Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Hoạt động thu thập chứng cứ đóng vai trò quyết định đến tính đúng đắn và hiệu quả trong quá trình giải quyết vụ án dân sự (VADS). Về nguyên tắc, Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 được xây dựng theo định hướng tăng cường trách nhiệm chứng minh của đương sự; Tòa án chỉ thực hiện hoạt động thu thập chứng cứ mang tính hỗ trợ khi có yêu cầu hoặc khi xét thấy cần thiết. Tuy nhiên, trên thực tế, đương sự thường gặp nhiều rào cản do hạn chế về trình độ hiểu biết pháp luật, điều kiện kinh tế hoặc gặp khó khăn khi tiếp cận tài liệu do các cơ quan, tổ chức khác lưu trữ. Do đó, sự tham gia thu thập chứng cứ của Tòa án là điều kiện bảo đảm xác định sự thật khách quan của vụ án. Mặc dù BLTTDS năm 2015 đã hoàn thiện nhiều điểm so với BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011), quy định hiện hành vẫn bộc lộ những vướng mắc, bất cập trong quá trình áp dụng tại Tòa án các cấp.

Khóa luận tốt nghiệp "Hoạt động thu thập chứng cứ của Toà án trong vụ án dân sự" do sinh viên Mã Thị Huyền Trang thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Trần Anh Tuấn tại Trường Đại học Luật Hà Nội (năm 2024) tập trung giải quyết các nội dung nghiên cứu sau:

  • Mục đích nghiên cứu: Làm sáng tỏ các vấn đề lý luận chung; phân tích, đánh giá thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong VADS; từ đó chỉ ra ưu điểm, hạn chế và đề xuất các giải pháp, định hướng hoàn thiện pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả áp dụng trên thực tế.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Làm rõ cơ sở lý luận về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong VADS (khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, cơ sở khoa học xây dựng pháp luật, các yếu tố tác động).
    2. Đánh giá thực trạng các quy định pháp luật tố tụng dân sự hiện hành và thực tiễn thi hành từ năm 2016 đến nay; phân tích ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại.
    3. Đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm khắc phục hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và nâng cao chất lượng hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án.
  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận, quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành và thực tiễn thực hiện hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong VADS.
  • Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận nghiên cứu các quy định pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng trên địa bàn cả nước trong giai đoạn từ năm 2016 đến nay.
STT Tác giả & Năm công bố Tên công trình nghiên cứu Cấp độ / Hình thức công bố
1 Nguyễn Minh Hằng (2007) Hoạt động cung cấp, thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự Việt Nam Luận án Tiến sĩ Luật học
2 Nguyễn Công Bình (2012) Một số vấn đề lý luận về chứng minh trong tố tụng dân sự Đề tài khoa học cấp trường
3 Tác giả bài viết (2016) Giao nộp chứng cứ - điểm mới theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự Tạp chí Quản lý Nhà nước (số 245)
4 Nguyễn Xuân Hà (2018) Thu thập chứng cứ và thực tiễn tại Toà án nhân dân ở tỉnh Sơn La Luận văn Thạc sĩ Luật học
5 Nông Thị Huyền Trang (2018) Hoạt động thu thập và đánh giá chứng cứ của toà án trong tố tụng dân sự và thực tiễn áp dụng tại các toà án nhân dân ở tỉnh Lạng Sơn Luận văn Thạc sĩ Luật học
6 Nguyễn Thị Thanh Tú (2019) Hoạt động thu thập chứng cứ của Toà án trong giải quyết vụ án dân sự từ thực tiễn thực hiện tại Toà án nhân dân quận Đống Đa thành phố Hà Nội Luận văn Thạc sĩ Luật học
7 Lưu Thủy Hường (2021) Thu thập chứng cứ của Toà án khi giải quyết vụ án dân sự và thực tiễn thực hiện tại Toà án nhân dân thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh Luận văn Thạc sĩ Luật học

