Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ hóa học với đề tài "Nghiên cứu thành phần hóa học và xây dựng quy trình chế biến sản phẩm có tác dụng tăng cường sức khỏe từ cua lột (Scylla)" được nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Phương Lan thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Quyết Chiến và TS. Lê Tất Thành tại Học viện Khoa học và Công nghệ thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (bảo vệ năm 2021). Luận án thuộc chuyên ngành Kỹ thuật Hóa học, mã số 9.01.
Ở nước ta, cua bùn thuộc chi Scylla là đối tượng nuôi thủy sản truyền thống tại vùng nước mặn và lợ, mang lại giá trị kinh tế lớn cho cộng đồng ngư dân ven biển. Sự phát triển của kỹ thuật nuôi thương phẩm đã thúc đẩy nghề nuôi cua lột (cua vỏ mềm). So với cua thịt thông thường, cua lột có giá trị kinh tế cao gấp 3 lần và gấp 2 lần so với cua gạch. Tuy nhiên, sản phẩm cua lột ở Việt Nam chủ yếu chỉ dừng lại ở khâu sơ chế, đóng gói, cấp đông phục vụ tiêu dùng nội địa hoặc xuất khẩu dưới dạng thực phẩm tươi sống cho nhà hàng chế biến các món ăn nguyên con (như chiên bơ, chiên xù, ram me, bọc dừa, xào chua ngọt). Ngoài ra, trong kỹ thuật nuôi cua lột cải tiến (sử dụng thức ăn tổng hợp, nuôi rọ nhựa trong bể tuần hoàn), có tới khoảng 30% cua bị rụng chân và càng, dẫn đến giá trị thương mại suy giảm nghiêm trọng dù hàm lượng dinh dưỡng không thay đổi. Trước thời điểm nghiên cứu, chưa có công trình nào trong nước công bố về việc chế biến cua lột thành sản phẩm giá trị gia tăng hoặc thực phẩm chức năng bảo vệ sức khỏe bằng công nghệ enzym sạch.
Luận án xác định 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu xác định được thành phần hóa học, hoạt tính sinh học của cua lột.
- Xây dựng và tối ưu hóa quy trình công nghệ thủy phân cua lột bằng enzym, sấy phun để tạo sản phẩm bột cua lột thủy phân có tác dụng tăng cường sức khỏe.
- Đánh giá hoạt tính của sản phẩm thủy phân cua lột và chế phẩm bảo vệ sức khỏe từ bột cua lột thủy phân.
Đối tượng nghiên cứu là loài cua bùn Scylla paramamosain ở giai đoạn lột xác, trọng lượng 100–120 g/con, chiều rộng mai 80–90 mm, cơ thể căng phồng mềm hoàn toàn, đạt chuẩn cảm quan và mùi vị đặc trưng, do TS. Nguyễn Thị Bích Ngọc (Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản III) giám định tên khoa học. Cua được nuôi từ cỡ giống 50–60 g/con trong 30 ngày tại hệ thống tuần hoàn lọc sinh học (pH 7,6–7,7; DO 6–6,8 mg/l; NH3/NH4+ từ 0,004–0,008 mg/l; NO2- từ 0,012–0,014 mg/l), sử dụng thức ăn công nghiệp bổ sung 2% dịch cá thủy phân, 0,2% chitosan (50 kDa), enzym protease và amylase (1,5 U/100 mg thức ăn) cùng 0,1% cholesterol. Mẫu sau thu hoạch được cấp đông và vận chuyển ra Viện Hóa học các hợp chất thiên nhiên (Hà Nội). Luận án được thực hiện trong giai đoạn đến năm 2021 với sự phối hợp phân tích từ Viện Kiểm nghiệm An toàn vệ sinh thực phẩm quốc gia và Cục An toàn thực phẩm.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tổng quan hệ thống phân loại học chi Scylla. Ban đầu chi này chỉ ghi nhận loài S. serrata (Forskal, 1775). Năm 1949, Estampador phân lập 3 loài và 1 thứ tại Philippines. Năm 1952, Serene nghiên cứu mẫu vật tại miền Nam Việt Nam và phân thành 4 loài. Đến năm 1998, Keenan và cộng sự đã chuẩn hóa phân loại chi Scylla thành 4 loài thông qua điện di allozym, giải trình tự ADN ti thể và hình thái học: Scylla serrata, Scylla tranquebarica, Scylla paramamosain và Scylla olivacea. Tại Việt Nam, Clive P. Keenan xác định cua xanh vùng cửa sông Mê Kông là S. paramamosain; kết quả khảo sát của Nguyễn Cơ Thạch cho thấy S. paramamosain chiếm trên 90% trong tổng số 3.000 mẫu cua bùn thu thập tại miền Trung.
