Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn Quản lý tổng hợp đới bờ Chương 2: Thực trạng Quản lý tổng hợp đới bờ ven biển Hà Tĩnh Chương 3: Đề xuất giải pháp quản lý tổng hợp đới bờ ven biển Hà Tĩnh 6 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ TỔNG HỢP ĐỚI BỜ 1. Các khái niệm cơ bản về quản lý tổng hợp đới bờ Chương trình Nghị sự 21 được thông qua tại Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và Phát triển tại Rio de Janero 1992, đã thừa nhận Quản lý tổng hợp đới bờ (QLTHĐB) như là một mô hình thích hợp cho sự phát triển bền vững (PTBV) và kêu gọi các quốc gia có biển áp dụng. Hội nghị thượng đỉnh Johanesbourg 2002 một lần nữa khẳng định tầm quan trọng và nhu cầu thiết thực của QLTHĐB. Các chính phủ cùng cam kết hành động ở tất cả các cấp độ (địa phương, quốc gia, khu vực, toàn cầu), trong đó có việc tăng cường quản lý tổng hợp, đa ngành, đa lĩnh vực đối với vùng biển khơi và đới bờ; khuyến khích và giúp đỡ các quốc gia ven biển xây dựng cơ chế, chính sách QLTHĐB.
Những nỗ lực trong quản lý đới bờ theo cách tiếp cận tổng hợp bắt đầu cách đây hơn 4 thập kỷ với sự ra đời của Ủy ban Bảo tồn và Phát triển vịnh San Prancisco (1965) và Bộ luật về quản lý đới bờ của Mỹ (1972). Tuy nhiên, chỉ sau Hội nghị tại Rio de Janero, các chương trình, dự án QLTHĐB mới thực sự được xây dựng và triển khai rộng rãi ở Mỹ và một số quốc gia châu Âu. Tại khu vực, những nỗ lực đầu tiên trong QLTHĐB được thể hiện qua các chương trình quản lý tài nguyên đới bờ, triển khai tại một số nước trong khối ASEAN với sự hỗ trợ của Cơ quan Phát triển Quốc tế Mỹ vào những năm cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước. Đến nay, nhiều quốc gia tiên phong như Hàn quốc, Trung Quốc, Singapore, Phi-lip-pin… đã áp dụng rộng rãi cách tiếp cận này trong việc giải quyết các vấn đề về tài nguyên, môi trường và phát triển tại vùng biển và ven biển của mình.
Khái niệm tổng hợp là khái niệm mấu chốt của lý thuyết QLTHĐB. Tổng hợp được hiểu là sự thống nhất, hợp nhất, liên kết vào một mối chung. Tổng hợp bao hàm nhiều nghĩa, như tổng hợp giữa đất với nước, giữa hiện tại với tương lai, giữa các loại hình hoạt động khác nhau trong sử dụng tài nguyên chung, giữa phát triển và bảo tồn, giữa hệ thống tự nhiên và hệ thống kinh tế-xã hội, giữa các cấp quản lý 7 và các bên liên quan khác nhau. Tuy nhiên, các nhà chuyên môn đã phân tích và đưa ra 3 phạm trù quan trọng của tổng hợp đối với cách tiếp cận QLTHĐB: Tổng hợp theo tính hệ thống: vùng đới bờ có nước, đất, thực vật, động vật, cả ở trên cạn lẫn dưới biển và tất cả những gì liên quan đến chúng, như sông, suối, đồi, núi, rừng,…ở xung quanh.
