Chương 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan chung về mạng lưới bán lẻ thuốc tại Việt Nam. Một số khái niệm, thuật ngữ liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài. Thuốc là chất hoặc hỗn hợp các chất dùng cho người nhằm mục đích phòng bệnh, chữa bệnh, chẩn đoán bệnh hoặc điều chỉnh chức năng sinh lý cơ thể bao gồm thuốc thành phẩm, nguyên liệu làm thuốc, vắc xin, sinh phẩm y tế, trừ thực phẩm chức năng [20].
Hành nghề dược là việc cá nhân sử dụng trình độ chuyên môn dược của mình để kinh doanh thuốc [20]. Cơ sở bán lẻ thuốc gồm có: Nhà thuốc, Quầy thuốc, Đại lý bán thuốc của doanh nghiệp và Tủ thuốc của TYT [20]. Cơ sở y, dược tư nhân là cơ sở do cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp đăng ký kinh doanh và quản lý, điều hành [26]. "Thực hành tốt nhà thuốc” (Good Pharmacy Practice: GPP) là văn bản đưa ra các nguyên tắc, tiêu chuẩn cơ bản trong thực hành nghề nghiệp tại các nhà thuốc của dược sỹ và nhân sự dược trên cơ sở tự nguyện tuân thủ các tiêu chuẩn đạo đức và chuyên môn ở mức cao hơn những yêu cầu pháp lý tối thiểu [15].
Vị trí, vai trò của các cơ sở bán lẻ thuốc Đã hàng ngàn năm nay thuốc phòng và chữa bệnh trở thành nhu cầu tất yếu của con người. Thuốc đóng vai trò quan trọng trong công tác chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ nhân dân và nói rộng hơn là một trong những yếu tố chủ yếu nhằm đảm bảo mục tiêu sức khoẻ của mọi người. Việc đảm bảo cung ứng thuốc đáp ứng nhu cầu điều trị là một nhiệm vụ chủ yếu và hàng đầu của toàn ngành dược, trong đó các cơ sở bán lẻ chính là một thành phần làm nhiệm vụ cung ứng đảm bảo nhu cầu thuốc. Ngày nay, 3 cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, các nhu cầu về chăm sóc sức khoẻ nhân dân ngày càng cao.
Việc ra đời và phát triển mạnh mẽ của các cơ sở bán lẻ thuốc đã góp phần không nhỏ trong công tác CSSK nhân dân. Các nhà thuốc, quầy thuốc, đại lý bán thuốc và tủ thuốc của trạm y tế là đầu mối trực tiếp đưa thuốc đến cộng đồng. Mọi nguồn thuốc sản xuất trong nước hay nhập khẩu đến được tay người sử dụng hầu hết đều trực tiếp qua hoạt động của các cơ sở bán lẻ thuốc [16]. Khi nền kinh tế nước ta chuyển từ chế độ tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường, mạng lưới bán lẻ thuốc có điều kiện hình thành, mở rộng và phát triển.
Nhờ đó người dân có thể dễ dàng tiếp cận với các loại thuốc theo yêu cầu, nhanh chóng đáp ứng nhu cầu khám bệnh và chữa bệnh. Với chính sách quốc gia về thuốc thiết yếu, các cơ sở bán lẻ đã tập trung cung ứng thuốc thiết yếu cho nhân dân mọi lúc, mọi nơi, đặc biệt là ở vùng khó khăn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc ít người. Điều đó góp phần quan trọng vào sự nghiệp chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho người dân, cải thiện giống nòi người Việt [7]. Đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, có hiệu quả là một trong hai mục tiêu cơ bản của Chính sách Quốc gia về thuốc của Việt Nam.
