Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ MÔI TRƯỜNG TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về môi trường trong các khu công nghiệp 1. Các khái niệm có liên quan 1. Khái niệm môi trường Môi trường bao gồm các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người, sinh vật và tự nhiên (Quốc Hội, 2022).
Môi trường được chia thành các loại: Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con người. Ðó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí, động, thực vật, đất, nước. Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng cấy, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng sản cần cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng hoá các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống con người thêm phong phú. Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người với người.
Ðó là những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định. ở các cấp khác nhau như: Liên Hợp Quốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể,. Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác. Ngoài ra, người ta còn phân biệt khái niệm môi trường nhân tạo, bao 5 gồm tất cả các nhân tố do con người tạo nên, làm thành những tiện nghi trong cuộc sống, như ôtô, máy bay, nhà ở, công sở, các khu vực đô thị, công viên nhân tạo.
Hiểu theo nghĩa rộng môi trường là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội. Theo nghĩa hẹp môi trường không xét tới tài nguyên thiên nhiên, mà chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống con người. Tóm lại, môi trường là tất cả những gì có xung quanh ta, cho ta cơ sở để sống và phát triển. Khái niệm về khu công nghiệp Theo Nghị định số 35/2022/NĐ-CP của Chính phủ quy định về quản lý KCN và KKT thì: KCN là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định của Chính phủ (Chính Phủ, 2022).
Theo Khoản 16 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2020, KCN là khu vực có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp (Quốc Hội, 2020). Như vậy, Khái niệm về khu công nghiệp đang tồn tại nhiều cách định nghĩa khác nhau. Tuy nhiên, bản chất đều có sự tương đồng, tổng hợp các quy định của pháp luật hiện nay, khái niệm KCN được hiểu một cách đầy đủ là: Khu vực chuyên sản xuất công nghiệp và dịch vụ cho sản xuất công nghiệp; có ranh giới xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định của Chính phủ. KCN có những đặc điểm cơ bản sau đây: - Là khu vực tập trung nhiều doanh nghiệp, xí nghiệp công nghiệp 6 trong một khu vực có ranh giới rõ ràng, sử dụng chung kết cấu hạ tầng như hệ thống cung cấp điện, nước; chung hệ thống xử lý nước thải, khí thải và các loại chất thải khác; chung giá thành sử dụng cơ sở hạ tầng và các dịch vụ liên quan.
Đầu ra của các doanh nghiệp còn có thể gắn bó với nhau như sản phẩm của nhà máy này còn là linh kiện phụ tùng cho sản phẩm của nhà máy kia, hoặc là nguyên liệu cho nhà máy kia…Vì vậy, các xí nghiệp này tiết kiệm tối đa chi phí sản xuất, hạ giá thành của sản phẩm, cũng chính là tiết kiệm được chi phí cho xã hội. - Các doanh nghiệp trong KCN được hưởng quy chế riêng và ưu đãi riêng theo quy định của Chính phủ và cơ quan địa phương. - KCN là mô hình tổng hợp phát triển kinh tế với nhiều thành phần nhiều hình thức sở hữu khác nhau cùng tồn tại (Đan Đức Hiệp, 2015). Khái niệm quản lý nhà nước a.
Quản lý Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học trong đó có cả khoa học xã hội lẫn khoa học tự nhiên. Mỗi ngành nghiên cứu về góc độ quản lý theo ý kiểu riêng của mình và đưa ra khái niệm riêng về quản lý. Theo Đại từ điển tiếng việt Nhà xuất bản Văn hóa thông tin Hà Nội thì: Nội dung thuật ngữ quản lý có nhiều cách hiểu khác nhau. Nhưng với ý nghĩa thông thường phổ biến thì Quản lý có thể hiểu là hoạt động, tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi của con người nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng theo mục tiêu đã định.
Quản lý bao gồm: Chủ thể quản lý, Đối tượng quản lý và Khách thể quản lý. - Chủ thể quản lý: là tác nhân tạo ra các tác động quản lý, chủ thể luôn là con người hoặc tổ chức. Chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý 7 bằng các công cụ với những phương pháp thích hợp theo các nguyên tắc nhất định. - Đối tượng quản lý: là đối tượng tiếp nhận trực tiếp từ tác động của chủ thể quản lý.
