ĐẶT VẤN ĐỀ Nhu cầu sử dụng thuốc của người dân Việt Nam ngày càng tăng, ước tính chi tiền thuốc bình quân trên đầu người tăng từ 13 USD vào năm 2007 lên đến 56 USD vào năm 2017 [15] đi đôi với nhu cầu tiếp cận thuốc chất lượng cao, đòi hỏi ngành dược Việt Nam nói chung và từng doanh nghiệp nói riêng phải không ngừng phát triển về quy mô và chất lượng để thực hiện được mục tiêu “cung ứng đủ thuốc có chất lượng với giá cả hợp lý” của chính sách quốc gia về thuốc [41]. Bức tranh về kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp dược phẩm tại Việt Nam trong giai đoạn gần đây là đặc biệt quan trọng để đo lường việc thực hiện mục tiêu trên. Hiện nay, các doanh nghiệp dược Việt Nam chủ yếu vẫn thuộc nhóm doanh nghiệp vừa và nhỏ [17], thông tin về kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp này lại nhiều, do đó nghiên cứu này tập trung vào nhóm các doanh nghiệp vừa và nhỏ để đưa ra bức tranh khái quát về kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp này. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ được lựa chọn để đưa vào nghiên cứu này bao gồm Công ty TNHH một thành viên dược phẩm Bali (gọi tắt là Công ty Bali); Công ty cổ phần dược phẩm ANPER Pháp (viết tắt là Công ty ANPER); Công ty Cổ phần Thương mại Xuất nhập khẩu APEC (viết tắt là Công ty APEC); và Công ty Cổ phần Thương mại và thiết bị Y tế HP (viết tắt là Công ty HP).
Trong số các công ty trên, việc đi sâu tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh được thực hiện đối với Công ty Bali. Công ty Bali chính thức đi vào hoạt động từ tháng 4 năm 2012 có trụ sở và địa bàn hoạt động chính tại tỉnh Bắc Giang với lĩnh vực kinh doanh đăng ký bao gồm: (1) bán buôn dược phẩm (tân dược, đông dược) nguyên liệu, hóa chất, phụ liệu để sản xuất thuốc phòng và chữa bệnh dược phẩm và dụng cụ y tế; (2) sản xuất các mặt hàng: thuốc, nguyên liệu làm thuốc, sản phẩm chăm sóc sức khoẻ; và (3) xuất nhập khẩu các mặt hàng công ty kinh doanh. Dù mới thành lập trong 5 năm trở lại đây, công ty luôn nỗ lực phát triển và mở rộng với sứ mạng giúp cho tất cả mọi người dân trên địa bàn tỉnh Bắc Giang nói riêng và cả nước nói chung được tiếp cận với dược phẩm và thiết bị y tế có chất lượng với mức chi phí hợp lý mà không gặp phải bất kì rào cản nào; đồng thời góp phần đẩy mạnh sự phát triển của công nghiệp dược trong nước. Để có thể hoàn thiện được sứ mạng nói trên, trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2021, công ty Bali chú trọng vào thị trường tỉnh Bắc Giang và dần mở rộng ra các thị trường khác như Lạng Sơn.
Đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn 1 vừa qua cũng như lý giải được các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả này đóng vai trò rất quan trọng trong việc giúp công ty tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ trong các giai đoạn tiếp theo, đặc biệt là các nhiệm vụ liên quan đến sản xuất thuốc góp phần đẩy mạnh công nghiệp dược trong nước cũng như giúp cho tất cả mọi người dân được tiếp cận với thuốc cơ bản, có chất lượng. Những phân tích sâu về các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh sẽ giúp cung cấp những bằng chứng quan trọng để công ty có thể khắc phục được các ảnh hưởng bất lợi và tận dụng các yếu tố thuận lợi nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty. Bên cạnh đó đối với nhà quản lý và lãnh đạo công ty, việc tiên lượng được kết quả hoạt động kinh doanh với sự biến động của rất nhiều yếu tố khác nhau và trong các bối cảnh kinh doanh khác nhau đóng vai trò quan trọng giúp đưa ra các mục tiêu phù hợp trong tương lai cũng như thu hút được các nhà đầu tư giúp cho công ty có thể mở rộng được hoạt động sang các thị trường khác cũng như thúc đẩy hoạt động sản xuất – là cốt lõi trong việc thúc đẩy công nghiệp dược trong nước. Và quan trọng hơn, việc tiên lượng được hiệu quả hoạt động kinh doanh nói chung và đối với mỗi nhóm khách hàng và mỗi mặt hàng thuốc nói riêng là một trong các yếu tố cốt lõi giúp cho công ty có thể điều chỉnh hoạt động nhằm hướng tới thực hiện sứ mạng của mình trong việc cung ứng thuốc có chất lượng cho tất cả mọi người dân.