| Tên loài |
Đặc điểm gai thùy trán |
Đặc điểm gai cổ chân và cẳng chân |
Hoa văn đa giác |
| Scylla serrata |
Gai cao, nhọn |
Các cặp gai lớn rõ ràng trên cổ chân và cẳng chân |
Xuất hiện rõ ràng trên tất cả các phần phụ |
| Scylla tranquebarica |
Gai vừa phải, không nhọn |
Các cặp gai lớn rõ ràng trên cổ chân và cẳng chân |
Xuất hiện ở hai cặp chân cuối, mờ hoặc không có ở phần khác |
| Scylla paramamosain |
Hình tam giác, cao vừa phải |
Đôi gai lớn rõ trên cổ chân; cẳng chân không có gai trong, ít gai ngoài |
Xuất hiện trên hai cặp chân cuối, mờ hoặc không có ở phần khác |
| Scylla olivacea |
Gai thấp và tròn |
Cặp gai giảm rõ rệt trên cổ chân; cẳng chân không gai trong, ít gai ngoài |
Không xuất hiện trên các phần phụ |
Về thành phần hóa học cua biển, tác giả điểm lại các công trình tiêu biểu: Spindler (1986) nghiên cứu nồng độ ecdysteroid ở ấu trùng cua nhện Hyas aruneus L. (zoea I: 93 pg, zoea II: 137 pg, megalopa: 16,5 pg; ecdysteroid chính là 20-hydroxyecdysone). MacPherson (1998) xác định 26 axit béo và 6 dạng phospholipid trên cua móng ngựa Limulus polyphemus, trong đó phosphatidylethanolamine (PE) chiếm 42,2% và phosphatidylcholine (PC) chiếm 36,3%. Mehmet (2004) phân tích axit béo trên Charybdis cruciate và Potamon potamon, ghi nhận axit arachidonic (20:4 n-6) đạt cao nhất trong gan tụy. Vilasoa-Martinez (2007) phân tích mai và thịt cua tuyết Chionoecetes opilio, xác định hàm lượng protein đạt 35,5 và 33,0 g/100g mẫu khô với arginin và lysin chiếm ưu thế. Wu và cộng sự (2010) khảo sát Portunus pelagicus, ghi nhận axit béo không no ở thịt đạt 36–39%, cao hơn gan tụy (16–18%). Sakthivel (2014) tìm thấy canxi (209,3 mg/100g), kali (115,3 mg/100g) và vitamin A (19,64 mg/100g) ở Sesarma brockii. Ke-Ji Jiang (2014) khảo sát S. paramamosain, P. trituberculatus, E. sinensis, ghi nhận axit amin thịt chiếm 72% khối lượng khô. Ramamoorthy (2016) công bố protein của Charybdis lucifera đạt 22,57%.
Đối với chi Scylla, Alava (2007) ghi nhận lipid buồng trứng S. serrata tăng từ 82,7 lên 337,8 mg/g ở cua tự nhiên và 118,2 lên 450,2 mg/g ở cua nuôi lồng trong quá trình thành thục. Anas (2009) xác định lipid tổng của S. serrata hoang dã là 0,65% và cua nuôi là 0,56%. Mohapatra (2009) chứng minh khoáng K, Ca, Mn, Cu tái hấp thu từ mai vào thịt trong quá trình lột xác, trong khi kim loại độc Pb bị giữ lại ở mai cứng. Sarower (2013) phân tích S. serrata ở Bangladesh, xác định protein trứng cua cái đạt 43,38%. Fantong Meng (2017) khảo sát S. paramamosain tại Hải Nam, ghi nhận protein trong bộ phận sinh dục đạt 33,10–35,53% và thịt càng đạt 17,80–21,66%.
Về hoạt tính sinh học, tác giả điểm lại hệ enzym chống oxy hóa (SOD, CAT, GR, GPx) cùng các phân tử nhỏ (glutathione, acid ascorbic, acid uric, carotenoid, chitosan). Các peptide kháng khuẩn (AMP) được ghi nhận gồm Scygonadin (Imjongjirak, 2009), SSAP (Yedery và Reddy, 2009), ALF và crustin (Sun, 2015), Ab-Hcy (Velayutham và Munusamy, 2016). Về độc tính tế bào, Rethna Priya (2013) ghi nhận dịch chiết lipid cua P. vigil, P. sanguinolentus, C. feriatus ức chế 5 dòng tế bào ung thư với IC50 từ 75–100 µg/ml. Hoạt tính kháng khuẩn của lipid biển được Pravat M. (2013) kiểm chứng trên hải miên Fasciospongia cavernosa (MIC 25 µg). Oshima và Segawa chỉ ra khả năng chống oxy hóa hiệp đồng giữa phospholipid (PE, PC) và tocopherol.