Tùy theo từng loại đối tượng khác nhau mà người ta chia thành các dạng quản lý khác nhau. - Khách thể quản lý: là sự tác động hay điều chỉnh của chủ thể quản lý, đó là các hành vi của con người các quá trình xã hội. Quản lý ra đời nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả trong công việc. Thực chất quản lý con người, quản lý xã hội để phát huy cao nhất khả năng của con người, ổn định và phát triển xã hội theo định hướng đã đề ra.
Quản lý nhà nước Khi nhà nước xuất hiện thì phần lớn các công việc đều do nhà nước quản lý. Quản lý nhà nước là hoạt động của nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của nhà nước. Quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội, trật tự pháp luật nhằm thực hiện chức năng và nhiệm vụ của nhà nước. Khái niệm quản lý nhà nước theo nghĩa rộng, là hoạt động tổ chức, điều hành của bộ máy nhà nước, nghĩa là bao hàm cả sự tác động, tổ chức của quyền lực nhà nước trên các phương diện lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Theo cách hiểu này, quản lý nhà nước được đặt trong cơ chế Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân lao động làm chủ. Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước chủ yếu là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người theo pháp luật nhằm đạt được những mục tiêu yêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nước. Đồng thời, cơ quan quản lý nhà 8 nước nói chung còn thực hiện các hoạt động có tính chất chấp hành, điều hành, tính chất hành chính nhà nước nhằm xây dựng tổ chức bộ máy và củng cố chế độ công tác nội bộ của mình. Như vậy, quản lý nhà nước là các hoạt động quản lý của nhà nước, được thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nước được giao, uỷ quyền thay mặt nhà nước để thực hiện các chức năng quản lý theo từng lĩnh vực đời sống kinh tế xã hội.
Quản lý nhà nước thực chất là sự quản lý có tính chất nhà nước, do nhà nước thực hiện thông qua bộ máy nhà nước trên cơ sở quyền lực nhà nước nhằm thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của Chính phủ là hệ thống cơ quan được thành lập để chuyên thực hiện hoạt động quản lý nhà nước. Khái niệm quản lý nhà nước về môi trường QLNN về MT là nhiệm vụ của mỗi quốc gia và toàn nhân loại, là chức năng của các cơ quan nhà nước, các cơ quan sự nghiệp liên quan, là trách nhiệm của các tổ chức KT-XH cũng như mỗi cộng đồng, mỗi cá nhân. Hiện nay chưa có một khái niệm thống nhất về QLNN về MT. Có thể tham khảo một số khái niệm sau: Quản lý nhà nước về môi trường là một hoạt động trong lĩnh vực quản lý xã hội có tác dụng điều chỉnh các hoạt động của con người dựa trên sự tiếp cận có hệ thống các kỹ năng điều phối thông tin, đối với các vấn đề môi trường có liên quan đến con người; xuất phát từ quan điểm định hướng, hướng tới sự phát triển bền vững và sử dụng hợp lý tài nguyên.
Quản lý nhà nước về môi trường là sự tác động liên tục, có tổ chức và hướng đích của chủ thể quản lý nhà nước về môi trường lên cá nhân hoặc cộng đồng người tiến hành các hoạt động phát triển trong hệ thống môi trường và khách thể quản lý môi trường, sử dụng một cách tốt nhất mọi tiềm năng và cơ hội nhằm đạt được mục tiêu quản lý môi trường đề ra, phù hợp với pháp luật và thông lệ hiện hành. Từ hai khái niệm nêu trên có thể khái quát: Quản lý nhà nước về môi 9 trường là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế - xã hội Quốc gia. Khái niệm quản lý nhà nước về môi trường trong các KCN Quản lý nhà nước về môi trường KCN là tổng hợp các biện pháp: pháp luật, chính sách, kinh tế, xã hội…nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển các KCN một các bền vững. Vai trò và phân loại khu công nghiệp 1.