ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tính cấp thiết của đề tài Thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa nông thôn của Đảng và Nhà nước đề ra là một trong những yếu tố có tính then chốt, là vấn đề cơ sở nông thôn. Trong đó vấn đề cung cấp nước sạch sinh hoạt cho người dân là một trong những yếu tố tiền đề quan trọng nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Nước là yếu tố chủ yếu của hệ sinh thái, là nhu cầu cơ bản của mọi sự sống trên trái đất và cần thiết cho các hoạt động kinh tế - xã hội của con người, ở đâu có nước thì ở đó có sự sống.
Con người đã từng coi tài nguyên nước là vô hạn, chính vì thế đã sử dụng một cách lãng phí, thiếu hiệu quả. Không những vậy với hoạt động sống của con người tự phát, không có quy hoạch như chặt phá rừng bừa bãi, canh tác nông nghiệp không hợp lí và thải chất thải trực tiếp vào các thủy vực đã làm cho các nguồn nước mặt, nước ngầm bị ô nhiễm nặng nề dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng. Bệnh tật, đói nghèo., do thiếu nước sạch cho sinh hoạt ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn nhất là ở những vùng ít mưa. Xuất phát từ thực trạng chung của việc sử dụng nước sinh hoạt của người dân tại các huyện vùng núi, để đánh giá được chất lượng của nước sử dụng tại địa phương, đồng thời tìm ra một số giải pháp để đáp ứng nhu cầu đang sử dụng nước sinh hoạt đạt tiêu chuẩn.
Được sự đồng ý của Ban Giám hiệu trường Đại Học Nông Lâm, Ban chủ nhiệm khoa Khoa Học Môi trường, dưới sự hướng dẫn của cô giáo T.S Trần Thị Phả - Giảng viên khoa Môi trường – Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên. Tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiện trạng môi trường nước sinh hoạt tại Thị Trấn Phủ Thông, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn” n 2 1. Mục đích, yêu cầu và ý nghĩa của đề tài 1. Mục đích của đề tài - Đánh giá hiện trạng môi trường sinh hoạt tại Thị Trấn Phủ Thông, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn.
- Nắn được tình hình sử dụng nước sinh hoạt trên địa bàn Thị Trấn Phủ Thông, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn. - Đề ra một số giải pháp cung cấp nước sạch nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng nước sạch của người dân địa phương. Yêu cầu của đề tài - Phản ánh đúng hiện trạng môi trường nước sinh hoạt tại Thị Trấn Phủ Thông, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn. - Đảm bảo số liệu đầy đủ, khách quan.
- Kết quả phân tích các thông số về chất lượng nước phải chính xác. - Đảm bảo những kiến nghị, đề nghị đưa ra tính khả thi, phù hợp với điều kiện địa phương. Ý nghĩa của đề tài - Vận dụng những kiến thức đã học vào trong nghiên cứu khoa học. - Đánh giá vấn đề thực tế và hiện trạng môi trường nước sinh hoạt.
- Từ việc đánh giá hiện trạng, đề xuất một số giải pháp phù hợp nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng nước sạch của người dân tại địa phương. n 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở lí luận của đề tài Nước và một số khái niệm liên quan: Nước được xem như một tài nguyên quý giá và cần thiết cho sự sống. Nước chi phối nhiều hoạt động của con người, thực và động vật và vận hành của thiên nhiên.
Theo định nghĩa thông thường: "Nước là một chất lỏng thông dụng. Nước tinh khiết có công thức cấu tạo gồm 2 nguyên tử hydro và một nguyên tử oxy, nước là một chất không màu, không mùi, không vị. Dưới áp suất khí trời 1 atmosphere, nước sôi ở 100°C và đông đặc ở 0°C, nước có khối lượng riêng là 1000 kg/m3". Khái niệm đơn giản về nước là như vậy, nhưng đi sâu nghiên cứu, ta thấy nước có nhiều tính chất kỳ diệu bảo đảm cho sự sống được tồn tại và phát triển.
• Nước là một dung môi vạn năng Nước có thể hòa tan được rất nhiều chất, đặc biệt là các chất khoáng và chất khí cung cấp dinh dưỡng và giúp cho sự trao đổi chất trong cơ thể sinh vật. • Nước có nhiệt dung rất lớn Nước có khả năng hấp thu rất nhiều nhiệt lượng khi nóng lên và đồng thời cũng tỏa ra nhiều nhiệt lượng khi lạnh đi. Khả năng này giúp cho nhiệt độ ban ngày trên trái đất ít nóng hơn và ban đêm đỡ lạnh đi, giúp cho sự sống khỏi sự tiêu diệt ở mức chênh lệnh nhiệt độ quá lớn. • Nước rất khó bay hơi Ở 20°C, muốn 1 lít nước bốc hơi phải tốn 539.
Đặc tính này của nước đã cứu thoát sự sống khỏi bị khô héo nhanh chóng và giúp cho các nguồn nước không bị khô hạn, làm tiêu diệt các sinh vật sống trong nó. • Nước lại nở ra khi đông đặc n 4 Khi hạ nhiệt độ xuống thấp dưới 4°C thì thể tích nước lại tăng lên. Đến điểm đông đặc 0°C, thể tích nước tăng lên khoảng 9% so với bình thường, làm băng đá nổi lên mặt nước. Nước có nhiệt độ cao hơn sẽ chìm xuống đáy giúp các thủy sinh vật tồn tại và lớp băng đá - có tính dẫn nhiệt rất kém - trở thành chiếc áo giáp bảo vệ sự sống phía dưới nó.