Về công nghệ enzym, Sara A. thủy phân phụ phẩm cua xanh Callinectes sapidus bằng alcalase 750L và bromelain. Tại Việt Nam, Nguyễn Thị Mỹ Hương (2013) dùng Protamex thủy phân đầu cá ngừ vây vàng và phối hợp Protamex với Flavourzyme thủy phân sò lông; Trần Thị Bích Thủy (2016) thủy phân cá trích bằng Protamex đạt độ thủy phân 70,87%; Vũ Ngọc Bội (2015) dùng alcalase và bromelain thủy phân moi biển thu dịch đạm 24,73 gN/l; Lý Thị Minh Phương (2008) dùng allzyme FD thủy phân hàu biển.
Khoảng trống được luận án lựa chọn giải quyết là: Chưa có nghiên cứu toàn diện nào về thành phần hóa học chi tiết (nhất là các dạng phân tử phospholipid phân cực bằng khối phổ phân giải cao), biến động ecdysone - cholesterol trong chu kỳ lột xác của S. paramamosain tại Việt Nam; chưa có quy trình công nghệ kết hợp enzym protease (bromelain) và chitinase để thủy phân hoàn toàn nguyên con cua lột; chưa áp dụng phương pháp bề mặt đáp ứng (RSM) để tối ưu hóa đồng thời quá trình thủy phân và sấy phun; chưa đánh giá hoạt tính chống loãng xương in vitro trên dòng tế bào MC3T3-E1 của sản phẩm bột thủy phân để ứng dụng sản xuất thực phẩm chức năng dạng bột dinh dưỡng và viên nén.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên cơ sở lý thuyết về phản ứng thủy phân protein bằng enzym theo phương trình động học xúc tác:
$$\text{E} + \text{S} \rightleftharpoons \text{ES} \rightarrow \text{P} + \text{E}$$
trong đó E là enzym, S là cơ chất, ES là phức hợp enzym - cơ chất và P là sản phẩm phân giải (polypeptid, oligopeptid, axit amin). Độ thủy phân (Degree of Hydrolysis - DH) được xác định theo phương pháp đo nhóm $\alpha$-amino bậc 1 tự do bằng thuốc thử ortho-phthalic aldehyde (OPA) với chất chuẩn L-glutathion:
$$\text{DH} = \left(\frac{h}{h_{tot}}\right) \times 100%$$
với $h$ là số mol nhóm $\alpha$-amino giải phóng trên 1 kg protein và $h_{tot}$ là số mol nhóm $\alpha$-amino tối đa khi thủy phân hoàn toàn cơ chất.
Cơ sở tối ưu hóa quy trình dựa trên lý thuyết quy hoạch thực nghiệm theo Phương pháp Bề mặt Đáp ứng (Response Surface Methodology - RSM) với các mô hình Box-Wilson, Box-Hunter hoặc Box-Behnken, xử lý thống kê bằng phần mềm Design Expert 12.0 của hãng Stat-Ease. Mô hình toán học hồi quy bậc 2 được đánh giá thông qua phân tích phương sai ANOVA, hệ số tương quan và kiểm chứng thực nghiệm.
Hệ thống phương pháp phân tích thành phần hóa học bao gồm:
- Độ ẩm xác định theo TCVN 3700-90; tro toàn phần theo TCVN 5105:2009; protein tổng số xác định bằng phương pháp Kjeldahl theo TCVN 3705:1990.
- Thành phần axit amin được định lượng bằng hệ thống HPLC Agilent 1200, cột tách ZORBAX Eclipse-AAA, tạo dẫn xuất tự động với OPA và FMOC-Cl qua bộ lấy mẫu G1329B, phát hiện bằng đầu dò huỳnh quang FLD G1315B.
- Hàm lượng lipid tổng xác định theo phương pháp trích ly Bligh & Dyer cải tiến có hỗ trợ siêu âm. Các lớp chất lipid được phân tách bằng sắc ký lớp mỏng (TLC) và định lượng mật độ quang trên máy Sorbfil TLC Videodensitometer (LB Nga) theo Imbs A.
- Thành phần axit béo được chuyển thành dạng methyl ester (FAME) bằng tác nhân H2SO4/MeOH 2% theo Carreau & Dubacq (1978) và phân tích trên GC/GC-MS theo tiêu chuẩn ISO/FDIS 5590:1998.
- Các dạng phân tử lipid phân cực và phospholipid được xác định bằng hệ thống HPLC ghép khối phổ phân giải cao (HPLC-HRMS) theo phương pháp của Imbs (2015) và Sikorskaya (2018).
