Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu hiệu quả của phương pháp đặt bóng chèn lòng tử cung bằng sonde foley điều trị băng huyết sau sinh tại bệnh viện phụ sản hà nội

Tài liệu Hiệu quả phương pháp đặt bóng chèn lòng tử cung điều trị băng huyết sa tổng hợp lý thuyết và thực hành, phục vụ học tập ngành

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Y đa khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2022

70
4
1

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu hiệu quả phương pháp đặt bóng chèn lòng tử cung

Băng huyết sau sinh (BHSS) là một trong những tai biến sản khoa nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng của sản phụ. Nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả của phương pháp đặt bóng chèn lòng tử cung bằng sonde Foley trong điều trị BHSS tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội. Phương pháp này đã được chứng minh là một giải pháp hiệu quả, ít xâm lấn, giúp kiểm soát chảy máu và bảo tồn khả năng sinh đẻ cho sản phụ.

1.1. Khái niệm và phân loại băng huyết sau sinh

Băng huyết sau sinh được định nghĩa là tình trạng mất máu ≥ 500 ml trong 24 giờ đầu sau sinh. Phân loại băng huyết sau sinh bao gồm nguyên phát và thứ phát, với nguyên nhân chủ yếu là đờ tử cung, sót rau và chấn thương đường sinh dục.

1.2. Tình hình băng huyết sau sinh tại Việt Nam

Tại Việt Nam, tỷ lệ tử vong do băng huyết sau sinh vẫn còn cao, đặc biệt ở những vùng nông thôn. Nghiên cứu cho thấy, nhiều sản phụ không được tiếp cận với các phương pháp điều trị kịp thời, dẫn đến hậu quả nghiêm trọng.

II. Vấn đề và thách thức trong điều trị băng huyết sau sinh

Mặc dù có nhiều phương pháp điều trị băng huyết sau sinh, nhưng việc áp dụng chúng một cách hiệu quả vẫn gặp nhiều thách thức. Các yếu tố như thiếu trang thiết bị, kỹ năng của nhân viên y tế và sự chậm trễ trong chẩn đoán có thể dẫn đến tình trạng băng huyết nghiêm trọng.

2.1. Nguyên nhân gây băng huyết sau sinh

Các nguyên nhân chính gây băng huyết sau sinh bao gồm đờ tử cung, sót rau và chấn thương đường sinh dục. Những nguyên nhân này cần được nhận diện và xử trí kịp thời để giảm thiểu nguy cơ tử vong cho sản phụ.

2.2. Các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến băng huyết sau sinh

Các yếu tố nguy cơ như tuổi tác, chỉ số khối cơ thể (BMI) và tiền sử băng huyết trước đó có thể làm tăng khả năng xảy ra băng huyết sau sinh. Việc nhận diện các yếu tố này là rất quan trọng trong việc phòng ngừa.

III. Phương pháp đặt bóng chèn lòng tử cung điều trị băng huyết sau sinh

Phương pháp đặt bóng chèn lòng tử cung bằng sonde Foley đã được áp dụng rộng rãi trong điều trị băng huyết sau sinh. Phương pháp này giúp tạo áp lực lên thành tử cung, từ đó giảm thiểu tình trạng chảy máu. Nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ thành công của phương pháp này đạt tới 96,43%.

3.1. Nguyên lý hoạt động của bóng chèn lòng tử cung

Bóng chèn lòng tử cung hoạt động dựa trên nguyên lý tạo áp lực lên thành tử cung, giúp ngăn chặn chảy máu. Phương pháp này ít xâm lấn và có thể thực hiện nhanh chóng tại bệnh viện.

3.2. Quy trình thực hiện đặt bóng chèn lòng tử cung

Quy trình thực hiện bao gồm việc đưa sonde Foley vào lòng tử cung và bơm nước vào bóng chèn. Quy trình này cần được thực hiện bởi các bác sĩ có chuyên môn để đảm bảo an toàn cho sản phụ.