Nhiều câu hỏi nghiên cứu cần phải được giải quyết nhằm đưa ra được đáp án cho những nội dung trên như: Kết quả hoạt động kinh doanh của một số công ty dược phẩm tại Việt Nam như thế nào trong giai đoạn vừa qua? Trong các công ty đó, công ty Bali đã có kết quả hoạt động kinh doanh như thế nào trong giai đoạn qua? Kết quả hoạt động kinh doanh đó chịu ảnh hưởng bởi những yếu tố nào? Mô hình nào có thể sử dụng để tiên lượng hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty Bali? Vì lý do đó, đề tài “Nghiên cứu kết quả hoạt động kinh doanh của một số doanh nghiệp dược tại Việt Nam: Nghiên cứu trường hợp tại Công ty TNHH một thành viên dược phẩm Bali” được thực hiện với các mục tiêu chính như sau: 1. Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh của một số doanh nghiệp dược tại Việt Nam, giai đoạn 2013 -2016 2. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh của công ty TNHH một thành viên dược phẩm Bali, giai đoạn 2013 - 2016 3. Xây dựng mô hình tiên lượng kết quả hoạt động kinh doanh của công ty TNHH một thành viên dược phẩm Bali 2 Những đóng góp mới của đề tài Để hướng tới mục tiêu chính của chính sách thuốc quốc gia: “cung ứng đủ thuốc có chất lượng với giá cả hợp lý”, những bằng chứng về kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp dược phẩm tại Việt Nam trong giai đoạn gần đây là đặc biệt quan trọng để đo lường việc thực hiện mục tiêu này.
Trong khi các doanh nghiệp dược Việt Nam chủ yếu vẫn thuộc nhóm doanh nghiệp vừa và nhỏ [17], kết quả tổng quan tài liệu lại cho thấy thông tin về kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp này lại không nhiều. Do đó nghiên cứu tập trung vào nhóm các doanh nghiệp vừa và nhỏ để đưa ra bức tranh khái quát về kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp này là vô cùng cần thiết trong giai đoạn hiện tại. Trong các nghiên cứu mô tả kết quả hoạt động kinh doanh nói trên, các chỉ tiêu nghiên cứu về kết quả hoạt động kinh doanh lại không được mô tả toàn diện mà chỉ dừng lại ở một số chỉ số cơ bản. Do đó, nghiên cứu này sẽ tiến hành phân tích một cách có hệ thống toàn bộ các chỉ số kết quả hoạt động kinh doanh của các công ty được lựa chọn vào trong nghiên cứu để đưa ra được bức tranh toàn diện về kết qủa hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp dược vừa và nhỏ.
Khác với các nghiên cứu khác chỉ dừng lại phân tích kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, nghiên cứu này tiến hành phân tích sâu kết hợp định tính và định lượng nhằm tiến đến lý giải được các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh. Nghiên cứu này đã tiếp cận với các phương pháp phân tích thống kê chuyên sâu như phân tích chuỗi thời gian để hỗ trợ cho quá trình phân tích. Những phân tích sâu về các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh giúp cung cấp những bằng chứng quan trọng để công ty có thể khắc phục được các ảnh hưởng bất lợi và tận dụng các yếu tố thuận lợi nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty. Bài học từ nghiên cứu trường hợp của công ty Bali có thể là những đóng góp quan trọng cho cả các doanh nghiệp với quy mô tương tự khác.
Bên cạnh đó đối với nhà quản lý và lãnh đạo công ty, việc tiên lượng được kết quả hoạt động kinh doanh với sự biến động của rất nhiều yếu tố khác nhau và trong các bối cảnh kinh doanh khác nhau đóng vai trò vô cùng quan trọng giúp cho công ty có thể đưa ra các mục tiêu phù hợp trong tương lai cũng như thu hút được các nhà đầu tư giúp cho công ty có thể mở rộng được hoạt động sang các thị trường khác cũng như thúc đẩy hoạt động sản xuất – là cốt lõi trong việc thúc đẩy công nghiệp dược trong nước. Và quan trọng hơn, việc tiên lượng được hiệu quả hoạt động kinh doanh 3 nói chung và đối với mỗi nhóm khách hàng và mỗi mặt hàng thuốc nói riêng là một trong các yếu tố cốt lõi giúp cho công ty có thể điều chỉnh hoạt động nhằm hướng tới thực hiện sứ mạng của mình trong việc cung ứng thuốc có chất lượng cho tất cả mọi người dân. Việc thực hiện thành công mô hình tiên lượng kết quả hoạt động kinh doanh tại công ty Bali sẽ đem đến những bài học kinh nghiệm quý báu khác cho các doanh nghiệp với quy mô tương tự. Quá trình nghiên cứu trường hợp và xây dựng mô hình tiên lượng cũng giúp xác định các điểm yếu về hệ thống số liệu phục vụ cho tính toán mà công ty cần phải khắc phục nhằm phục vụ tốt hơn cho việc lập kế hoạch hoạt động kinh doanh của công ty trong ngắn hạn cũng như dài hạn.
Một số khái niệm dùng trong nghiên cứu 1. Thuốc: Thuốc là chế phẩm có chứa dược chất hoặc dược liệu dùng cho người nhằm mục đích phòng, chẩn đoán bệnh, chữa bệnh, điều trị bệnh, giảm nhẹ bệnh, điều chỉnh chức năng sinh lý cơ thể bao gồm thuốc hoá dược, thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền, vắc xin và sinh phẩm [38]. Thuốc generic: là thuốc có cùng dược chất, hàm lượng, dạng bào chế với biệt dược gốc và thường được sử dụng thay thế biệt dược gốc [38]. Biệt dược gốc: là thuốc đầu tiên được cấp phép lưu hành trên cơ sở có đầy đủ dữ liệu về chất lượng, an toàn, hiệu quả [38].
Mã ATC: Từ năm 1981, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã xây dựng hệ thống phân loại thuốc theo hệ thống Giải phẫu – Điều trị - Hoá học (Anatomical Therapeutic Chemical Classification – Gọi tắt là hệ thống phân loại theo mã ATC) cho các thuốc đã được WHO công nhận và khuyến khích các nước trên thế giới sử dụng.