Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp ngành Lâm học của tác giả Điểu Phong (Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, thực hiện từ tháng 04/2023 đến tháng 08/2023 dưới sự hướng dẫn của ThS. Nguyễn Quốc Bình) tập trung phân tích hiệu quả kinh tế của mô hình canh tác cây Mắc ca (Macadamia) tại xã vùng biên Quảng Trực, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông.

Về bối cảnh thực tiễn, tác giả chỉ ra rằng người dân tại xã Quảng Trực trước đây chủ yếu duy trì tập quán sản xuất quảng canh với các cây trồng ngắn ngày hoặc độc canh một số loại cây cố định, dẫn đến hiệu quả kinh tế chưa cao. Cây Mắc ca là loài cây thân gỗ dài ngày mới được du nhập vào địa phương trong khoảng hơn một thập kỷ gần đây thông qua các chương trình, chính sách hỗ trợ ưu đãi của Nhà nước (như Chương trình 135, Chương trình 102, 30a). Hiện tại, diện tích trồng ban đầu đã bước vào giai đoạn cho thu hoạch với giá bán tương đối ổn định. Tuy nhiên, việc chuyển đổi sang cây trồng dài ngày đòi hỏi vốn đầu tư lớn và yêu cầu kỹ thuật thâm canh khắt khe. Thực tế địa phương ghi nhận sự phân hóa rõ rệt: nhiều hộ gia đình đã cải thiện thu nhập nhưng cũng có những hộ hầu như không thu được lợi nhuận. Sự chênh lệch này đặt ra yêu cầu phải đánh giá một cách khoa học về tính phù hợp và hiệu quả đầu tư đối với từng nhóm nông hộ có điều kiện kinh tế khác nhau.

Mục tiêu nghiên cứu được xác định cụ thể gồm 3 nhiệm vụ:

  1. Mô tả được đặc điểm của các mô hình trồng cây Mắc ca điển hình tại xã Quảng Trực.
  2. Phân tích được hiệu quả kinh tế của các mô hình trồng cây Mắc ca điển hình tại xã Quảng Trực.
  3. Đề xuất được các mô hình có hiệu quả đối với từng nhóm mức sống khác nhau tại xã Quảng Trực.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các hộ gia đình có canh tác Mắc ca đã cho thu hoạch với diện tích tối thiểu từ 1.000 m² trở lên và có hộ khẩu thường trú tại địa phương. Phạm vi nghiên cứu về mặt không gian được giới hạn tại địa bàn xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông; phạm vi thời gian thu thập dữ liệu diễn ra từ tháng 04/2023 đến tháng 08/2023. Văn bản quy định rõ giới hạn nội dung: nghiên cứu tập trung vào cây Mắc ca và không phân tích sâu hiệu quả của các loài cây trồng xen (như cà phê) do giới hạn thời gian và khối lượng nghiên cứu của một khóa luận tốt nghiệp đại học.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng trên hệ thống lý luận về nông lâm kết hợp, trồng xen canh và lý thuyết hiệu quả kinh tế:

  • Khung lý thuyết và khái niệm: Tác giả sử dụng các định nghĩa về hệ thống Nông lâm kết hợp (NLKH) của Lundgren và Raintree (1983), Hội đồng Nghiên cứu Nông nghiệp và Tài nguyên Philippines (PCARRD, 1979) và Trung tâm Nghiên cứu Nông lâm Thế giới (ICRAF, 1997). Về mặt sinh học, cây Mắc ca được phân loại thuộc chi Macadamia, họ Quắn hoa (Proteaceae), nguồn gốc từ châu Đại Dương (Úc), là loài cây gỗ cao từ 2-12 m, thích hợp với đất thịt nhẹ, đất bazan màu mỡ có độ pH từ 5-5,5 và độ cao từ 700-1.000 m so với mực nước biển. Về mặt kinh tế, tác giả tiếp cận khái niệm hiệu quả kinh tế (HQKT) như một phạm trù phản ánh mối tương quan giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra, gắn liền với lý thuyết chi phí - lợi ích trong sản xuất nông nghiệp.
  • Phương pháp thu thập dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các báo cáo kinh tế - xã hội, hiện trạng sử dụng đất của UBND xã Quảng Trực, các văn bản chính sách như Quyết định số 861/QĐ-TTg ngày 04/06/2021 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 433/QĐ-UBDT ngày 18/06/2021 của Ủy ban Dân tộc. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua quan sát thực địa và phỏng vấn bán cấu trúc bằng phiếu điều tra kết hợp câu hỏi đóng và mở đối với cán bộ khuyến nông, già làng và các chủ hộ.
  • Phương pháp chọn mẫu: Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu điển hình với cỡ mẫu 36 hộ nông dân có diện tích từ 1.000 m² trở lên đã cho thu hoạch. Cơ cấu mẫu được thiết kế theo ma trận: 1 cấp mật độ x 2 phương thức canh tác (trồng thuần và trồng xen) x 3 nhóm mức sống (thoát nghèo, cận nghèo, nghèo) x 6 hộ điều tra cho mỗi đơn vị mẫu.
  • Phương pháp xử lý và phân tích kinh tế: Dữ liệu điều tra được tổng hợp và phân tích bằng Microsoft Excel thông qua công cụ PivotTable. Hiệu quả kinh tế dài hạn được đánh giá bằng phương pháp phân tích chi phí - lợi ích (CBA) dựa trên các chỉ tiêu tài chính quy về giá trị hiện tại có tính đến yếu tố thời gian (chu kỳ tính toán 10 năm):
    • Giá trị hiện tại của thu nhập: $BPV = \sum_{t=0}^{n} \frac{B_t}{(1+i)^t}$
    • Giá trị hiện tại của chi phí: $CPV = \sum_{t=0}^{n} \frac{C_t}{(1+i)^t}$
    • Giá trị hiện tại ròng: $NPV = BPV - CPV$
    • Tỷ số lợi ích - chi phí: $BCR = \frac{BPV}{CPV}$