IV. Kết quả nghiên cứu về hiệu quả phương pháp đặt bóng chèn

Nghiên cứu tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội cho thấy, phương pháp đặt bóng chèn lòng tử cung bằng sonde Foley có hiệu quả cao trong điều trị băng huyết sau sinh. Tỷ lệ thành công đạt 96,43%, cho thấy đây là một lựa chọn điều trị khả thi và an toàn.

4.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chủ yếu là các sản phụ gặp tình trạng băng huyết sau sinh. Đặc điểm của họ bao gồm tuổi tác, số lần sinh và tình trạng sức khỏe trước khi sinh.

4.2. Tỷ lệ thành công và thất bại của phương pháp

Tỷ lệ thành công của phương pháp đặt bóng chèn lòng tử cung đạt 96,43%. Tuy nhiên, vẫn có một số trường hợp thất bại do các yếu tố như sót rau hoặc chấn thương đường sinh dục.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của nghiên cứu

Nghiên cứu cho thấy, phương pháp đặt bóng chèn lòng tử cung bằng sonde Foley là một giải pháp hiệu quả trong điều trị băng huyết sau sinh. Cần tiếp tục nghiên cứu và cải thiện quy trình thực hiện để nâng cao hiệu quả điều trị và giảm thiểu rủi ro cho sản phụ.

5.1. Tầm quan trọng của việc nâng cao nhận thức

Nâng cao nhận thức về băng huyết sau sinh và các phương pháp điều trị là rất cần thiết. Điều này giúp sản phụ và gia đình hiểu rõ hơn về tình trạng sức khỏe của họ.

5.2. Hướng nghiên cứu trong tương lai

Các nghiên cứu trong tương lai nên tập trung vào việc cải thiện kỹ thuật đặt bóng chèn và đánh giá hiệu quả của các loại bóng chèn khác nhau trong điều trị băng huyết sau sinh.

16/07/2025
Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu hiệu quả của phương pháp đặt bóng chèn lòng tử cung bằng sonde foley điều trị băng huyết sau sinh tại bệnh viện phụ sản hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 – TỔNG QUAN 1. Khái niệm và phân loại băng huyết sau sinh 1. Khái niệm Thuật ngữ “băng huyết sau sinh” được áp dụng cho những thai kỳ có tuổi thai >20 tuần [8]. Theo Tổ chức Y tế Thế giới 2018, băng huyết sau sinh (BHSS) là tình trạng là mất ≥ 500 ml máu trong vòng 24 giờ đầu sau khi sinh [9].

Theo Liên đoàn Sản Phụ khoa Quốc tế, BHSS được định nghĩa là lượng máu mất ≥ 500 ml sau sinh đường âm đạo hoặc ≥ 1000 ml sau sinh mổ. Vì các mục đích lâm sàng, bất kỳ lượng máu mất nào có tiềm năng gây mất ổn định huyết động phải được xem là BHSS[1]. Đánh giá lượng máu mất nhiều hay ít trong thực tế lâm sàng thường không chính xác vì nhiều khi lượng máu chảy ra ngoài âm hộ lẫn với nước ối, vải lót trong chậu và máu không chảy ra ngoài âm hộ mà đọng lại trong buồng tử cung làm chúng ta lầm tưởng là chưa chảy máu tới mức độ bệnh lý và diễn biến bệnh rất nhanh [10]. Nguyên nhân phổ biến là sự co bóp tử cung kém sau khi sinh con [11].