- Khoáng đa lượng và vi lượng (Ca, Mg, Na, K, P, Fe, Zn) phân tích bằng quang phổ phát xạ plasma cảm ứng ICP-OES theo AOAC 2011.14; Cu và Mn phân tích theo AOAC 2015.01.
- Vitamin A, D, E phân tích bằng LC-MS/MS theo AOAC 992.06; vitamin K theo TCVN 8974:2011; vitamin B2, B3 theo AOAC 2015.
- Cholesterol định lượng theo TCVN 12385:2018 và phương pháp của Maria A. Hormon ecdysone phân tích bằng HPLC theo quy trình của Soumoff (1985) và Lafont R. (1994).
Phương pháp đánh giá hoạt tính sinh học:
- Hoạt tính kháng viêm in vitro: Đánh giá khả năng ức chế sản sinh oxit nitric (NO) trên dòng tế bào đại thực bào RAW 264.7 bị kích hoạt bởi lipopolysaccharide (LPS) theo phương pháp của Liao H.
- Hoạt tính chống oxy hóa: Xác định mức độ ức chế peroxy hóa lipid thông qua định lượng malondialdehyde (MDA assay) theo Jelili A.
- Độc tính tế bào: Đánh giá trên các dòng tế bào ung thư (HepG-2, HL-60, HT-29, LU-1, MCF-7, SK-Mel 2, SW-480, LNCaP) bằng phương pháp đo độ hấp thụ MTT hoặc nhuộm protein Sulforhodamine B (SRB).
- Hoạt tính chống loãng xương in vitro: Thử nghiệm trên dòng tế bào tiền nguyên bào xương MC3T3-E1 theo Alcantara E., đo 3 chỉ số đặc trưng: hoạt độ enzym alkaline phosphatase (ALP), mức độ tổng hợp collagen ngoại bào và khả năng khoáng hóa (lắng đọng khoáng).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về cua Scylla spp.
Chương 1 tổng thuật các đặc điểm sinh học, phân loại, kỹ thuật nuôi và các công bố hóa học - sinh học về chi cua bùn Scylla. Cua bùn trải qua 3 giai đoạn chính trong chu kỳ lột xác: tiền lột xác (premolt), giữa chu kỳ (intermolt) và sau lột xác (postmolt). Chu kỳ này chịu sự điều hòa chặt chẽ của hormon nội sinh (ecdysone) và các yếu tố môi trường. Tại Thái Lan, tỉnh Ranong đã chuyển đổi từ kỹ thuật cắt chân (tỷ lệ chết 50%) sang nuôi cua trong từng rổ riêng biệt (tỷ lệ chết giảm còn 20–30%), đạt sản lượng 150–200 tấn cua lột/tháng. Tại Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Ngọc (2016) trên hệ thống nước chảy tuần hoàn đạt tỷ lệ lột trên 90%, năng suất 200–300 kg/100 m2/tháng với chu kỳ nuôi 25–35 ngày.
Chương này cũng phân tích tổng quan các công bố quốc tế về hàm lượng protein, lipid, axit béo không no cao phân tử (EPA, DHA, AA), các enzym chống oxy hóa, các peptit kháng khuẩn (AMP) của cua biển; đồng thời làm rõ cơ sở lý thuyết của công nghệ thủy phân protein bằng enzym protease, động học phản ứng, các yếu tố ảnh hưởng (nhiệt độ, pH, tỷ lệ E/S, thời gian) và ứng dụng phương pháp bề mặt đáp ứng RSM cùng phần mềm Design Expert 12.0 trong tối ưu hóa các quá trình công nghệ.
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết nguồn nguyên liệu cua lột Scylla paramamosain thu thập từ mô hình nuôi tuần hoàn kiểm soát nghiêm ngặt. Cua nguyên liệu được xử lý sơ chế: rửa sạch, làm ngất nhiệt, tách bỏ mang, phân chia các phần mẫu phục vụ phân tích hóa học và công nghệ chế biến.
Chương này xây dựng toàn bộ quy trình thực nghiệm: thiết lập đường chuẩn L-glutathion xác định độ thủy phân DH qua OPA; quy trình chiết tách và dẫn xuất hóa FAME cho GC/GC-MS; điều kiện sắc ký lỏng HPLC-HRMS trên cột Diol để phân tách các phân lớp lipid phân cực; các tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế (TCVN, AOAC, ISO) cho phân tích ẩm, tro, protein, khoáng chất và vitamin. Đồng thời, chương 2 thiết lập quy trình bố trí thí nghiệm đơn yếu tố và quy hoạch RSM (Box-Behnken) cho hai công đoạn công nghệ cốt lõi: thủy phân bằng tổ hợp enzym (bromelain và chitinase) và sấy phun tạo bột; cuối cùng là giao thức nuôi cấy và thử nghiệm sinh học in vitro trên tế bào RAW 264.7, MC3T3-E1 cùng các dòng tế bào ung thư.
