Đặc điểm hình thái nhô xương ổ hai hàm và hiệu quả điều trị của dây thẳng và biocreative

Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm hình thái nhô xương ổ hai hàm hiệu quả điều trị của phương pháp dây thẳng và phương pháp, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết, đề

Chuyên ngành

Răng Hàm Mặt

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2023

193
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Sai khớp cắn hạng I nhô xương ổ hai hàm

1.2. Các phương pháp điều trị sai khớp cắn hạng I nhô xương ổ hai hàm

1.3. Một số thuật ngữ và khái niệm trong Cơ học đóng khoảng

1.4. Cơ học đóng khoảng

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Thiết kế nghiên cứu

2.2. Đối tượng nghiên cứu

2.3. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.4. Cỡ mẫu nghiên cứu

2.5. Biến số trong nghiên cứu

2.6. Phương pháp và công cụ đo lường, thu thập số liệu

2.7. Quy trình nghiên cứu

2.8. Phương pháp phân tích số liệu

2.9. Đạo đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ

3.1. Đặc điểm mẫu nghiên cứu

3.2. Đặc điểm hình thái sọ-mặt-răng trên hình ảnh sọ nghiêng

3.3. Đặc điểm hình thái xương ổ trên hình ảnh CBCT

3.4. Hiệu quả điều trị của phương pháp Dây thẳng và Biocreative

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Mẫu nghiên cứu

4.2. Đặc điểm hình thái sọ-mặt-răng trên hình ảnh sọ nghiêng

4.3. Đặc điểm hình thái xương ổ trên hình ảnh CBCT

4.4. Hiệu quả điều trị của phương pháp Dây thẳng và Biocreative

Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI

HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1: Bản thông tin dành cho đối tượng nghiên cứu và chấp thuận tham gia nghiên cứu (giai đoạn 1)

PHỤ LỤC 2: Bản thông tin dành cho đối tượng nghiên cứu và chấp thuận tham gia nghiên cứu (giai đoạn 2)

PHỤ LỤC 3: Chấp thuận của hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh, ĐHYD TPHCM

PHỤ LỤC 4: Danh sách bệnh nhân tham gia trong mẫu nghiên cứu

Tóm tắt

I. Đặc điểm hình thái nhô xương ổ hai hàm

Nghiên cứu về hình thái nhô xương ổ hai hàm cho thấy đây là một tình trạng đặc trưng với các răng cửa hàm trên và hàm dưới nhô ra trước, làm tăng độ nhô của môi. Theo thống kê tại Bệnh viện RHM Trung ương Hà Nội, tỷ lệ sai lệch khớp cắn hạng I nhô xương ổ hai hàm chiếm 21,3%. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng đặc điểm hình thái này có sự khác biệt giữa các chủng tộc. Ở người Việt, nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Ngọc đã ghi nhận một số đặc điểm hình thái sọ-mặt-răng, nhưng chưa có nghiên cứu nào khảo sát trên cỡ mẫu lớn và đa dạng kiểu mặt. Điều này cho thấy sự cần thiết phải nghiên cứu sâu hơn về hình thái xương ổ và các yếu tố liên quan đến điều trị trong lĩnh vực chỉnh hình răng mặt.

1.1. Đặc điểm hình thái sọ mặt răng

Nghiên cứu cho thấy các bệnh nhân nhô xương ổ hai hàm có những đặc điểm hình thái sọ-mặt-răng khác biệt. Cụ thể, chiều cao tầng mặt dưới và góc mặt phẳng hàm dưới thường nằm trong giới hạn bình thường. Tuy nhiên, các răng cửa thường nghiêng và nhô ra trước, ảnh hưởng đến độ hài hòa của khuôn mặt. Các chỉ số này có thể được sử dụng trong chẩn đoán và lập kế hoạch điều trị cho bệnh nhân có sai khớp cắn hạng I.

1.2. Đặc điểm hình thái xương ổ

Nghiên cứu hình ảnh CBCT cho thấy chiều dày xương ổ mặt ngoài của các răng trước thường mỏng hơn 1mm. Diện tích xương ổ răng cửa trên lớn hơn răng cửa dưới, nhưng không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa hai giới. Khoảng cách men-xê măng đến mào xương ổ cũng cho thấy sự khác biệt giữa các kiểu nướu. Các khiếm khuyết xương ổ thường xảy ra ở mặt ngoài nhiều hơn mặt trong, điều này có thể ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị trong chỉnh hình răng mặt.