Ngoài ra, các bệnh lý trong thời kỳ sổ thai như sót rau sau đẻ, lộn tử cung, rau cài răng răng lược,… hoặc tổn thương đường sinh dục (vỡ tử cung, rách cổ tử cung, rách âm đạo, rách tầng sinh môn) và các bệnh lý rối loạn đông máu (hiếm gặp) cũng gây ra tình trạng băng huyết sau sinh[12]. Mức độ nguy hiểm của BHSS không chỉ phụ thuộc vào lượng máu mất, mà còn phụ thuộc vào thể trạng của thai phụ, mất máu cấp tính hay chảy máu rỉ rả, được hồi sức kịp thời hay không. Vì vậy cần phải đánh giá và xử trí linh hoạt với từng trường hợp một chứ không phải chỉ thụ động đợi đến khi lượng máu mất trên 500ml sau đẻ thường hoặc sau 1000ml sau mổ đẻ mới can thiệp, tránh dẫn đến việc xử trí chậm trễ và gây nên những hậu quả đáng tiếc [13]. Phân loại có tính quy ước BHSS nguyên phát: hay còn gọi là BHSS sớm, xảy ra trong vòng 24 giờ đầu sau sinh.Thường do các nguyên nhân như: đờ tử cung, sót rau, chảy máu diện rau bám trong rau tiền đạo, chấn thương đường sinh dục, rau bong non,…[14].

3 BHSS thứ phát: hay còn gọi là BHSS muộn, xảy ra từ 24 giờ tới 12 tuần sau sinh. Theo Groom KM và Jacobson TZ nguyên nhân thường gặp của BHSS muộn là do thoái triển bất thường vùng rau bám, sót rau, nhiễm trùng [15]. Phân loại theo tốc độ nhanh của mất máu Theo Coker vào năm 2012, BHSS được phân theo tốc độ của sự mất máu như: sự chảy máu nặng được phân loại là mất > 150 ml/phút (trong vòng 20 phút, gây mất hơn 50% thể tích máu) hoặc mất máu đột ngột > 1. Nguyên nhân gây ra băng huyết sau sinh Đờ tử cung, chấn thương đường sinh dục, sót rau – rau không bong, rau cài răng lược và rối loạn đông máu được xem là những nguyên nhân chính gây ra băng huyết sau sinh [17].

Trong đó BHSS do đờ tử cung chiếm khoảng 75 - 90% của BHSS sớm [18, 19]. BHSS do tổn thương đường sinh dục chiếm khoảng 20% của BHSS sớm. BHSS do rối loạn đông máu chiếm khoảng 3% của BHSS sớm [20]. BHSS có thể có ≥ 1 nguyên nhân, BHSS muộn (thứ phát) ít gặp hơn BHSS sớm (nguyên phát), chiếm 1 – 3 % các ca sinh [21, 22].

Đờ tử cung Là tình trạng tử cung không co chặt thành khối an toàn sau đẻ để thực hiện tắc mạch sinh lý, do đó gây chảy máu. Các yếu tố gây nên đờ tử cung bao gồm: - Tử cung quá căng: đa thai, đa ối, thai quá to. - Các thuốc làm giãn tử cung: nifedipine, magnesium, beta–mimetics, indomethacin, nitric oxide donors. - Chất lượng cơ tử cung kém do sinh nhiều lần.

- Chuyển dạ nhanh hoặc chuyển dạ kéo dài. - Các thuốc co hồi tử cung để gây chuyển dạ. - Nhiễm khuẩn ối. - Gây mê bằng Halogen.

Trên lâm sàng, đờ tử cung được chia làm hai mức độ [24]: - Đờ tử cung còn hồi phục: trương lực cơ tử cung giảm ngay sau đẻ hoặc sau mổ lấy thai nhưng còn đáp ứng với các kích thích cơ học, lý học, hoá học. 4 - Đờ tử cung không hồi phục: hệ thống thần kinh cơ tử cung không còn đáp ứng với bất kỳ kích thích nào. Theo Phạm Thị Xuân Minh, nguy cơ đờ tử cung tăng gấp 2 lần ở những sản phụ đẻ lần 2 so với đẻ lần đầu, tăng gấp 3,14 lần ở sản phụ đẻ lần 3 và gấp 3,5 lần ở sản phụ đẻ lần 4 trở lên [25]. Chấn thương đường sinh dục Chấn thương đường sinh dục chiếm 20% của BHSS sớm [23].

Những tổn thương cổ tử cung và âm đạo, có thể bị ngay cả trong các trường hợp đẻ thường. Tuy nhiên biến chứng này thường gặp hơn trong những trường hợp sau: - Tổn thương âm hộ- âm đạo. - Cắt tầng sinh môn/rách tầng sinh môn. - Thai quá to.