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên hệ thống nền tảng lý luận pháp lý, các nguyên tắc tố tụng dân sự và quy định pháp luật thực định:

  • Khung pháp lý và khái niệm nền tảng:
    • Khái niệm và thuộc tính của chứng cứ: Căn cứ Điều 93 BLTTDS năm 2015, chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật, được đương sự giao nộp hoặc Tòa án thu thập theo trình tự, thủ tục luật định và bảo đảm ba thuộc tính cơ bản: tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp.
    • Thẩm quyền và trách nhiệm tố tụng: Căn cứ Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 (Điều 65, Điều 93) và BLTTDS năm 2015 (các Điều 6, 24, 48, 50, 70, 95, 96, 97, 106, 198, 208, 214, 366), xác định rõ vị trí của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thẩm tra viên trong việc thu thập chứng cứ.
    • Cơ sở khoa học xây dựng quy định: Xuất phát từ truyền thống văn hóa dân tộc (đề cao lẽ phải, bảo vệ người yếu thế), chức năng hiến định của Tòa án trong việc bảo vệ công lý, quyền con người, cũng như thực tiễn phân hóa điều kiện kinh tế - xã hội giữa các vùng miền tại Việt Nam.
  • Phương pháp nghiên cứu:
    • Phương pháp luận: Dựa trên chủ nghĩa Mác - Lênin, phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật.
    • Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phương pháp tìm kiếm, phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu và diễn giải quy phạm pháp luật, hồ sơ thực tiễn xét xử.
  • Nguồn dữ liệu: Văn bản quy phạm pháp luật (BLTTDS 2004, 2011, 2015; Luật Tổ chức TAND 2014; Nghị quyết 01/2017/NQ-HĐTP); giáo trình chuyên ngành của Trường Đại học Luật Hà Nội; các bản án thực tế (bản án sơ thẩm của TAND huyện Vĩnh Bảo, TAND TP. Đ - tỉnh L) và các tư liệu vụ việc thực tế phản ánh trên Báo Thanh Niên, Báo Cà Mau, Tạp chí Tòa án.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề chung về hoạt động thu thập chứng cứ của Toà án trong vụ án dân sự

Chương 1 tập trung phân tích toàn diện các khía cạnh lý luận, cơ sở xây dựng pháp luật và hệ thống hóa quy định thực định về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án:

  1. Khái niệm và đặc điểm:
    • Khái niệm đúc kết: Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong VADS là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước được thể hiện thông qua Thẩm phán, Hội đồng xét xử hoặc Thẩm tra viên trong việc tiến hành tập hợp, ghi nhận, thu giữ và bảo quản chứng cứ liên quan đến vụ án dân sự theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm hỗ trợ đương sự thực hiện nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và bảo đảm giải quyết vụ án chính xác, khách quan, đúng thời hạn.
    • Bốn đặc điểm cơ bản:
      • Mang tính quyền lực Nhà nước (yêu cầu của Tòa án có tính bắt buộc, ràng buộc trách nhiệm pháp lý đối với các chủ thể lưu giữ chứng cứ).
      • Mang tính hỗ trợ đương sự hoặc thực hiện khi Tòa án xét thấy cần thiết (khác với tố tụng hình sự - nơi cơ quan tiến hành tố tụng chủ động thu thập chứng cứ ngay từ đầu).
      • Chủ thể thực hiện là Thẩm phán được phân công, Hội đồng xét xử tại phiên tòa/phiên họp, hoặc Thẩm tra viên trong giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm.
      • Được tiến hành theo trình tự, thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định.
  2. Chủ thể có thẩm quyền thu thập chứng cứ thuộc Tòa án:
    • Thẩm phán: Chủ thể tố tụng chủ yếu, trực tiếp lập hồ sơ vụ án, quyết định áp dụng các biện pháp thu thập chứng cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 97 BLTTDS năm 2015.
    • Hội đồng xét xử: Thực hiện thu thập chứng cứ thông qua việc tiếp nhận, ghi nhận lời khai bổ sung trực tiếp tại phiên tòa (khoản 5 Điều 95 BLTTDS năm 2015).
    • Thẩm tra viên: Thực hiện thu thập chứng cứ trong giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm đối với các biện pháp thu thập tài liệu đọc được/nghe được/nhìn được/dữ liệu điện tử, yêu cầu trưng cầu giám định, định giá tài sản hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức thực hiện nhiệm vụ (khoản 4 Điều 97 BLTTDS năm 2015).
  3. Các trường hợp và biện pháp thu thập chứng cứ:
STT Biện pháp thu thập chứng cứ Căn cứ pháp lý (BLTTDS 2015) Nội dung & Quy trình thực hiện
1 Lấy lời khai của đương sự, người làm chứng Điều 98, Điều 99; Nghị quyết 01/2017/NQ-HĐTP Thẩm phán tiến hành lập biên bản (theo Mẫu số 02-DS), thực hiện tại hoặc ngoài trụ sở Tòa án; người khai ký tên/điểm chỉ từng trang; không đặt câu hỏi mang tính gợi ý đối với người làm chứng.
2 Đối chất Điều 100 Áp dụng khi có sự mâu thuẫn trong lời khai của các đương sự, người làm chứng; Thẩm phán tiến hành, Thư ký ghi biên bản.
3 Xem xét, thẩm định tại chỗ Điều 101 Đến tận nơi có tài sản tranh chấp (bất động sản, vật chứng) để đo vẽ, xác minh; phải thông báo trước cho đương sự và chính quyền địa phương.
4 Trưng cầu giám định, yêu cầu giám định Điều 102 Tòa án ra quyết định trưng cầu để kết luận về các vấn đề chuyên môn (chữ ký, chữ viết, vân tay...) phục vụ việc giải quyết vụ án.
5 Định giá, thẩm định giá tài sản Điều 104, Điều 163–166 Thành lập Hội đồng định giá để xác định giá trị tài sản tranh chấp theo giá thị trường tại thời điểm định giá khi các bên không tự thỏa thuận được giá.
6 Ủy thác thu thập chứng cứ Điều 105 Yêu cầu Tòa án khác hoặc cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài thực hiện thu thập tài liệu nằm ngoài phạm vi địa giới hành chính.
7 Yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ Điều 106 Tòa án ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ tài liệu cung cấp chứng cứ khi đương sự không tự thu thập được.
8 Xác minh sự có mặt/vắng mặt tại nơi cư trú Điểm h khoản 2 Điều 97 Phối hợp với Công an, chính quyền cấp xã/tổ dân phố để làm căn cứ thực hiện thủ tục niêm yết tống đạt hoặc xét xử vắng mặt.

Chương 2: Thực trạng hoạt động thu thập chứng cứ của Toà án trong vụ án dân sự và kiến nghị

Chương 2 phản ánh thực tế triển khai hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án thông qua các vụ việc cụ thể, chỉ ra những bất cập và định hướng giải pháp:

  1. Những kết quả tích cực trong thực tiễn:
    • Bảo vệ quyền lợi của người yếu thế: Hỗ trợ người dân ở vùng sâu, vùng xa, người có hoàn cảnh khó khăn không đủ khả năng tài chính thuê luật sư hoặc bị cơ quan quản lý từ chối cung cấp thông tin (như vụ việc tại TP. Lào Cai, đương sự bị Văn phòng đăng ký đất đai từ chối cung cấp hồ sơ thửa đất thừa kế, buộc phải khởi kiện để Tòa án can thiệp thu thập hồ sơ).
    • Bảo đảm tính chính xác, khách quan của phán quyết: Khắc phục sự sai lệch giữa giấy tờ và thực địa. Minh chứng qua Bản án số 05/2024/DS-ST ngày 26/02/2024 của TAND huyện Vĩnh Bảo (Hải Phòng) về tranh chấp đất đai giữa ông Bùi Văn Đ và ông Bùi Kim D: Tòa án tiến hành thẩm định tại chỗ, đo đạc thực tế diện tích đất ông Đ là 456,6 m² (thừa 36,6 m² so với GCNQSDĐ 420 m²) và đất ông D là 285,3 m² (thừa 26,3 m² so với GCNQSDĐ 259 m²); qua đó bác yêu cầu khởi kiện không có căn cứ đòi 6,16 m² đất của nguyên đơn.
  2. Những hạn chế, vướng mắc thực tiễn:
    • Bất cập trong tiếp nhận chứng cứ: Khoản 9 Điều 70 và khoản 5 Điều 96 BLTTDS năm 2015 quy định nghĩa vụ đương sự phải gửi bản sao tài liệu, chứng cứ cho đương sự khác nhưng thiếu chế tài xử lý khi không thực hiện, dẫn đến quyền tranh tụng của phía bên kia bị chậm trễ.
    • Tòa án thu thập chứng cứ không đầy đủ dẫn đến hủy án: Điển hình qua vụ án tranh chấp thừa kế tại TAND TP. Đ (tỉnh L) giữa bà Huỳnh Thị N (sau đó là con gái Trần Thị Đ) và ông Huỳnh Văn H. TAND Tối cao đã hủy cả 2 bản án sơ thẩm (số 06/2008/DSST) và phúc thẩm (số 165/2008/DSPT) bằng Quyết định giám đốc thẩm do Tòa án cấp dưới không thu thập chứng cứ xác minh quan hệ nuôi dưỡng, công chăm sóc, ma chay của bà N đối với cha mẹ nuôi.
    • Đương sự không hợp tác: Điển hình qua vụ án tranh chấp đất đai tại TAND TP. Cà Mau (Báo Cà Mau ngày 27/6/2023) giữa ông N.Q, bà N.H.L và ông G.V.T; các bên liên tục vắng mặt, không thống nhất nguồn gốc và vị trí đất khiến Tòa án phải nhiều lần hoãn phiên tòa, ngừng phiên tòa và tạm đình chỉ vụ án.
    • Vướng mắc về ủy thác thu thập chứng cứ: Mâu thuẫn giữa khoản 5 Điều 105 (Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án trên cơ sở chứng cứ sẵn có nếu không nhận được kết quả ủy thác) và điểm đ khoản 1 Điều 214 BLTTDS năm 2015 (căn cứ tạm đình chỉ vụ án để chờ kết quả ủy thác tư pháp), khiến Tòa án lúng túng trong việc xác định thời điểm tạm đình chỉ hay xử lý tiếp.
    • Bất cập trong định giá tài sản: Theo Điều 104 BLTTDS năm 2015, việc xác định giá thị trường gặp khó khăn do hợp đồng chuyển nhượng thực tế thường ghi thấp hơn để tránh thuế. Điển hình như vụ án ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn H (Tạp chí Tòa án): Hội đồng định giá kết luận nhà và đất trị giá 706 triệu đồng, trong khi giá thị trường chị T đưa ra người mua là 1,5 tỷ đồng; nhưng chị T không thể thu thập hồ sơ chuyển nhượng đất xung quanh để chứng minh căn cứ yêu cầu định giá lại theo khoản 5 Điều 104. Ngoài ra, việc tạm ứng chi phí định giá (Điều 163) chưa có công thức định mức thống nhất giữa các Tòa án.
    • Trở ngại khi thẩm định tại chỗ: Đương sự trực tiếp quản lý nhà đất tranh chấp bất hợp tác, cản trở cán bộ Tòa án tiến hành đo vẽ thực địa.
  3. Kiến nghị hoàn thiện:
    • Bổ sung chế tài cụ thể đối với đương sự cố tình không thực hiện nghĩa vụ thông báo, giao nộp bản sao tài liệu, chứng cứ cho đương sự khác.
    • Quy định rõ ràng tiêu chí xác định "lý do chính đáng" khi đương sự yêu cầu Tòa án hỗ trợ thu thập chứng cứ.
