chân carrageenan sau giờ thứ 3 [8]. Năm 2016, Cho với cộng sự đã phân lập hợp chất myricetin từ lá loài Diospyros lotus L. ở các liều 25μM, 50μM, và 100μM đều chứng minh là có tác dụng ức chế sản sinh chất trung gian gây viêm thông qua việc ức chế sự hoạt hóa NF-κB và STAT1 và cảm ứng biểu hiện HO-1 qua trung gian Nrf2 trong các đại thực bào RAW264.7 được LPS kích thích [36].
Năm 2006, Lee với cộng sự đã chứng minh cao chiết methanol của lá D. DC có tác dụng ngăn chặn đáng kể số lượng tế bào viêm do ovalbumin gây ra khi dùng đường uống với liều 20–40 mg/kg dịch chiết trong 3 ngày. Tác dụng chống viêm được cho là do sự giảm IL-4, IL5 và sự ngăn chặn hoạt động của chất nền metalloproteinase- 5 9 [25]. Kim và cộng sự đã chứng minh ở liều 200mg/kg của cao chiết ethanol của lá D.
kaki trong nghiên cứu của khi cho chuột cống nhắt trắng uống trong 14 ngày, cho thấy cao chiết ethanol có tác dụng ức chế phản ứng viêm. Dịch chiết thể hiện tác dụng chống viêm bằng cách giảm IL-1β, IL-6, TNF-α, và MCP-1 [28]. Tác dụng hạ đường huyết Kết quả nghiên cứu của Dewanjee với cộng sự đã chứng minh quả chín của loài Diospyros peregrina Gurke. được người dân địa phương ở Tây Bengal, Ấn Độ sử dụng để điều trị bệnh tiểu đường.
Một nghiên cứu đã đánh giá tác dụng của cao chiết ethanol từ quả của D. (HDP) đối với tiểu đường typ 2. Uống HDP ở liều 25,5mg và 100mg/kg/ngày đối với chuột thí nghiệm, kết quả cho thấy tác dụng hạ đường huyết và hạ natri máu phụ thuộc vào liều lượng. Những con chuột mắc bệnh tiểu đường có superoxid dismutase (SOD), catalase (CAT) và hàm lượng glutathion (GSH) trong mô gan và thận giảm so với chuột bình thường.