- Sinh quá nhanh [16]. Nguyên nhân do rau 1. Sót rau Sót rau nhiều hay ít trong tử cung đều gây chảy máu vì rau sót làm tử cung không co chặt được. Có thể gặp sau đẻ thường, sau đẻ thiếu tháng, sinh có can thiệp bằng các thủ thuật sản khoa, sau sinh thai chết lưu, hãn lưu có thể sót rau sau mổ lấy thai [24].

Rau cài răng lược Đây là bệnh lý hiếm gặp của rau [24]. Là trường hợp gai rau bám trực tiếp vào cơ tử cung, giữa các gai rau và cơ tử cung không có lớp xốp của ngoại sản mạc. Do đó, bánh rau bám sâu vào lớp cơ tử cung có khi xuyên tới thanh mạc tử cung. Thường gặp ở người đẻ nhiều lần, nạo thai nhiều lần, tiền sử viêm niêm mạc tử cung [24].

Rau tiền đạo Rau tiền đạo là bánh rau bám ở đoạn dưới và cổ tử cung, nó chắn phía trước cản trở đường ra của thai nhi khi chuyển dạ đẻ [24]. Đây là một trong những bệnh lý của bánh rau về vị trí bám. Nó gây chảy máu trong 3 tháng cuối thời kỳ thai nghén, trong chuyển dạ và sau đẻ. Rau tiền đạo là một cấp cứu trong sản khoa.

Rau bám chặt, rau cầm tù 5 Rau bám chặt là rau khó bong do lớp xốp kém phát triển nhưng vẫn có thể bóc được toàn bộ bánh rau bằng tay [24]. Rau cầm tù là rau đã bong nhưng không sổ tự nhiên được vì mắc kẹt ở một sừng của tử cung do một vòng cơ thắt của lớp cơ đan chéo [24]. Đặc biệt hay gặp rau cầm tù trong tử cung dị dạng hoặc tử cung hai sừng. Rau bám chặt và rau cầm tù làm kéo dài giai đoạn sổ rau và cản trở co hồi tử cung gây nên BHSS [24, 25].

Rối loạn đông máu Mắc phải trong thai kỳ: giảm tiểu cầu của hội chứng HELLP, đông máu nội mạch rải rác (sản giật, thai chết lưu trong tử cung, nhiễm khuẩn huyết, rau bong non, tắc mạch ối), tăng huyết áp trong thai kỳ, tình trạng nhiễm khuẩn huyết [24]. Di truyền: bệnh Von Willebrand. Liệu pháp chống đông: thay van tim, bệnh nhân nằm nghỉ tuyệt đối [16]. Theo Phạm Thị Xuân Minh, rối loạn đông máu chiếm tới 6,3% các nguyên nhân BHSS [25].

Các nguyên nhân khác Can thiệp không đúng trong thời kỳ sổ rau: các động tác đẩy ép tử cung hoặc kéo mạnh vào dây rốn khi rau chưa bong có thể làm rối loạn cơ chế bình thường của thời kì sổ rau gây BHSS, đôi khi cũng gây lộn tử cung và choáng nặng [24]. Các yếu tố nguy cơ băng huyết sau sinh 1. Các yếu tố nguy cơ trước sinh: - Tuổi: tuổi mẹ tăng là yếu tố nguy cơ độc lập với BHSS. Tuổi ≥ 35 có nguy cơ BHSS cao với OR = 1,5 (95% KTC 1,2 - 1,9); tuổi >40 (không-phải con rạ) có OR = 1,4 [26].