Thực tế trình độ hiểu biết của người dân về thuốc, sử dụng thuốc và các vấn đề liên quan đến chăm sóc sức khỏe còn hạn chế; đồng thời người dân lại có thói quen tự mua thuốc chữa bệnh mà không cần sự thăm khám và kê đơn của bác sĩ. Vì vậy, dược sĩ tại các cơ sở bán lẻ có vai trò rất quan trọng trong việc cung cấp thông tin thuốc cần thiết, tư vấn sử dụng thuốc đầy đủ để người dân có thể tự điều trị và nâng cao sức khỏe. 4 Cung cấp thuốc có chất lượng Tham gia chương trình Tư vấn dùng giáo dục sức thuốc an toàn, khỏe cộng hợp lý đồng TRÁCH NHIỆM CỦA DƯỢC SĨ CỘNG ĐỒNG Cập nhật thông tin, Tư vấn CSSK nâng cao trình cộng đồng độ Giám sát sử dụng thuốc, theo dõi tác dụng phụ của thuốc Hình 1. Trách nhiệm của dược sĩ tại các cơ sở bán lẻ thuốc Dù chưa phát huy, thực hiện được hết vai trò, trách nhiệm nhưng các dược sĩ cũng đã góp phần rất lớn vào việc đảm bảo sử dụng thuốc an toàn và hợp lý trong cộng đồng.
Hệ thống các cơ sở bán lẻ đã góp phần tích cực vào việc cung ứng thuốc phòng và chữa bệnh, thuận tiện cho người bệnh trong việc mua thuốc, chia sẻ bớt gánh nặng quá tải trong các cơ sở y tế Nhà nước, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh trên thị trường dược phẩm, chấm dứt tình trạng khan hiếm thuốc trước đây[16]. Một vài nét về hoạt động bán lẻ thuốc ở Việt Nam 1. Quá trình hình thành và phát triển của mạng lưới bán lẻ thuốc Trước khi thực dân Pháp xâm lược, ở nước ta chỉ có các lương y chữa bệnh bằng bài thuốc gia truyền hoặc bắt mạch, kê đơn. Trong những năm Pháp đô hộ thì hệ thống bán thuốc tây y dần dần được hình thành và phát triển.
Năm 1864, hiệu thuốc đầu tiên ở Việt Nam được mở tại Sài Gòn do một dược sỹ người Pháp làm chủ. Sau khi có ban Dược thuộc Trường Đại học Y khoa Hà Nội, thực dân Pháp chỉ đào tạo khoảng 22 dược sỹ Đông Dương (tương đương dược sỹ trung cấp) và khoảng 36 dược sỹ hạng nhất (tương đương dược sỹ đại học) trong đó có một số dược sỹ tình nguyện từ Pháp về. Từ đó, đã xuất hiện các hiệu thuốc tập trung tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Huế nhưng không nhiều, nguồn thuốc chủ yếu nhập từ Pháp về. Nhà thuốc tư nhân hay hiệu thuốc bào chế thuốc tây có tại Hà Nội vào năm 1886 do một bác sỹ người Pháp - ông Julien Blanc làm chủ [1].
Vào những năm 1957-1958 ở miền Bắc Việt Nam, khi cải cách công thương nghiệp tư bản tư doanh thì ở Hà Nội có trên 20 NTTN, toàn miền Bắc có trên 100 đại lý thuốc tây và sau khi thống nhất đất nước (năm 1975) ở miền Nam có khoảng 2200 NTTN. Sau khi tiến hành cải tạo thì việc sản xuất và bán thuốc tân dược do hệ thống Dược phẩm quốc doanh đảm nhiệm, tư nhân không được phép hành nghề [2]. Thời kỳ bao cấp, mạng lưới bán thuốc quốc doanh đã được phân bố rộng rãi trên các địa bàn cả nước. Song các hiệu thuốc quốc doanh có khả năng hạn chế về cung cầu nên số lượng và chủng loại thuốc nghèo nàn.
Trong khi thị trường tự do có nhiều loại thuốc hơn từ các loại thuốc thông thường đến các loại thuốc đặc trị, số lượng cần bao nhiêu cũng có, kể cả các thuốc hiếm, thậm chí cả các thuốc cấm nhưng chất lượng không đảm bảo và giá cả đắt [2]. 6 Trước hiện trạng đó, nhất là sau Đại hội Đảng lần thứ VI đã chính thức định hướng nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước cho phép thành phần kinh tế tư nhân được kinh doanh thuốc [1]. Khi Pháp lệnh hành nghề y dược tư nhân ra đời, những người có đủ tiêu chuẩn điều kiện và có nhu cầu được phép mở công ty, nhà thuốc, đại lý. Hệ thống cung ứng tư nhân đã nhanh chóng tham gia vào mạng lưới cung ứng thuốc, đặc biệt là bán lẻ thuốc cho nhân dân và làm thay đổi cơ cấu hệ thống cung ứng thuốc.