Kết quả và thảo luận
Kết quả nghiên cứu của luận án được trình bày tập trung trong 6 phân đoạn chính từ mục 4.1 đến mục 4.6:
1. Thành phần hóa học của cua lột Scylla paramamosain
Phân tích thành phần cơ bản của cua lột cho thấy hàm lượng protein và khoáng chất chiếm tỷ lệ cao trong chất khô. Cua lột chứa đầy đủ các vitamin thiết yếu (A, D, E, K, B2, B3) và các khoáng chất đa lượng, vi lượng gồm Ca, Mg, P, Na, K, Fe, Zn, Cu, Mn (Bảng 4.1, 4.2, 4.3). Mai mềm sau lột xác tích lũy lượng canxi và phospho hữu cơ dễ tiêu hóa.
Phân tích axit amin (Bảng 4.4) xác định được các axit amin thiết yếu (EAA) và không thiết yếu (NEAA), trong đó các axit amin tạo vị ngọt và hương vị đậm đà (axit glutamic, axit aspartic, arginin, alanin, glycin, leucin, lysin) chiếm tỷ trọng lớn.
Phân tích lipid tổng (Bảng 4.5, 4.6) ghi nhận sự có mặt của lipid không phân cực (NL) và lipid phân cực (Pol). Thành phần axit béo gồm các axit béo no (SFA như 16:0, 18:0), axit béo không no một nối đôi (MUFA như 18:1n-9) và axit béo không no đa nối đôi (PUFA/HUFA) có giá trị sinh học cao như axit arachidonic (AA, 20:4n-6), axit eicosapentaenoic (EPA, 20:5n-3) và axit docosahexaenoic (DHA, 22:6n-3).
Bằng kỹ thuật HPLC-HRMS, tác giả lần đầu tiên làm rõ các phân lớp phospholipid phân cực và xác định chính xác công thức phân tử, cấu trúc phân mảnh của từng dạng phân tử (Bảng 4.7–4.12, Hình 4.2–4.8):
- Phosphatidylethanolamine: xác định PE 38:5 [C43H76NO7P], PE 38:6 [C43H74NO8P].
- Phosphatidylcholine: xác định PC 34:1 [C42H82NO8P].
- Phosphatidylserine: xác định PS 38:5 [C44H76NO10P].
- Phosphatidylinositol: xác định PI 38:5 [C47H81O13P].
- Các dạng lyso-phospholipid: LPE 20:5 [C25H42NO7P] và LPC 20:5 [C28H48NO7P].
Luận án làm sáng tỏ quy luật biến động tương quan giữa hàm lượng cholesterol và hormon ecdysone trong các pha của chu kỳ lột xác cua bùn (Bảng 4.13, Hình 4.9, 4.10).
2. Hoạt tính sinh học của các lớp chất lipid
Các phân đoạn lipid từ cua lột thể hiện các hoạt tính sinh học rõ rệt:
- Kháng viêm: Ức chế phụ thuộc nồng độ sự sản sinh NO trên tế bào RAW 264.7 kích thích bằng LPS (Bảng 4.14).
- Chống oxy hóa: Ức chế mạnh quá trình peroxy hóa lipid màng thông qua thử nghiệm định lượng malondialdehyde (MDA) (Bảng 4.15).
- Độc tính tế bào ung thư: Khảo sát trên 5 dòng tế bào ung thư (HepG-2, HL-60, HT-29, LU-1, MCF-7) cho thấy phân đoạn lipid thể hiện khả năng ức chế sinh trưởng tế bào ở các mức độ khác nhau (Bảng 4.16).
3. Xây dựng và tối ưu hóa quy trình thủy phân cua lột bằng enzym
Luận án lựa chọn tổ hợp enzym protease thực vật (bromelain) kết hợp chitinase để phân giải đồng thời khối cơ thịt và lớp vỏ mai mềm chitin mỏng. Khảo sát đơn yếu tố xác định khoảng ảnh hưởng của pH, nhiệt độ, tỷ lệ nước/nguyên liệu, nồng độ bromelain, nồng độ chitinase và thời gian phản ứng đến độ thủy phân DH và hàm lượng peptid hòa tan (Hình 4.11–4.17).