Cần xem vùng đới bờ như một thể thống nhất, không nên quản lý tách riêng theo từng mảnh hay từng thành phần cấu tạo nên vùng đới bờ. Tổng hợp theo chức năng: vùng đới bờ có nhiều chức năng, như điều hoà khí hậu, cung cấp thực phẩm cho con người, phục vụ con người trong giao thông và phát triển cảng, nuôi trồng thủy sản, là chỗ vui chơi giải trí, du lịch, hấp thụ một phần chất thải từ lục địa. Không thể sử dụng vùng đới bờ thiếu suy xét cho một hay vài mục đích, mà không lưu ý đến các chức năng khác của nó và sự hạn chế của các chức năng đó. Tổng hợp về chính sách: đảm bảo tính thống nhất trong chính sách và các hành động quản lý vùng đới bờ, giữa các ngành như thuỷ sản, nông nghiệp, du lịch, công nghiệp, dân sinh… (tổng hợp theo chiều ngang), giữa các cấp chính quyền, các cơ quan liên quan và cộng đồng ven biển (tổng hợp theo chiều dọc).
Thế giới có rất nhiều định nghĩa QLTHĐB, nhưng sự khác nhau giữa chúng là rất ít. Hầu hết các định nghĩa đều chứa đựng nội dung là: QLTHĐB là quy trình có tính liên tục, tính tiên phong trong thực hiện và có khả năng thích nghi cao nhằm quản lý nguồn tài nguyên cho sự phát triển bền vững vùng ven bờ. QLTHĐB phải đạt được mục tiêu của nó trong các điều kiện hạn chế về môi trường, kinh tế, xã hội và tự nhiên, cũng như trong hạn chế của các hệ thống và thể chế về pháp lý. Theo Cicin - Sain B.
(1998), QLTHĐB là một quá trình được thực hiện liên tục, thông qua đó những quyết định sử dụng bền vững, phát triển và bảo vệ tài nguyên vùng ven bờ xây dựng và thực hiện. Nội dung chính là xây dựng được các thể chế và chính sách để hoà hợp các giải pháp quản lý. Khái niệm được đưa ra tại hội nghị cấp cao về Trái Đất tại Rio de Gianero, 1992 là “Quản lý đới bờ biển hay quản lý tổng hợp đới bờ biển (viết tắt tiếng Anh - QLTHĐB) là quá trình quản lí bờ biển bằng cách sử dụng các phương pháp tổng 8 hợp, đánh giá ảnh hưởng của đới bờ, bao gồm giới hạn địa lí và chính quyền, cùng nỗ lực để đạt được sự bền vững”. Tại hội nghị quốc tế về Vùng đới bờ năm 1993, Quản lý tổng hợp vùng đới bờ (QLTHĐB) được định nghĩa như sau: “QLTHĐB bao gồm việc đánh giá toàn diện, đặt ra các mục tiêu, quy hoạch và quản lý hệ thống tài nguyên ven biển, có xét đến các yếu tố lịch sử, văn hoá và truyền thống và các mâu thuẫn trong lợi ích sử dụng, là quá trình liên tục tiến triển nhằm đạt được sự phát triển bền vững”.
Tại Việt Nam, khái niệm QLTHĐB được cụ thể hóa như sau: “Quản lý tổng hợp đới bờ là phương thức quản lý nhằm đạt hiệu quả cao trong sử dụng các tài nguyên và giá trị chung tại đới bờ, giảm thiểu tác động có hại đến con người và môi trường, trên cơ sở hài hòa lợi ích giữa các ngành, cơ quan và các bên liên quan khác nhau. Nó được thiết kế để khắc phục tính phân tán của cách tiếp cận quản lý đơn ngành và theo lãnh thổ trong việc khai thác các nguồn tài nguyên, tập trung vào xây dựng cơ chế điều phối, phối hợp và huy động sự tham gia của các bên liên quan, giải quyết các mâu thuẫn giữa các ngành, các cơ quan trong sử dụng tài nguyên, không gian chung tại đới bờ cho các mục đích khác nhau. QLTHĐB là quá trình liên tục tiến triển, nhằm đạt được sự phát triển bền vững”. Do đới bờ là vùng đặc biệt, có tài nguyên phong phú, hoạt động kinh tế, xã hội sôi động và nhiều vấn đề môi trường phức tạp, cho nên khái niệm QLTHĐB đã dần trở thành một khái niệm độc lập.
