PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ngay từ khi ra đời CN là ngành giữ vị trí chủ đạo trong nền kinh tế, là động lực to lớn trong quá trình CNH, HĐH đất nước, đóng góp lớn vào sự tăng trưởng kinh tế của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Cùng với cơ cấu CN theo ngành, theo thành phần kinh tế, theo lãnh thổ thì TCLTCN có ý nghĩa quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả về kinh tế, xã hội và môi trường thông qua việc khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn lực phát triển. Trong những năm gần đây ngành CN tỉnh Bình Dương luôn duy trì được mức độ tăng trưởng cao, ổn định, GTSXCN tăng liên tục từ 89,2 nghìn tỷ đồng (giá hiện hành) năm 2005 lên 277,8 nghìn tỷ đồng năm 2010 và 786,3 nghìn tỷ đồng năm 2016.
Trong cơ cấu GTSXCN của cả nước năm 2016 tỉnh Bình Dương chiếm 10,4% đứng thứ hai trong 63 tỉnh và thành phố (sau TP. Trong cơ cấu GDP của tỉnh Bình Dương, ngành CN chiếm tỷ trọng cao nhất trên 60% năm 2016, tỷ lệ lao động làm việc trong ngành CN chiếm trên 60% [17]. Bình Dương là điểm sáng về phát triển ngành CN trong vùng KTTĐPN và cả nước, nằm trong tốp đầu những tỉnh có GTSXCN chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu GTSXCN của cả nước và trong cơ cấu GDP của tỉnh. Có thể nói CN là ngành chủ lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế của tỉnh trong những năm qua và đang từng bước chuyển mình để trở thành trung tâm CN lớn và hiện đại.
Ngành CN tỉnh Bình Dương ngày càng phát triển mạnh mẽ, đóng góp to lớn vào gia tăng GTSXCN vùng KTTĐPN và cả nước. Để đạt được kết quả này là do sự góp phần chủ yếu của các hình thức TCLTCN trên địa bàn tỉnh nhất là KCN. Bình Dương đã phát huy tốt thế mạnh của các hình thức TCLTCN, điều này mang lại sức bật mới cho sự phát triển KT - XH của tỉnh trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH đổi mới kỹ thuật công nghệ, tạo môi trường cạnh tranh, kích thích các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế phát triển. Trong thời gian qua các hình thức TCLTCN ở tỉnh Bình Dương đã đạt được một số thành tựu nhất định đặc biệt là các KCN đã tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động, đóng góp to lớn vào sự tăng trưởng GDP của tỉnh.
Góp phần 2 chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh ngày càng mạnh mẽ, tích cực theo hướng CNH, HĐH, tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên sự phối hợp, liên kết để phát triển giữa các hình thức TCLTCN của tỉnh chưa cao, chưa phát huy hết tiềm năng và đang còn bộc lộ một số hạn chế, vấn đề chất lượng lao động đang làm việc trong các hình thức TCLTCN chưa cao, môi trường chưa thực sự được đảm bảo. Vì vậy, tác giả chọn đề tài: “Nghiên cứu các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp ở tỉnh Bình Dương” nhằm góp phần phát triển các hình thức TCLTCN một cách khoa học, hiện đại, đạt hiệu quả cao về KT - XH và môi trường, thúc đẩy kinh tế tỉnh Bình Dương phát triển ngày càng giàu mạnh. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2.
Mục tiêu Trên cơ sở tổng quan những vấn đề lý luận và thực tiễn về các hình thức TCLTCN, đề tài có mục tiêu là phân tích thực trạng phát triển các hình thức TCLTCN ở tỉnh Bình Dương. Từ đó đề xuất các giải pháp phát triển các hình thức TCLTCN trong tương lai. Nhiệm vụ - Tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn về các hình thức TCLTCN trên thế giới và Việt Nam. - Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến các hình thức TCLTCN ở tỉnh Bình Dương.
- Phân tích thực trạng các hình thức TCLTCN ở tỉnh Bình Dương. - Đề xuất các giải pháp phát triển các hình thức TCLTCN ở tỉnh Bình Dương trong tương lai. Giới hạn nghiên cứu 3. Về nội dung Đề tài tập trung nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển các hình thức TCLTCN ở tỉnh Bình Dương dưới góc độ địa lí học.
Xác định các tiêu chí đánh giá CCN, KCN đi sâu nghiên cứu trường hợp ở tỉnh Bình Dương trong đó tập trung nghiên cứu CCN, KCN. Về lãnh thổ Nghiên cứu sự phân bố về mặt lãnh thổ của các hình thức TCLTCN trên địa bàn tỉnh Bình Dương; so sánh các CCN, KCN của Bình Dương với vùng KTTĐPN và cả nước. Về thời gian Đề tài tập trung nghiên cứu các hình thức TCLTCN tỉnh Bình Dương trong giai đoạn 2005 – 2016 và định hướng đến năm 2030. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4.
Trên thế giới Trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu của các học giả dưới nhiều góc độ, phương diện khác nhau về TCLTCN, trong đó có địa lí học. Các lý thuyết tiêu biểu về phát triển kinh tế của các học giả như: Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của A. Smith (người Scotland), lý thuyết quy luật lợi thế so sánh (lợi thế tương đối) của David Ricardo (người Anh), lý thuyết điểm trung tâm của W. Các công trình nghiên cứu của A.