- Chỉ số khối cơ thể (BMI): béo phì có tỷ lệ cao biến chứng chảy máu trong khi sinh và sau sinh. BMI >30 có nguy cơ BHSS cao với OR = 1,5 (95% KTC 1,2 - 1,8) khi so với BMI 20 – 30; BMI >35 có nguy cơ BHSS cao với OR = 2 [26, 27]. - Số lần sinh: các nghiên cứu gần đây chưa tìm thấy mối liên quan giữa đẻ nhiều với BHSS, tuy nhiên, Ohkuchi lại tìm thấy sản phụ con so đi kèm với mất máu quá mức lúc sinh đường âm đạo (OR = 1,6; 95% KTC 1,4 - 1,9) [28]. - Thai to: các nghiên cứu cho thấy thai to đi kèm với BHSS.

Tại Anh, thai >4000g liên quan đến OR = 2,01 (95% KTC 1,93 - 2,1). Tại Mỹ, thai 4000 - 4499g liên quan đến OR = 1,69 (95% KTC 1,58 - 1,82) [27]. Tổng quan BHSS của Phạm Việt Thanh cho thấy thai to >4500g có OR = 2,05 [29]. 6 - Đa thai: nhiều nghiên cứu cho thấy đa thai là yếu tố nguy cơ BHSS.

Theo Hamamy, thai kỳ đa thai là yếu tố nguy cơ BHSS với OR = 5 [26]. Nhiều nghiên cứu ước tính RR của BHSS đi kèm với thai kỳ đa thai là 3,0 - 4,5 [27]. Tổng quan BHSS của Phạm Việt Thanh cho thấy đa thai có OR = 2,4 [29]. - U xơ tử cung: một nghiên cứu tại Nhật Bản đã cho thấy u xơ tử cung là yếu tố nguy cơ BHSS với OR = 1,9 (95% KTC 1,2 - 3,1) sau sinh đường âm đạo [27].

Theo Unterscheider u xơ tử cung là yếu tố nguy cơ BHSS với OR = 2 [23]. - Rối loạn tăng huyết áp trong thai kỳ: Theo Hamamy, tiền sản giật/tăng huyết áp thai kỳ là nguy cơ trước sinh gây BHSS với OR = 4 [26]. - Thiếu máu trước sinh: thiếu máu trước sinh từ trung bình đến nặng là yếu tố nguy cơ gây BHSS với OR = 2,14; thiếu máu trước sinh (Hb <9g/dL) là yếu tố nguy cơ BHSS với OR = 2 [26]. - Chảy máu trước sinh: + Rau bong non: nguy cơ BHSS với OR = 12,6 đến 13 theo Stones[27].

+ Rau tiền đạo: nguy cơ BHSS với OR = 12, đến = 13,7 [26, 27]. + Rau tiền đạo đi kèm với BHSS có OR = 4,4 theo Ohkuchi[27]. - Tiền sử băng huyết sau sinh: tiền sử BHSS đi kèm với nguy cơ BHSS lần sinh tiếp theo với OR = 2,2 (95% KTC 1,7 - 2,9) đến OR = 3 [26, 27]. Các yếu tố nguy cơ trong chuyển dạ và sau sinh 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề Nghiên cứu hiệu quả phương pháp đặt bóng chèn lòng tử cung điều trị băng huyết sau sinh cung cấp cái nhìn sâu sắc về một phương pháp điều trị quan trọng cho tình trạng băng huyết sau sinh, một vấn đề nghiêm trọng có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của sản phụ. Nghiên cứu này không chỉ phân tích hiệu quả của việc sử dụng bóng chèn lòng tử cung mà còn đánh giá các yếu tố liên quan đến tình trạng băng huyết, từ đó giúp các bác sĩ và chuyên gia y tế có thêm thông tin để đưa ra quyết định điều trị chính xác hơn.

Để mở rộng kiến thức của bạn về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Nghiên cứu các yếu tố liên quan đến băng huyết sau sinh do đờ tử cung và hiệu quả điều trị bằng chèn bóng lòng tử cung. Tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến băng huyết sau sinh và cách mà phương pháp chèn bóng lòng tử cung có thể cải thiện tình trạng này.

Việc nắm vững thông tin từ các nghiên cứu như vậy không chỉ giúp nâng cao kiến thức chuyên môn mà còn góp phần vào việc cải thiện chất lượng chăm sóc sức khỏe cho sản phụ.