II. Hiệu quả điều trị với phương pháp dây thẳng và biocreative

Nghiên cứu so sánh hiệu quả điều trị giữa phương pháp dây thẳngbiocreative cho thấy sự khác biệt rõ rệt trong việc kéo lui nguyên khối răng trước. Phương pháp dây thẳng thường gây ra một số di chuyển răng không mong muốn, trong khi phương pháp biocreative giúp kiểm soát tốt hơn về neo chặn và thời gian đóng khoảng. Điều này cho thấy kỹ thuật điều trị có thể ảnh hưởng đến kết quả cuối cùng của quá trình điều trị. Việc lựa chọn phương pháp phù hợp không chỉ dựa trên đặc điểm hình thái mà còn cần xem xét đến các yếu tố khác như độ tuổi và tình trạng sức khỏe của bệnh nhân.

2.1. Phương pháp dây thẳng

Phương pháp dây thẳng sử dụng cơ học trượt để kéo lui nguyên khối răng trước. Tuy nhiên, phương pháp này có thể dẫn đến các di chuyển không mong muốn, như cắn hở phía sau và cắn sâu phía trước. Điều này có thể gây ra những vấn đề về thẩm mỹ và chức năng cho bệnh nhân. Do đó, cần có sự điều chỉnh và theo dõi chặt chẽ trong quá trình điều trị.

2.2. Phương pháp biocreative

Phương pháp biocreative được giới thiệu như một giải pháp thay thế nhằm giảm thiểu các tác dụng phụ của phương pháp dây thẳng. Phương pháp này cho phép kéo lui nguyên khối răng trước với lực nhẹ và ma sát tối thiểu, giúp kiểm soát tốt hơn về vị trí răng và hình thái xương ổ. Nghiên cứu cho thấy phương pháp này có thể mang lại hiệu quả điều trị tốt hơn cho bệnh nhân nhô xương ổ hai hàm.

07/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Sai khớp cắn hạng I nhô xương ổ hai hàm 1. Định nghĩa nhô xương ổ hai hàm Nhô xương ổ hai hàm là tình trạng đặc trưng bởi các răng cửa trên, răng cửa dưới nhô, chìa ra trước và làm tăng độ nhô của môi17. Đặc điểm hình thái sọ-mặt-răng trên hình ảnh sọ nghiêng Qua nghiên cứu trên phim sọ nghiêng, Keating nhận thấy ở người da trắng nhô xương ổ hai hàm có một số đặc điểm như nền sọ sau ngắn hơn, xương hàm trên (XHT) dài hơn, nhô ra trước hơn.

Ngoài ra, chiều cao mặt sau ngắn hơn, góc mặt phẳng hàm dưới mở và bệnh nhân có kiểu mặt dài với hai môi nhô ra trước17. So với người da trắng, Kenza L. nhận thấy người Ma rốc nhô xương ổ hai hàm có chiều cao tầng mặt dưới thấp hơn, các răng cửa trên và dưới nhô ra trước hơn, góc giữa trục răng cửa trên và dưới cũng nhỏ hơn. Trong nghiên cứu này cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa hai giới ngoại trừ ba số đo: góc và khoảng cách từ răng cửa giữa hàm trên đến đường NA và góc giữa trục răng cửa giữa hàm dưới và mặt phẳng hàm dưới18.

2015, Nguyễn Thị Bích Ngọc3 đã nghiên cứu sự thay đổi hình thái mô cứng và mô mềm sau điều trị CHRM trên 40 bệnh nhân người Việt sai khớp cắn hạng I có nhô xương ổ hai hàm trên phim sọ nghiêng. Bước đầu, tác giả nhận thấy bệnh nhân người Việt có một số những đặc điểm sau: • Xương ✓ Tương quan xương theo chiều trước sau 5 So với nền sọ, XHT có vị trí bình thường trong khi xương hàm dưới (XHD) lùi nhẹ nhưng sự bất hài hòa theo chiều trước sau giữa XHT và XHD vẫn nằm trong giới hạn bình thường. Đặc điểm này tương tự như nghiên cứu của Yasutomi ở người Nhật19 và Lamberton trên người Thái20. ✓ Tương quan xương theo chiều dọc Góc mặt phẳng hàm dưới, chiều cao tầng mặt dưới cũng trong giới hạn bình thường nên bệnh nhân có kiểu mặt trung bình.