Đây là những lý thuyết, công trình nghiên cứu có giá trị và ý nghĩa to lớn trong việc quản lý và phát triển lãnh thổ một cách hợp lý, hiệu quả. Hướng nghiên cứu về xác định vị trí tối ưu cho các nhà máy, xí nghiệp trên lãnh thổ, tiêu biểu có công trình nghiên cứu của Alfred. Weber (1868 - 1958) năm 1909 [88] và [91], với lý thuyết “khu vị luận CN” giải thích sự tập trung CN vào lãnh thổ do ba nguyên nhân: Thứ nhất chi phí vận tải rẻ nhất, thứ hai chi phí nhân công rẻ nhất, thứ ba là nơi các xí nghiệp tập trung có thể sử dụng phế liệu làm nguyên liệu rẻ tiền, trên cơ sở mục tiêu chính là “tối thiểu hóa chi phí sản xuất và tối đa hóa lợi nhuận”. Trong ba nguyên nhân trên thì chi phí vận tải đầu vào và đầu ra được xem có ý nghĩa quan trọng nhất vì đây là cơ sở để lựa chọn, bố trí địa điểm sản xuất.
Tùy vào tính chất của từng ngành sản xuất, từng doanh nghiệp mà việc xác định vị trí phân bố công nghiệp phải linh hoạt. Tuy nhiên việc định vị các doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều yếu tố, ngoài chi phí vận chuyển thì còn có yếu tố tự 4 nhiên như khí hậu, địa hình và yếu tố KT-XH như các hoạt động tín dụng, vốn, lịch sử chính trị xã hội. Weber coi thành phố, các cửa vào ra là những "nút" những trọng điểm của lãnh thổ. Thành phố là trung tâm thị trường, có sức hút lớn và lan tỏa ra xung quanh, tạo thành các vành đai với chức năng khác nhau để phục vụ cho trung tâm.
Việc tập trung phát triển CN sẽ tăng tiềm lực kinh tế cho vùng hội tụ có được các yếu tố thuận lợi cho sự phát triển. Trong một không gian nhất định tập trung được nhiều doanh nghiệp sẽ tạo cơ hội cho các nhà đầu tư tiết kiệm, chia sẻ chi phí đầu tư về hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật, tăng cường liên kết thực hiện chuyên môn hóa sản xuất. Bên cạnh đó lý thuyết này cũng chỉ ra những hạn chế khi mà tập trung quá nhiều các doanh nghiệp trên một không gian hẹp sẽ gây nên sự cạnh tranh và chèn ép, công tác xử lý môi trường sẽ gặp khó khăn. Lý thuyết của Alfred.
Weber có giá trị cho đến ngày nay và được vận dụng trong việc lựa chọn các vùng lãnh thổ trọng điểm cho phát triển, phù hợp với một nền kinh tế đang ở giai đoạn đầu của quá trình phát triển CN, đặc biệt là các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam. Hướng nghiên cứu về ảnh hưởng của điểm trung tâm đối với các vùng xung quanh, tiêu biểu có công trình nghiên cứu của W. Christaller là một nhà địa lí người Đức đã đưa ra lý thuyết “điểm trung tâm” vào năm 1933 [96]. Lý thuyết này được hoàn thiện trên những ý tưởng và mô hình của G.
Thunen và Alfred. Christaller đã góp phần to lớn vào việc tìm kiếm quy luật của sự phát triển đô thị theo không gian. Ông cho rằng, khu vực nông thôn chịu ảnh hưởng rất lớn từ các thành phố. Thành phố như những cực hút, hạt nhân của sự phát triển.
Thành phố là trung tâm cho tất cả các điểm dân cư khác của vùng, là đối tượng để thu hút đầu tư có trọng điểm. Theo lý thuyết này trong quy luật phân bố không gian cần phải xác định được sự tương quan giữa thành phố và vùng xung quanh, định vị được các nút trọng điểm ở những lãnh thổ khác nhau. Lý thuyết này chính là cơ sở để bố trí các điểm đô thị có khả năng phát triển thông qua lực hút từ trung tâm. Lý thuyết “điểm trung tâm” của W.
Christaller sau đó được phát triển bởi August Losch (người Đức) đã chỉ ra được quy luật chung của sự phát triển lãnh thổ là việc hình thành và phát triển những trung tâm nơi hội tụ điều kiện thuận lợi nhất cho sự phát 5 triển có sức hút và lan toả không gian vùng xung quanh rất lớn. Các điểm trung tâm ấy chính là các đô thị. Lý thuyết này cho đến ngày nay vẫn còn nhiều giá trị thực tiễn, đặc biệt trong mối quan hệ 2 chiều giữa CNH với ĐTH. Điều này được thể hiện rõ nét hơn khi nghiên cứu địa bàn tỉnh Bình Dương, chính quá trình ĐTH là hạt nhân để phát triển CN, tạo nên các trung tâm CN và ngược lại CN phát triển tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật, hạ tầng cần thiết tạo sức hút cho sự phát triển các đô thị.
Tuy nhiên nếu trên một lãnh thổ các yếu tố về địa hình, dân số, tài nguyên, sức mua, chi phí vận chuyển đồng đều nhau thì việc vận dụng lý thuyết này sẽ không khả thi. Nghiên cứu về các cực phát triển, cực tăng trưởng tiêu biểu có lý thuyết của nhà bác học người Pháp Francoi Perroux (1903 - 1987) [theo 90] đã đưa ra lý thuyết “cực phát triển” vào năm 1950. Ông quan niệm các đô thị chính là các “cực” phát triển. Hệ thống các cực phát triển tương tác với nhau, có sức lan toả ra xung quanh rất lớn.
Trong các đô thị thì ngành CN và DV có vai trò to lớn trong việc tạo ra các cực phát triển.