Mạng lưới lưu thông phân phối thuốc đã được hình thành rộng khắp bao gồm hệ thống bán buôn và bán lẻ thuốc của hai loại hình sở hữu kinh tế: nhà nước và tư nhân. Các điểm bán lẻ thuốc được phân bố rộng khắp kể cả vùng sâu,vùng xa, vùng cao, mặc dù việc phân bố các điểm bán thuốc không đều, tập trung chủ yếu tại các khu đông dân nhưng đã tạo điều kiện thuận lợi và đáp ứng kịp thời nhu cầu về thuốc cho người dân [2]. Cùng với sự phát triển của mạng lưới bán lẻ thuốc, việc cung ứng thuốc cho nhân dân đã có sự cải thiện rõ rệt, việc sử dụng thuốc như một nhu cầu thiết yếu, tiền thuốc sử dụng bình quân đầu người tăng liên tục qua các năm cụ thể: Bảng 1. Tiền thuốc bình quân trên đầu người (2007-2011)[28] Đơn vị tính: USD/người/năm Năm 2007 2008 2009 2010 2011 Tiền thuốc bình quân 13,39 16,45 19,77 22,25 27,6 (Nguồn: Hiệp hội Doanh nghiệp Dược Việt Nam ) Tiền thuốc bình quân trong năm 2011 đạt 27,6 USD/người tăng 5,35 USD (24,05%) so với năm 2010.
Tuy nhiên, tiền thuốc bình quân đầu người của Việt Nam vẫn còn rất thấp so với mức trung bình của Thế giới là 40 USD/người/năm [28]. 7 Việt Nam có hệ thống phân phối thuốc khá phát triển. Theo kết quả tổng hợp của Cục Quản lý Dược, tham gia trong hệ thống phân phối thuốc đến tháng 12/2011, cả nước bao gồm: - 113 doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp nước ngoài đã cổ phần hóa - 32 cơ sở bán buôn vắc xin - 329 cơ sở bán buôn thuốc từ dược liệu - 10.652 đại lý bán lẻ thuốc của doanh nghiệp - 7.926 Tủ thuốc của Trạm y tế xã, phường, thị trấn. Tổng số nhà thuốc triển khai GPP là 8.
Như vậy, mạng lưới cung ứng thuốc đã đáp ứng tốt hơn nhu cầu về thuốc tại khắp các tỉnh thành trong cả nước, đảm bảo đưa thuốc đến tận tay người dân phục vụ công tác điều trị. * Xét về cơ bản, thuốc sẽ đi theo hệ thống phân phối sau: Nhà SX DN bán buôn Điểm bán lẻ ơ Người sử dụng Nhà NK Bên cạnh những mặt tích cực, mạng lưới bán lẻ thuốc còn tồn tại một số hạn chế: - Thuốc đến tay người tiêu dùng từ nhiều nguồn. Nguồn thuốc cung ứng cho các điểm bán lẻ khó quản lý dẫn đến tình trạng thuốc không được kiểm soát chặt chẽ, chất lượng không đảm bảo. Với hàng nghìn doanh nghiệp trong cả nước có chức năng kinh doanh, phân phối thuốc đã tạo nên một thị trường sôi động nhưng phức tạp.
Mỗi doanh nghiệp đều xây dựng cho mình một hệ thống phân phối riêng lẻ. Do đó, tình trạng móc ngoặc mua bán để đẩy giá thuốc lên cao hoặc nhiều doanh nghiệp dược được thành lập để núp bóng nhằm tiêu thụ thuốc trôi nổi, kém chất lượng vẫn đang tồn tại [29]. 8 - Các thông tin về phản ứng có hại của thuốc không được phản ánh kịp thời theo hệ thống từ người sử dụng đến đơn vị chịu trách nhiệm và cơ quan quản lý nhà nước.