Một số khái niệm cụ thể trong luận văn được tác giả xác định như sau: Đới bờ được hiểu là vùng đới bờ, là vùng chuyển tiếp giữa lục địa và biển, bao gồm vùng biển ven bờ và vùng đất ven biển; Vùng biển ven bờ là vùng biển có ranh giới ngoài cách bờ 6 hải lý; Vùng đất ven biển là vùng đất được xác định theo ranh giới hành chính bao gồm các quận, huyện, thị xã, thành phố ven biển thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (Thông tư 22/2012/TT-BTNMT) Tài nguyên biển, hải đảo là các dạng tài nguyên sinh vật, tài nguyên phi sinh vật, tài nguyên vị thế và các dạng tài nguyên khác tái tạo, không tái tạo trên các vùng đới bờ, vùng biển và hải đảo Việt Nam (Nghị định 25/2009/NĐ-CP). 9 Phát triển bền vững là sự phát triển đảm bảo duy trì lâu bền các nguồn tài nguyên thiên nhiên và chất lượng môi trường, do đó cho phép tăng trưởng kinh tế, đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến nhu cầu của các thế hệ tương lai (Hội nghị thượng đỉnh về môi trường và phát triển tại Rio De Janero 1992). Các bên liên quan là tổ chức, cá nhân và cộng động ven dân cư biển trực tiếp hoặc gián tiếp tác động hoặc bị tác động tích cực hay tiêu cực bởi chính sách, hoạt động, dự án chương trình liên quan đến khai thác, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường vùng đới bờ (Thông tư 22/2012/TT-BTNMT). Quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo là quản lý liên ngành, liên vùng bảo đảm lợi ích quốc gia, kết hợp hài hòa lợi cích của các ngành, lĩnh vực, địa phương và các tổ chức cá nhân liên quan đến việc quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên và môi trường biển, hải đảo (Nghị định 25/2009/NĐ- CP ngày 06/3/2009 của Chính phủ).
Quản lý tổng hợp đới bờ bao gồm việc đánh giá toàn diện, đặt ra các mục tiêu quy hoạch và quản lý các hệ thống tài nguyên đới bờ, có xét đến các yếu tố lịch sử, văn hóa và truyền thống, đồng thời quan tâm một cách hài hòa các lợi ích trong việc sử dụng tài nguyên. Đây là quá trình liên tục tiến triển để đạt được sự phát triển bền vững (Hội nghị Quốc tế về đới bờ năm 1993). Nội dung quản lý tổng hợp đới bờ Mục tiêu và nguyên tắc của quản lý tổng hợp đới bờ Mục tiêu QLTHĐB Mục đích chính của quản lý tổng hợp đới bờ là nhằm đạt được sự phát triển bền vững ở biển và vùng ven bờ, giảm những tác hại của thiên tai và duy trì các quá trình sinh thái chủ yếu, các hệ sinh thái đặc trưng, và đa dạng sinh học. Quản lý tổng hợp đới bờ được định hướng đa mục tiêu: nó phân tích sự liên quan của việc phát triển, sự sử dụng trái ngược nhau, và mối tương quan giữa các quá trình sinh thái với các hoạt động của con người, và nó đẩy mạnh sự liên kết và hài hòa giữa các hoạt động trên biển và ở đới ven bờ của các ngành, các địa phương.
10 Ngoài ra quản lý tổng hợp còn nhằm đảm bảo việc sử dụng bền vững nhất tài nguyên vùng đới bờ, duy trì ở mức cao sự đa dạng sinh học, và bảo vệ thực sự các sinh cảnh đang bị đe dọa. Mục tiêu cụ thể của quản lý tổng hợp ven bờ có thể bao gồm hỗ trợ nghề cá, bảo vệ cộng đồng trước thiên tai, thu hút du lịch, khuyến khích lợi ích công cộng, duy trì sản lượng từ rừng ngập mặn và bảo tồn rạn san hô.