• Nước có sức căng mặt ngoài lớn Nhờ có sức căng mặt ngoài lớn nên nước có tính mao dẫn mạnh. Hiện tượng này có một ý nghĩa rất lớn trong việc duy trì sự sống trên trái đất, nước từ dưới đất có thể thấm đến từng ngọn cây. Trong cơ thể người và động vật, máu và dịch mô vận chuyển được đến các cơ quan nội tạng cũng nhờ khả năng mao dẫn của nước. • Nước có khả năng tự làm sạch Nước trong quá trình vận chuyển của nó khắp nơi trong thiên nhiên còn có khả năng tự làm sạch, loại bỏ một phần chất bẩn, tạo điều kiện cho chất lượng sinh thái được cải thiện.
Môi trường nước Nước bảo đảm việc duy trì sự sống và phát triển của các loài thực vật và động vật. Sự phong phú tài nguyên nước là tiền đề cho việc phát triển nông nghiệp, công nghiệp, thủy điện, giao thông vận tải, thủy hải sản và phát triển cư dân,. Nước đồng thời cũng là một tai ương cho loài người và các sinh vật khác. Nước là nguồn sống cho tất cả mọi sinh giới và là một tài nguyên quan trọng của mỗi quốc gia.
Nước đóng vai trò then chốt trong việc điều hòa nhiệt độ trên trái đất. Nước được sử dụng trong sinh hoạt, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp, thủy điện, giao thông vận tải,… Tài nguyên nước trên trái đất được đánh giá bởi ba đặc trưng: Lượng, chất lượng và động thái. n 5 • Số lượng là đặc trưng biểu thị mức độ phong phú của tài nguyên nước trên một lãnh thổ; • Môi trường nước bao gồm các đặc trưng về hàm lượng các chất hoà tan hoặc không hoà tan trong nước có lợi hoặc có hại theo tiêu chuẩn của đối tượng sử dụng; • Động thái của nước được đánh giá bởi sự thay đổi các đặc trưng dòng chảy theo thời gian, sự trao đổi nước giữa các khu vực chứa nước, sự vận chuyển và quy luật chuyển động của nước trong sông, nước ngầm, các quá trình trao đổi chất hoà tan, truyền mặn,… Môi trường nước được hiểu là môi trường mà những cá thể tồn tại, sinh sống và tương tác qua lại đều bị ảnh hưởng và phụ thuộc vào nước. Môi trường nước có thể bao quát trong một lưu vực rộng lớn hoặc chỉ chứa trong một giọt nước.
Môi trường nước là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học tự nhiên, kỹ thuật và cả kinh tế - xã hội. Trái đất của chúng ta thường xuyên chịu sự tác động của sự chuyển hóa của dòng khí quyển và thủy quyển tạo nên. Chính các hoạt động tự nhiên này đã làm thay đổi đáng kể các tính chất khí hậu, dòng chảy, đất đai, chất lượng tự nhiên và xã hội. Con người đã chú tâm từ lâu ghi nhận, tìm hiểu, phân loại và đối phó với các diễn biến thời tiết, các thay đổi dòng chảy và các biến động chất lượng để tổ chức xã hội, sản xuất, điều chỉnh cuộc sống và cải tạo điều kiện tự nhiên và phòng chống các thiên tai thảm họa có thể xảy ra.
Trong tự nhiên nước tồn tại ở cả 3 dạng: rắn, lỏng, khí, nước đóng băng ở 00C nước có khối lượng riêng lớn nhất. Khái niện về tài nguyên nước: - Tài nguyên nước là một dạng tài nguyên thiên nhiên đặc biệt, vừa vô hạn vừa hữu hạn và chính bản thân nước có thể đáp ứng cho các nhu cầu của cuộc n 6 sống ăn, uống, sinh hoạt, hoạt động công nghiệp, năng lượng, nông nghiệp, giao thông vận tải thủy, du lịch. Tài nguyên nước được phân thành 3 dạng chủ yếu theo vị trí cũng như đặc điểm hình thành, khai thác và sử dụng. Đó là nguồn nước trên mặt đất (nước mặt), nước dưới đất (nước ngầm) và nước trong khí quyển (hơi nước).
Về mặt hóa học nước có công thức là H2O (nguyên chất), tuy nhiên trong tự nhiên nước còn bao gồm nhiều các chất hòa tan, các chất lơ lửng và các sinh vật sống. Các thành phần này phụ thuộc vào điều kiện nguồn phát sinh, chất lượng xunh quanh (Dư Ngọc Thành, 2006) [8]. Cơ sở thực tiễn Nước là yếu tố hàng đầu quyết định sự tồn tại và phát triển của sinh giới. Không có nước sự sống lập tức bị rối loạn, ngưng lại và tiêu diệt.
• Nước chiếm thành phần chủ yếu trong cấu tạo cơ thể thực và động vật. Con người có khoảng 65 - 75 % trọng lượng nước trong cơ thể, đặc biệt nước chiếm tới 95 % trong huyết tương, Cá có khoảng 80 % nước trong cơ thể, cây trên cạn có 50 - 70 % nước, trong rong rêu và các loại thủy thực vật khác có 95 - 98 % là nước. • Muốn có thực phẩm cho người và gia súc cần có nước: muốn có 1 tấn lúa mì, cần 300 - 500 m3 nước, 1 tấn gạo cần tiêu thụ 1.000 m3 nước và để có 1 tấn thịt trong chăn nuôi cần tốn 20. • Lượng nước trên trái đất là một máy điều hòa nhiệt và làm cho cán cân sinh thái được cân bằng.
Sự sống thường tập trung ở các nguồn nước, phần lớn các nền văn minh, các trung tâm kinh tế, công nghiệp, nông nghiệp, khoa học kỹ thuật, văn hóa xã hội, dân cư,. đều nằm dọc theo các vùng tập trung nước.