Sử dụng phương pháp bề mặt đáp ứng RSM trên phần mềm Design Expert 12.0 (Bảng 4.18–4.21, Hình 4.18–4.20), tác giả thiết lập ma trận thực nghiệm, phân tích phương sai ANOVA khẳng định độ tin cậy của mô hình hồi quy bậc 2 và xác định bộ thông số công nghệ tối ưu cho quá trình thủy phân. Kết quả thực nghiệm kiểm chứng tại điều kiện tối ưu hoàn toàn phù hợp với giá trị dự đoán lý thuyết (Bảng 4.22). Phân tích khoáng chất của mai và vỏ mềm trước và sau thủy phân (Bảng 4.17) chứng minh khoáng canxi và phospho được chuyển giao hiệu quả vào dịch đạm thủy phân.
4. Xây dựng và tối ưu hóa quy trình sấy phun sản phẩm thủy phân
Để làm khô dịch thủy phân mà vẫn bảo toàn dinh dưỡng và hoạt tính sinh học, công nghệ sấy phun ly tâm được áp dụng. Tác giả khảo sát ảnh hưởng của 3 biến công nghệ: tốc độ đĩa phun, nhiệt độ không khí sấy đầu vào và tốc độ bơm nạp dịch đến hai hàm mục tiêu là hàm lượng protein tổng (Y1) và độ ẩm sản phẩm bột (Y2) (Bảng 4.23, 4.26, 4.27).
Ứng dụng mô hình tối ưu hóa RSM đa mục tiêu (Bảng 4.24, 4.25, 4.28, 4.29, Hình 4.21–4.23) đã xác định được chế độ sấy phun tối ưu, giúp thu nhận bột cua lột thủy phân có độ ẩm đạt chuẩn bảo quản thấp, hàm lượng protein hòa tan cao và màu sắc cảm quan đồng đều (Bảng 4.30).
5. Sản xuất bột cua lột thủy phân ở quy mô pilot
Luận án hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất bột cua lột thủy phân ở quy mô pilot (Hình 4.24). Sản phẩm bột thu được có hàm lượng axit amin toàn phần cân đối (Bảng 4.31) và giàu khoáng canxi, magie, phospho sinh học (Bảng 4.32).
Thử nghiệm hoạt tính chống loãng xương in vitro trên dòng tế bào tiền nguyên bào xương MC3T3-E1 (Bảng 4.33–4.36) chứng minh:
- Bột thủy phân không gây độc và thúc đẩy sự phát triển của tế bào MC3T3-E1.
- Kích thích gia tăng rõ rệt hoạt độ enzym alkaline phosphatase (ALP).
- Tăng cường sinh tổng hợp mạng lưới collagen ngoại bào.
- Gia tăng đáng kể mật độ lắng đọng khoáng (tạo mầm khoáng hóa xương).
6. Bào chế sản phẩm có tác dụng tăng cường sức khỏe
Từ bột cua lột thủy phân giàu dinh dưỡng và có hoạt tính chống loãng xương, luận án xây dựng công thức và quy trình bào chế 2 dòng sản phẩm thực phẩm bảo vệ sức khỏe:
- Sản phẩm bột dinh dưỡng "Forté Kid": Dùng hỗ trợ chống còi xương ở trẻ em. Tác giả khảo sát tỷ lệ phối trộn các thành phần bột dinh dưỡng đạt chỉ tiêu cảm quan tối ưu (Bảng 4.37), xây dựng quy trình bào chế (Hình 4.25) và tiêu chuẩn cơ sở kiểm tra chất lượng (Bảng 4.38).
- Sản phẩm viên "Boness": Hỗ trợ chống loãng xương cho người lớn tuổi. Tác giả khảo sát lựa chọn tá dược độn, tá dược dính, tá dược trơn phù hợp (Bảng 4.39), hoàn thiện quy trình bào chế dạng viên (Hình 4.27) và công bố tiêu chuẩn chất lượng thành phẩm (Bảng 4.40).
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án của NCS. Nguyễn Thị Phương Lan mang lại các đóng góp mới về mặt khoa học lý luận và thực tiễn công nghệ:
Về lý luận và khoa học cơ bản:
- Cung cấp bộ dữ liệu khoa học đầy đủ, có hệ thống đầu tiên tại Việt Nam về thành phần hóa học cơ bản, khoáng chất vi lượng, axit amin, axit béo không no (EPA, DHA, AA) và các nhóm vitamin của cua bùn Scylla paramamosain ở giai đoạn lột xác.
- Lần đầu tiên phân lập và nhận dạng cấu trúc phân tử chính xác của 6 phân lớp phospholipid phân cực (PE, PC, PS, PI, LPE, LPC) từ cua lột bằng phương pháp HPLC-HRMS hiện đại.
- Phát hiện quy luật biến động hàm lượng và mối tương quan giữa cholesterol và ecdysone trong chu kỳ lột xác của cua bùn Scylla paramamosain.