Đặc điểm này tương tự như nghiên cứu của Lamberton ở người Thái 20. Trong khi, kết quả từ các nghiên cứu của Bills D.18 cho thấy có sự tăng chiều cao tầng mặt dưới và góc mặt phẳng hàm dưới mở trên nhóm bệnh nhân đa sắc tộc ở Mỹ, người Ma rốc, người Iraq có nhô xương ổ hai hàm. • Răng ✓ Vị trí răng cửa trên và dưới Các răng cửa trên và dưới đều nghiêng và nhô ra trước. Đặc điểm này tương tự như các nghiên cứu trên người Nhật 19, người Thái20, người Ma rốc18, người Iraq5.

✓ Góc giữa trục răng cửa trên và răng cửa dưới Góc này có ảnh hưởng đến độ hài hòa của cả hai môi. Nếu góc này càng nhỏ cho thấy ít nhất hoặc răng cửa trên hoặc răng cửa dưới nghiêng ra trước hoặc cả hai cùng nghiêng ra trước và làm cho môi nhô ra trước hơn. Nguyễn Thị Bích Ngọc3 nhận thấy góc giữa trục răng cửa trên và răng cửa dưới trên nhóm bệnh nhân người Việt 102,80. Số đo này nhỏ hơn và nằm ngoài hai độ lệch chuẩn so với số đo trung bình ở người Việt có khuôn mặt hài hòa (122,6 ± 8,350 )21.

6 • Mô mềm Để khảo sát độ nhô môi trên nhóm bệnh nhân người Việt nhô xương ổ hai hàm, Nguyễn Thị Bích Ngọc3 đã đánh giá độ nhô của môi trên, môi dưới so với đường thẩm mỹ E và tác giả nhận thấy các số đo này đều lớn hơn các giá trị trung bình tương ứng trên người Việt có khuôn mặt hài hòa 3,21. Qua khảo sát y văn, bước đầu cho thấy bệnh nhân người Việt sai khớp cắn hạng I nhô xương ổ hai hàm có những đặc điểm hình thái về xương, răng và mô mềm khác so với những người có khớp cắn bình thường trên hình ảnh sọ nghiêng. Các chỉ số đo sọ có thể có ứng dụng trong chẩn đoán và điều trị CHRM, nhưng hiện chưa có nghiên cứu khảo sát hình thái sọ-mặt-răng trên hình ảnh sọ nghiêng ở người Việt sai khớp cắn hạng I nhô xương ổ hai hàm với kiểu mặt đa dạng trên cỡ mẫu lớn. Răng cửa trên và dưới nhô, chìa ra trước trên hình ảnh sọ nghiêng “Nguồn: Chung KR, 2007” 11 7 1.

Đặc điểm hình thái xương ổ các răng trước trên bệnh nhân sai khớp cắn hạng I nhô xương ổ hai hàm qua hình ảnh CBCT 1. Chiều dày xương ổ Qua nghiên cứu hình ảnh CBCT trên bệnh nhân có sai khớp cắn hạng I, nhô xương ổ hai hàm, Nahm KY22 nhận thấy các chân răng trước có chiều dày xương ổ mặt ngoài mỏng ít hơn 1 mm từ mức 0 đến mức 8 khi chia chiều dài chân răng thành 10 mức, mỗi mức cách nhau 1mm. Tương tự, Pannapat Chanmanee cũng thấy chiều dày xương ổ mặt ngoài răng trước hàm trên mỏng hơn 1mm nhưng người có kiểu nướu dày thì xương ổ dày hơn so với người có kiểu nướu mỏng. Xương ổ mặt ngoài ở cả hai kiểu nướu dày và mỏng đều là xương vỏ, không có xương xốp.