    • Sửa đổi, hướng dẫn thống nhất giữa khoản 5 Điều 105 và điểm đ khoản 1 Điều 214 về xử lý thời hạn ủy thác thu thập chứng cứ.
    • Hoàn thiện quy định về phương pháp xác định giá thị trường, trách nhiệm của các thành viên Hội đồng định giá và ban hành khung mức thu tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả nghiên cứu chính:
    • Hệ thống hóa toàn bộ các căn cứ lý luận và quy phạm pháp luật thực định điều chỉnh hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án theo BLTTDS năm 2015 và Luật Tổ chức TAND năm 2014.
    • Phân tích chi tiết 8 biện pháp thu thập chứng cứ luật định, làm rõ thẩm quyền của từng chủ thể (Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thẩm tra viên).
    • Nhận diện các xung đột, khoảng trống pháp lý thông qua 5 vụ việc/án lệ thực tế (vụ án tranh chấp đất tại Vĩnh Bảo - Hải Phòng; vụ tranh chấp thừa kế tại TP. Lào Cai; vụ án hủy án thừa kế tại TP. Đ - tỉnh L; vụ án kéo dài tại TP. Cà Mau; vụ án vướng mắc định giá tài sản ly hôn của chị T và anh H).
  • Đóng góp so với các công trình trước:
    • Bổ sung và hoàn thiện định nghĩa pháp lý về "Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong VADS", chỉ rõ dấu hiệu tính quyền lực nhà nước và bổ sung chủ thể Thẩm tra viên (điểm mà các nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Tú năm 2019 hay Nông Thị Huyền Trang năm 2018 chưa khái quát đầy đủ).
    • Đánh giá thực trạng áp dụng trên phạm vi tổng thể cả nước thay vì chỉ giới hạn trong phạm vi hẹp tại một địa bàn cấp quận/huyện hay một tỉnh cụ thể.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của khóa luận:
    • Phạm vi khảo sát thực tiễn chủ yếu tập trung vào các dạng tranh chấp dân sự phổ biến (tranh chấp quyền sử dụng đất, thừa kế, hôn nhân gia đình); chưa đi sâu đánh giá các lĩnh vực tranh chấp chuyên biệt phức tạp như sở hữu trí tuệ, kinh doanh thương mại quốc tế hay phá sản.
    • Nguồn số liệu thực tiễn chủ yếu trích xuất từ các bản án điển hình và thông tin vụ án đã được công bố trên các tạp chí chuyên ngành, chưa có số liệu thống kê định lượng toàn diện của toàn bộ hệ thống TAND tối cao qua từng năm.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Nghiên cứu cơ chế ứng dụng chuyển đổi số và liên thông cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai, dân cư với hệ thống Tòa án nhằm rút ngắn thời gian thu thập, xác minh tài liệu, chứng cứ.
    • Xây dựng cơ chế chế tài hành chính và tố tụng đối với các tổ chức, cá nhân chậm trễ hoặc từ chối thực hiện yêu cầu cung cấp chứng cứ của Tòa án.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tư liệu học thuật hữu ích phục vụ trực tiếp cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật học: Cung cấp tài liệu tham khảo có cấu trúc hệ thống về chế định chứng minh và chứng cứ trong Luật Tố tụng dân sự Việt Nam; làm tài liệu tham khảo trực tiếp cho các đề tài khóa luận, luận văn cùng hướng nghiên cứu.
  • Cán bộ tư pháp, Thư ký, Thẩm phán Tòa án: Cung cấp cái nhìn đối chiếu giữa lý luận quy định và các vướng mắc áp dụng thực tế (định giá tài sản, ủy thác tư pháp, thẩm định tại chỗ, lấy lời khai người chưa thành niên theo Điều 208).
  • Luật sư và người tham gia tố tụng: Nắm rõ quyền yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu chứng cứ theo Điều 70, Điều 106 BLTTDS năm 2015 và quy trình chứng minh khi bản thân không thể tự thu thập tài liệu từ các cơ quan lưu trữ.