- Cung cấp bằng chứng thực nghiệm in vitro chứng minh dịch chiết lipid có hoạt tính kháng viêm (ức chế NO trên RAW 264.7), ức chế peroxy hóa lipid (MDA) và gây độc tế bào ung thư; bột đạm thủy phân có hoạt tính kích thích tế bào tiền nguyên bào xương MC3T3-E1 thông qua kích hoạt ALP, tổng hợp collagen và khoáng hóa.
Về công nghệ và thực tiễn ứng dụng:
- Xây dựng thành công quy trình công nghệ thủy phân cua lột bằng tổ hợp enzym protease (bromelain) và chitinase, phân giải triệt để cả phần thịt và vỏ mai mềm chitin mỏng.
- Tối ưu hóa thành công các thông số công nghệ của hai quá trình thủy phân enzym và sấy phun bằng phương pháp bề mặt đáp ứng RSM (phần mềm Design Expert 12.0).
- Thiết lập quy trình sản xuất bột cua lột thủy phân ở quy mô pilot ổn định, kiểm soát được các chỉ tiêu dinh dưỡng và an toàn vệ sinh thực phẩm.
- Bào chế thành công 2 sản phẩm thực phẩm chức năng bảo vệ sức khỏe có tính khả thi thương mại cao: bột dinh dưỡng "Forté Kid" hỗ trợ phòng chống còi xương ở trẻ em và viên "Boness" hỗ trợ phòng ngừa loãng xương ở người cao tuổi.
Kiến nghị từ luận án:
- Cần tiếp tục nghiên cứu thử nghiệm tiền lâm sàng (in vivo trên mô hình động vật thực nghiệm) và thử nghiệm lâm sàng trên người đối với hai chế phẩm Forté Kid và Boness để củng cố đầy đủ hồ sơ y dược học.
- Đề xuất chuyển giao quy trình công nghệ sấy phun và thủy phân enzym quy mô pilot cho các cơ sở công nghiệp chế biến thực phẩm nhằm đa dạng hóa sản phẩm giá trị gia tăng từ ngành nuôi cua lột trong nước.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế:
- Các đánh giá hoạt tính sinh học (chống loãng xương, kháng viêm, chống peroxy hóa lipid và độc tính tế bào ung thư) trong luận án hoàn toàn thực hiện ở mức độ in vitro trên các dòng tế bào nuôi cấy mô, chưa triển khai đánh giá in vivo trên động vật sống.
- Quy mô sản xuất thực nghiệm mới dừng lại ở mức pilot trong phòng thí nghiệm và xưởng thực nghiệm bán công nghiệp, chưa tiến hành sản xuất liên tục ở quy mô đại trà công nghiệp.
- Mẫu cua nghiên cứu tập trung duy nhất vào loài Scylla paramamosain thu thập từ mô hình nuôi tuần hoàn kiểm soát tại miền Trung, chưa so sánh mở rộng với các loài cua bùn khác (S. serrata, S. olivacea, S. tranquebarica) hoặc các vùng sinh thái tự nhiên khác nhau.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Tiến hành các thử nghiệm in vivo đánh giá khả năng cải thiện mật độ xương trên mô hình chuột bị gây loãng xương (cắt buồng trứng) hoặc chuột còi xương.
- Hoàn thiện hồ sơ tiêu chuẩn cơ sở, đánh giá độ ổn định và thời hạn bảo quản (hạn dùng) dài hạn của hai sản phẩm Forté Kid và Boness theo quy định của Bộ Y tế để phục vụ cấp phép lưu hành.
- Nghiên cứu mở rộng việc ứng dụng tổ hợp enzym bromelain - chitinase trên các phụ phẩm giáp xác lột vỏ khác.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao cho nhiều nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các ngành Kỹ thuật Hóa học, Hóa học các hợp chất thiên nhiên, Công nghệ Thực phẩm, Công nghệ Sinh học và Nuôi trồng Thủy sản có thể tham khảo phương pháp luận quy hoạch thực nghiệm RSM, cách thức phân tích định lượng phân lớp phospholipid bằng HPLC-HRMS và quy trình thử nghiệm tế bào MC3T3-E1.
- Giảng viên và cán bộ nghiên cứu tại các trường đại học, viện nghiên cứu chuyên ngành có thể sử dụng các số liệu về thành phần axit amin, axit béo, khoáng chất của cua lột làm dẫn liệu giảng dạy và so sánh học thuật.
- Các doanh nghiệp chế biến thủy sản và sản xuất thực phẩm bảo vệ sức khỏe có thể kế thừa quy trình thủy phân bằng enzym bromelain - chitinase và kỹ thuật sấy phun quy mô pilot để ứng dụng chế biến các sản phẩm giá trị gia tăng, giải quyết bài toán tiêu thụ cua lột loại 2 (cua rụng càng, rụng chân).
