MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của luận án Nghiên cứu dư luận xã hội (DLXH) có vai trò đặc biệt quan trọng trong quản lý xã hội. Ở Việt Nam, Đảng và nhà nước rất coi trọng công tác nghiên cứu DLXH bởi nghiên cứu DLXH có thể nắm bắt được tâm trạng của nhân dân, hiểu được nguyện vọng và lợi ích của họ để đề ra chủ trương, chính sách phù hợp. Từ năm 2009 đến nay, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều Nghị quyết; Thông báo; Kết luận quan trọng có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu DLXH như: Nghị quyết Trung ương 5, khóa X về công tác tư tưởng, lý luận, báo chí đã khẳng định: “Một trong số các giải pháp đối với công tác tư tưởng trước yêu cầu mới là phải chú trọng công tác nghiên cứu, điều tra xã hội học, nắm bắt DLXH phục vụ công tác tư tưởng” [1, tr 3].
Ngày 29/9/2009, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Thông báo số 274-TB/TW về “Đề án tăng cường năng lực điều tra xã hội học, nắm bắt DLXH” nhấn mạnh “nắm bắt DLXH là nhiệm vụ quan trọng và rất cần thiết để các cơ quan lãnh đạo Đảng, Nhà nước nắm được tình hình tư tưởng, tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân, có căn cứ khoa học để ban hành chỉ thị, nghị quyết, cơ chế, chính sách” [2, tr 3]. Đặc biệt, vào năm 2014, Ban Bí thư đã ban hành Kết luận số 100-KL/TW về việc “Đổi mới và nâng cao chất lượng công tác điều tra, nắm bắt, nghiên cứu DLXH” trong đó nhấn mạnh “Các cấp ủy Đảng và chính quyền cần nhận thức đầy đủ về vai trò, tầm quan trọng của công tác điều tra, nắm bắt, nghiên cứu DLXH, xác định đây là nhiệm vụ quan trọng của cả hệ thống chính trị”. Trong quá trình hội nhập kinh tế, Đảng và Nhà nước luôn xem mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH-HĐH) là mục tiêu hàng đầu. Kết quả sau hơn 30 năm thực hiện đường lối đổi mới (kể từ Đại hội VI của Đảng) đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… Trong đó, nổi bật nhất là trên lĩnh vực kinh tế với nhiều kết quả đạt 1 được đáng khích lệ.
Hiện nay, chúng ta đang thu hút đầu tư nước ngoài (FDI) mạnh mẽ, phát triển nhiều khu công nghiệp (KCN), (KCX) trên phạm vi cả nước, nhằm phát huy tiềm năng kinh tế của địa phương, đồng thời tạo ra một lượng việc làm lớn cho thị trường lao động. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu do ngành công nghiệp mang lại, nước ta đang phải đối diện với tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng do chất thải từ các KCN - KCX. Hàng loạt các doanh nghiệp chạy theo lợi nhuận, không quan tâm đến môi trường sống của người dân, đã tiến hành xử lý chất thải công nghiệp không đúng quy định gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Trong khi đó công tác quản lý môi trường của các cơ quan chức năng còn nhiều hạn chế; nhận thức, thái độ và hành vi của các tầng lớp nhân dân về vấn đề này còn rất yếu, vai trò của DLXH trong việc phòng, chống các hành vi gây ô nhiễm môi trường còn chưa được thể hiện nhiều nên càng tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp có nhiều hành vi gây ô nhiễm, môi trường.
Đặc biệt, thời gian qua các thế lực thù địch liên tục lợi dụng vấn đề ô nhiễm môi trường từ các KCN để tụ tập, gây rối, biểu tình, gây mất ổn định xã hội ở nhiều địa phương. Hà Tĩnh là một tỉnh ở miền Trung, nằm trong vùng Bắc Trung bộ. Trong những năm qua, Hà Tĩnh là địa phương tiên phong trong việc thu hút đầu tư nước ngoài (FDI) và phát triển doanh nghiệp. Hiện nay, Hà Tĩnh có trên 20 cụm, KCN có mặt tại hầu hết các huyện, thị trong toàn tỉnh, nổi trội hơn tất cả là khu kinh tế Vũng Áng tại huyện Kỳ Anh.
Hàng năm, số doanh nghiệp mới được thành lập trên toàn tỉnh ngày càng tăng. Năm 2017, số doanh nghiệp mới đạt trên 1000 doanh nghiệp [55, tr 4]. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được trong phát triển kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài, Hà Tĩnh cũng là địa phương đang đối diện với vấn đề ô nhiễm môi trường từ các KCN. Sự kiện công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) Hưng Thịnh (Formosa) xả thải gây hiện tượng cá chết hàng loạt ở vùng biển 4 tỉnh miền trung từ Hà Tĩnh đến Thừa Thiên Huế năm 2016 đã gây trấn động trong 2 DLXH.
Điểm “nóng” này luôn bị các thế lực thù địch lợi dụng; xuyên tạc; kích động tụ tập, biểu tình gây mất ổn định anh ninh và trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) chung của toàn tỉnh, các cấp chính quyền tỉnh Hà Tĩnh đôi khi còn lúng túng, bối rối trong việc xử lý “điểm nóng” do các sự cố môi trường gây ra [55]. Trên phương diện nghiên cứu khoa học về dư luận xã hội, Việt Nam vẫn chưa có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về dư luận xã hội. Đặc biệt, nghiên cứu khoa học dư luận xã hội về bảo vệ môi trường là khá mới mẻ với tỉnh Hà Tĩnh. Bởi vì nếu thực tiễn dư luận xã hội về bảo vệ môi trường được kết hợp với lý luận về lĩnh vực này sẽ cho thấy được quy luật vận động của vấn đề bảo vệ môi trường ở địa phương, phát hiện được các căn nguyên của vấn đề nghiên cứu, các yếu tố ảnh hưởng làm nền tảng cho việc đề xuất các giải pháp phù hợp nhất trong thông tin, tuyên truyền và quản lý về môi trường.