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án do tác giả xây dựng có điểm gì bổ sung so với các khái niệm trước đó? Tác giả đã bổ sung hai yếu tố quan trọng: (1) Nhấn mạnh tính quyền lực nhà nước của hoạt động để phân biệt với hoạt động thu thập chứng cứ của đương sự và người bảo vệ quyền lợi; (2) Bổ sung chủ thể Thẩm tra viên bên cạnh Thẩm phán và Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 97 BLTTDS năm 2015.

2. Thẩm tra viên có quyền thực hiện những biện pháp thu thập chứng cứ nào và trong giai đoạn tố tụng nào? Theo khoản 4 Điều 97 BLTTDS năm 2015, Thẩm tra viên chỉ có quyền tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ trong giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm, bao gồm: thu thập tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được, thông điệp dữ liệu điện tử (điểm a); yêu cầu Tòa án ra quyết định trưng cầu giám định, định giá tài sản (điểm g); và yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện công việc khác theo quy định (điểm h).

3. Vướng mắc lớn nhất khi xác định giá tài sản tranh chấp theo giá thị trường tại Điều 104 BLTTDS năm 2015 là gì? Vướng mắc phát sinh do các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế lưu tại Văn phòng đăng ký đất đai thường ghi giá thấp hơn giá giao dịch thực tế để giảm thuế. Do đó, Hội đồng định giá khó có căn cứ giá thị trường chuẩn xác, buộc phải căn cứ bảng giá đất nhà nước hoặc giá ước tính, dẫn đến đương sự khiếu nại, yêu cầu định giá lại nhưng không tự chứng minh được tài liệu so sánh.

4. Mâu thuẫn giữa khoản 5 Điều 105 và điểm đ khoản 1 Điều 214 BLTTDS năm 2015 về ủy thác thu thập chứng cứ là gì? Khoản 5 Điều 105 quy định nếu không thực hiện được việc ủy thác hoặc không nhận được kết quả trả lời thì Tòa án giải quyết vụ án trên cơ sở chứng cứ đã có. Tuy nhiên, điểm đ khoản 1 Điều 214 lại quy định cần chờ kết quả ủy thác là căn cứ để tạm đình chỉ giải quyết vụ án. Điều này khiến Tòa án lúng túng giữa việc tạm đình chỉ chờ đợi hay tiếp tục xét xử vụ án.

5. Trong vụ án tranh chấp đất đai tại huyện Vĩnh Bảo (Hải Phòng), biện pháp thu thập chứng cứ nào đã đóng vai trò quyết định? Biện pháp xem xét, thẩm định tại chỗ (đo đạc diện tích đất thực tế của các bên so sánh với diện tích trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) đã giúp Hội đồng xét xử xác định cả hai bên đều tăng diện tích do lấn mương tập thể và phần đất tranh chấp thực tế nguyên đơn đang sử dụng nhiều hơn diện tích được cấp, từ đó bác yêu cầu khởi kiện không có căn cứ của nguyên đơn.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Mã Thị Huyền Trang đã làm sáng tỏ một cách có hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong vụ án dân sự theo quy định của BLTTDS năm 2015. Thông qua việc phân tích các vụ án cụ thể, công trình đã chỉ ra những khoảng trống pháp lý và bất cập thực tế trong các biện pháp lấy lời khai, định giá tài sản, thẩm định tại chỗ và ủy thác thu thập chứng cứ. Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp thực thi được đề xuất trong khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho công tác lập pháp và hoạt động xét xử dân sự tại Tòa án nhân dân các cấp.