- Người làm chính sách và quản lý ngành thủy sản ven biển có cơ sở khoa học để định hướng quy hoạch, khuyến khích phát triển nghề nuôi cua lột tuần hoàn bền vững gắn liền với chuỗi chế biến sâu.
Câu hỏi thường gặp
1. Vì sao luận án lại sử dụng tổ hợp enzym bromelain và chitinase thay vì chỉ dùng một loại protease thông thường để thủy phân cua lột?
Cua lột tuy đã rụng lớp vỏ mai cứng nhưng toàn bộ cơ thể vẫn được bao bọc bởi một lớp vỏ mềm mỏng cấu tạo từ mạng lưới polyme chitin liên kết với protein và khoáng chất. Nếu chỉ sử dụng protease (như bromelain), enzym chỉ phân giải được các mô cơ thịt mà không thể phá vỡ hoàn toàn lớp màng chitin, dẫn đến hiệu suất thu hồi đạm và khoáng bị hạn chế. Việc phối hợp bromelain (protease) với chitinase giúp phân cắt đồng thời liên kết peptide của protein và liên kết $\beta$-1,4-glycoside của chitin, giải phóng tối đa các axit amin, peptid hòa tan cùng các khoáng chất canxi, phospho vào dịch đạm thủy phân.
2. Kỹ thuật nào đã được tác giả sử dụng để nhận dạng chính xác từng phân tử phospholipid trong cua lột?
Tác giả đã sử dụng hệ thống sắc ký lỏng hiệu năng cao ghép khối phổ phân giải cao (HPLC-HRMS) trên cột Diol. Phương pháp này cho phép phân tách các phân lớp lipid phân cực (PE, PC, PS, PI, LPE, LPC) và dựa vào các tín hiệu phổ khối ion hóa phun mù điện tử (ESI) cùng dữ liệu phân mảnh ion để xác định chính xác công thức phân tử, chiều dài chuỗi carbon và số lượng liên kết đôi của từng gốc axit béo gắn trên khung glycerol (ví dụ PE 38:5, PC 34:1, LPC 20:5).
3. Khả năng chống loãng xương của bột cua lột thủy phân được chứng minh thông qua các chỉ tiêu sinh học nào?
Hoạt tính chống loãng xương được đánh giá in vitro trên dòng tế bào tiền nguyên bào xương MC3T3-E1 qua 3 chỉ tiêu:
- Khả năng kích thích sinh tổng hợp enzym alkaline phosphatase (ALP) – dấu ấn sinh học của giai đoạn đầu biệt hóa nguyên bào xương.
- Mức độ kích thích tăng sinh tổng hợp mạng lưới collagen ngoại bào – khung chất nền protein của mô xương.
- Mức độ thúc đẩy lắng đọng khoáng (khoáng hóa xương) – giai đoạn hoàn thiện tạo khuôn xương cứng chắc.
4. Luận án đã bào chế thành công những dạng sản phẩm nào và hướng đến các đối tượng người dùng nào?
Luận án đã xây dựng công thức và quy trình bào chế cho 2 sản phẩm thực phẩm bảo vệ sức khỏe:
- Sản phẩm "Forté Kid": Dạng bột dinh dưỡng hòa tan, công thức phối trộn cân đối giàu canxi, phospho, đạm peptid và axit amin, hướng đến đối tượng trẻ em bị còi xương, suy dinh dưỡng hoặc đang trong giai đoạn phát triển chiều cao.
- Sản phẩm "Boness": Dạng viên nén/nang chứa bột cua lột thủy phân phối hợp các tá dược chuẩn hóa, hướng đến đối tượng người cao tuổi, phụ nữ tiền mãn kinh cần phòng ngừa và hỗ trợ điều trị bệnh loãng xương, thoái hóa xương khớp.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của NCS. Nguyễn Thị Phương Lan đã giải quyết một cách toàn diện và có hệ thống từ nghiên cứu cơ bản về thành phần hóa học, đặc điểm phân tử phospholipid và hoạt tính sinh học của cua bùn Scylla paramamosain giai đoạn lột xác đến nghiên cứu công nghệ chế biến sâu. Bằng việc kết hợp tổ hợp enzym bromelain - chitinase và tối ưu hóa hai công đoạn thủy phân - sấy phun qua phương pháp bề mặt đáp ứng RSM, công trình đã làm chủ quy trình sản xuất bột cua lột thủy phân giàu dinh dưỡng ở quy mô pilot. Hoạt tính chống loãng xương trên tế bào MC3T3-E1 cùng hai sản phẩm thành phẩm Forté Kid và Boness là minh chứng rõ nét cho định hướng chuyển giao khoa học công nghệ, nâng cao giá trị chuỗi sản xuất cua lột tại Việt Nam.