Trong khi ở xương ổ mặt trong, kiểu nướu dày có xương xốp nhiều hơn kiểu nướu mỏng23. Ngoài ra cả hai nghiên cứu22,23 đều cho thấy chiều dày xương ổ có sự gia tăng theo hướng từ đường nối men-xê măng đến chóp chân răng và chiều dày xương ổ mặt trong lớn hơn xương ổ mặt ngoài. Diện tích xương ổ Người ta nhận thấy tổng diện tích xương ổ răng cửa trên lớn hơn răng cửa dưới nhưng diện tích xương ổ mặt ngoài không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa răng cửa trên và răng cửa dưới22. Trong nhóm các răng trước hàm trên, diện tích xương ổ tăng dần theo thứ tự phần ba cổ, phần ba giữa và phần ba chóp chân răng ở cả mặt ngoài lẫn mặt trong15.

Trên các răng cửa dưới, diện tích xương ổ mặt trong lớn hơn mặt ngoài. Ngoài ra, có sự khác biệt về tuổi, nhóm bệnh nhân nhỏ hơn 20 tuổi có diện tích xương ổ lớn hơn nhóm trên 20 tuổi22. Khoảng cách men-xê măng đến mào xương ổ Một số tác giả nhận thấy các răng cửa trên có khoảng cách men-xê măng đến mào xương ổ mặt ngoài lớn hơn mặt trong22,15. Các răng trước hàm trên ở người có kiểu nướu dày, khoảng cách này nhỏ hơn so với người có kiểu nướu mỏng ở cả mặt ngoài và mặt trong23.

Khoảng cách men-xê măng đến mào xương ổ ở răng cửa dưới lớn hơn răng cửa trên và mặt trong răng cửa dưới lớn hơn mặt ngoài. Tuy nhiên, khoảng cách này không có sự khác biệt giữa hai giới và tuổi22. Các khiếm khuyết xương ổ Các khiếm khuyết cửa sổ xương thường xảy ra ở mặt ngoài hơn mặt trong. Cửa sổ xương thường gặp ở răng cửa dưới gấp 1,37 lần so với răng cửa trên 22.

Từ những nghiên cứu trên bệnh nhân nhô xương ổ hai hàm 22,15,23, kết quả cho thấy chiều dày xương ổ mặt ngoài mỏng và có tiêu xương ổ theo chiều dọc nghiêm trọng trước khi bắt đầu điều trị CHRM. Ở Việt Nam, vẫn chưa có nghiên cứu khảo sát hình thái xương ổ các răng trước ở bệnh nhân sai khớp cắn hạng I nhô xương ổ hai hàm trên hình ảnh CBCT. Các phương pháp điều trị sai khớp cắn hạng I nhô xương ổ hai hàm Những bệnh nhân sai khớp cắn hạng I nhô xương ổ hai hàm có các răng cửa nhô và chìa ra trước. Để giảm độ nhô của răng và môi, các bác sĩ điều trị cần tạo khoảng để kéo lui các răng trước.

Một số phương pháp tạo khoảng như mài kẽ răng, di xa, hoặc nhổ răng. Trong trường hợp nhổ răng, bác sĩ điều trị thường chỉ định nhổ bốn RCN để có khoảng kéo lui các răng trước về phía sau với phương pháp Dây thẳng hay Biocreative. 9 1972, bác sĩ Andrews đã phát minh ra khí cụ Dây thẳng. Hệ thống mắc cài tiền chỉnh cho phép thực hiện cơ học trượt hoặc di chuyển các nhóm răng dọc theo dây cung vì tất cả các khe mắc cài đều nằm cùng mức như nhau sau giai đoạn làm đều và làm phẳng cung răng24.

Với cơ học trượt trong Dây thẳng, người ta nhận thấy sự di chuyển răng bắt đầu khi lực kéo lui lớn hơn lực ma sát tĩnh. Do đó, cường độ lực cần cho răng di chuyển phải đủ lớn để vượt qua ma sát và nằm trong khoảng giá trị lực tối ưu cho sự di chuyển răng 25. Ngày nay, vít c ó t h ể đ ư ợ c sử dụng để tăng cường neo chặn khi kéo lui nguyên khối. 1998, Chung và cộng sự đã giới thiệu "Phương pháp Biocreative".