Chính vì vậy, nghiên cứu “Dư luận xã hội về bảo vệ môi trường qua nghiên cứu tại địa bàn có các khu công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh” thực sự là vấn đề rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Đồng thời, cung cấp những cơ sở khoa học để nắm bắt và định hướng DLXH về BVMT, phân tích những yếu tố ảnh hưởng và đề xuất các giải pháp về thông tin, tuyên truyền để định hướng DLXH, tạo sự đồng thuận xã hội trong giải quyết các vấn đề về môi trường, tạo môi trường xã hội ổn định, góp phần phát triển KT-XH tại tỉnh Hà Tĩnh. Mục tiêu và nghiệm vụ nghiên cứu 2. Mục tiêu nghiên cứu Dựa trên cơ sở lý luận xã hội học về dư luận xã hội và quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về BVMT, phân tích, đánh giá thực trạng DLXH về BVMT tại địa bàn có các KCN tỉnh Hà Tĩnh; đề xuất một số giải pháp quản lý bảo vệ môi trường và thông tin, tuyên truyền định hướng DLXH tạo sự đồng thuận xã hội trong nhân dân về vấn đề BVMT.
Nhiệm vụ nghiên cứu - Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của DLXH về BVMT bao gồm: lý thuyết, khái niệm, bản chất, đặc điểm, các cách tiếp cận nghiên cứu và các phát hiện lý luận. - Tiến hành nghiên cứu đánh giá thực trạng DLXH tại địa bàn nghiên cứu về vấn đề BVMT - Tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng đến DLXH tại địa bàn nghiên cứu về vấn đề BVMT. - Đề xuất giải pháp cơ bản trong thông tin, tuyên truyền, định hướng DLXH về BVMT tại địa bàn có các KCN tỉnh Hà Tĩnh. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 3.
Đối tượng nghiên cứu Dư luận xã hội về BVMT 3. Khách thể nghiên cứu Người dân sinh sống và làm việc tại địa bàn có các KCN tỉnh Hà Tĩnh 3. Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi địa bàn khảo sát: Luận án tập trung nghiên cứu DLXH về BVMT tại địa bàn có các KCN tỉnh Hà Tĩnh. - Phạm vi thời gian: nghiên cứu được thực hiện trong thời gian từ năm 2016 đến nay.
Năm 2016 xảy ra sự kiện công ty TNHH Hưng Thịnh Formosa xả thải gây ra hiện tượng cá chết hàng loạt tại vùng biển 4 tỉnh miền trung từ Hà Tĩnh đến Thừa Thiên Huế và trong thời gian này, vấn đề môi trường luôn là điểm “nóng” luôn bị các thế lực thù địch lợi dụng để xuyên tạc, chống phá, biểu tình gây mất trật tự xã hội. - Phạm vi nội dung: - Luận án tập trung làm rõ DLXH về nhận thức, thái độ và xu hướng hành động của người dân đối với các hoạt động BVMT, trong đó nhấn mạnh đến các hoạt động quản lý môi trường và tập trung phân tích vai trò 4 của dư luận xã hội trong quản lý xã hội (quản lý môi trường và thông tin, tuyên truyền định hướng dư luận xã hội về bảo vệ môi trường) - Luận án tập trung làm rõ dư luận xã hội về bảo vệ môi trường tự nhiên 4. Câu hỏi nghiên cứu Luận án nhằm trả lời một số câu hỏi nghiên cứu cơ bản sau đây: Câu hỏi thứ nhất: Thực trạng DLXH về BVMT tại địa bàn có các KCN tỉnh Hà Tĩnh hiện nay như thế nào? Câu hỏi thứ hai: Truyền thông đại chúng có ảnh hưởng như thế nào đến DLXH về BVMT? Câu hỏi thứ ba: mạng xã hội có ảnh hưởng như thế nào đến DLXH về bảo vệ môi trường? Câu hỏi thứ tư: Các yếu tố liên quan đến đặc điểm cá nhân có ảnh hưởng như thế nào đến DLXH về BVMT? 5. Giả thuyết nghiên cứu, khung phân tích và các biến số 5.
Giả thuyết nghiên cứu Giả thuyết 1: Dư luận xã hội quan tâm, lo lắng về các vấn đề môi trường và không hài lòng với các hoạt động bảo vệ môi trường ở địa phương. Giả thuyết 2: Truyền thông đại chúng (truyền hình và báo mạng điện tử) có ảnh hưởng đáng kể đến các chiều cạnh của dư luận xã hội về bảo vệ môi trường. Tiếp cận với truyền thông đại chúng làm tăng nhận thức, thái độ, thúc đẩy xu hướng hành động bảo vệ môi trường. Giả thuyết 3: Mạng xã hội (facebook và youtube) có ảnh hưởng đáng kể đến các chiều cạnh của dư luận xã hội về bảo vệ môi trường.
Tiếp cận với mạng xã hội (facebook và youtube) làm tăng nhận thức, thái độ và thúc đẩy xu hướng hành động bảo vệ môi trường. Giả thuyết 4: Điều kiện kinh tế và tôn giáo có ảnh hưởng đáng kể đến các chiều cạnh của dư luận xã hội về bảo vệ môi trường. Điều kiện kinh tế tốt làm tăng nhận thức, thái độ và xu hướng hành động bảo vệ môi trường.