Phương pháp này có thể kéo lui phân đoạn răng trước một cách độc lập bằng cách đặt dây cung trực tiếp vào lỗ ở đầu nẹp. Hệ thống nẹp, vít này cho phép tải các lực nhẹ liên tục, khả năng kiểm soát các chuyển động răng phức tạp, ma sát tối thiểu và không cần sự hợp tác của bệnh nhân. Kỹ thuật này bảo tồn khớp cắn vùng răng sau và giảm thiểu tác dụng của việc điều trị ảnh hưởng lên mô nha chu, vì phân đoạn răng sau không tham gia trong quá trình kéo lui răng trước10,11,12.1 Định nghĩa Neo chặn là sự kháng lại những di chuyển ngoài ý muốn của răng do phản lực. Để kiểm soát neo chặn, bác sĩ điều trị cần tập trung lực vào những răng cần di chuyển và phân tán phản lực trên tất cả các răng còn lại, nhằm tạo áp lực thấp trong mô nha chu của những răng neo chặn24.

Vị trí neo chặn Dựa trên vị trí điểm tựa làm neo, neo chặn được chia thành hai nhóm: neo chặn trong miệng và neo chặn ngoài mặt. 10 Neo chặn trong miệng có thể từ răng được gọi là neo chặn răng, từ xương vỏ được gọi là neo chặn xương vỏ và từ xương gọi là neo chặn xương. Neo chặn răng có thể từ cùng cung hàm gọi là neo chặn nội hàm hay neo chặn răng từ hàm đối diện gọi là neo chặn liên hàm26. Neo chặn ngoài mặt sử dụng điểm tựa ngoài mặt như vùng cổ, vùng chẩm, vùng trán, vùng cằm thông qua các loại khí cụ ngoài mặt như Headgear hay Facemask26.

Giá trị neo chặn của mỗi răng Giá trị neo chặn của mỗi răng là khả năng kháng lại sự di chuyển, tỉ lệ với diện tích bề mặt chân răng hoặc mô nha chu của răng. Chân răng càng lớn thì bề mặt phân phối lực càng rộng và ngược lại. Tổng giá trị neo chặn của răng cối nhỏ thứ hai và răng cối lớn thứ nhất xấp xỉ bằng với tổng giá trị neo chặn của các răng cửa giữa, cửa bên và răng nanh26.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu hình thái nhô xương ổ hai hàm và hiệu quả điều trị với dây thẳng và biocreative" cung cấp cái nhìn sâu sắc về hình thái nhô xương ổ hai hàm, một vấn đề quan trọng trong lĩnh vực nha khoa. Nghiên cứu này không chỉ phân tích các đặc điểm hình thái mà còn đánh giá hiệu quả của hai phương pháp điều trị: dây thẳng và biocreative. Qua đó, bài viết giúp người đọc hiểu rõ hơn về các lựa chọn điều trị hiện có, từ đó đưa ra quyết định tốt hơn cho sức khỏe răng miệng của mình.

Nếu bạn muốn mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan đến sức khỏe và điều trị, hãy tham khảo thêm bài viết "Luận án tiến sĩ nghiên cứu một số đặc điểm cận lâm sàng kiểu gen của hbv và hcv ở người nghiện ma túy tại trung tâm cai nghiện thành phố hồ chí minh", nơi bạn có thể tìm hiểu về các đặc điểm gen trong điều trị bệnh lý. Ngoài ra, bài viết "Luận án tiến sĩ nghiên cứu mô bệnh học sarcom xương nguyên phát theo phân loại của tổ chức y tế thế giới who năm 2013" sẽ cung cấp thông tin về các loại bệnh lý xương, giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về sức khỏe xương khớp. Cuối cùng, bài viết "Luận án tiến sĩ nghiên cứu mật độ xương tình trạng vitamin d và một số markers chu chuyển xương ở trẻ từ 6 đến 14 tuổi tại thành phố cần thơ" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về sự phát triển xương ở trẻ em và tầm quan trọng của vitamin D trong quá trình này. Những tài liệu này sẽ mở rộng kiến thức của bạn về các vấn đề sức khỏe liên quan.