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Mở đầu

Chương 1 làm rõ tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số xã Quảng Trực. Cây Mắc ca được nhìn nhận là loài cây lâm nghiệp đa mục đích, vừa có chức năng phòng hộ đầu nguồn, che phủ đất, vừa tạo sinh kế lâu dài. Tác giả xác lập hệ thống 3 mục tiêu nghiên cứu, chỉ rõ đối tượng khảo sát là các hộ trồng Mắc ca diện tích tối thiểu 1.000 m² và xác định phạm vi nghiên cứu thực địa tại địa bàn xã biên giới Quảng Trực.

Chương 2: Tổng quan nghiên cứu

Nội dung chương 2 tổng hợp cơ sở khoa học của phương thức trồng xen và nông lâm kết hợp, nêu bật các lợi ích về mặt sinh thái như phân tầng tán che, hạn chế dòng chảy mặt, xói mòn đất, giảm thiểu tác động của sương muối và tận dụng vi khí hậu. Phần tổng quan về cây Mắc ca trình bày nguồn gốc, phân loại thực vật họ Proteaceae, chu kỳ ra hoa đậu quả và yêu cầu lập địa.

Chương này cũng giới thiệu chi tiết địa bàn nghiên cứu: Xã Quảng Trực có đường biên giới dài 40,069 km giáp huyện Ô Rang, tỉnh Mondulkiri (Campuchia), tổng diện tích tự nhiên 55.460 ha, địa hình đồi lượn sóng phân cắt mạnh có độ dốc 15-25°, độ cao phổ biến 450-500 m (có khu vực đạt 900-950 m). Xã có 11 bon thuộc diện đặc biệt khó khăn, quy mô dân số gồm 17 dân tộc, trong đó người Kinh chiếm 57,95%, người M'nông chiếm 26,95%. Đến năm 2023, tỷ lệ hộ nghèo của xã là 46,28% (trong đó tỷ lệ nghèo trong đồng bào M'nông lên tới 72,37%), thu nhập bình quân đầu người năm 2022 đạt 14,5 triệu đồng/năm.

Chương 3: Nội dung, phương pháp nghiên cứu

Chương 3 trình bày chi tiết kế hoạch thực hiện, phân định tiêu chí phân loại 3 nhóm mức sống của các nông hộ:

  • Nhóm thoát nghèo: Tự chủ về đất đai sẵn có hoặc tự bỏ tiền mua thêm đất, không nhận hỗ trợ cấp đất và giống từ các chương trình xã hội, diện tích canh tác lớn.
  • Nhóm cận nghèo: Có sẵn một phần diện tích đất nhưng quy mô hạn chế, được Nhà nước cấp thêm đất và hỗ trợ cây giống để đảm bảo tư liệu sản xuất.
  • Nhóm nghèo: Hầu như không có đất canh tác, chủ yếu đi làm thuê, tư liệu sản xuất phụ thuộc hoàn toàn vào diện tích đất và cây giống được Nhà nước cấp hỗ trợ.

Chương này cũng chuẩn hóa quy trình điều tra xã hội học qua 2 bước (chuẩn bị bảng hỏi, xác định danh sách hộ và tiến hành phỏng vấn) cùng các công thức toán kinh tế tính toán giá trị hiện tại BPV, CPV, chỉ tiêu giá trị hiện tại ròng NPV và tỷ số BCR.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 4 là phần nội dung trọng tâm, cung cấp toàn bộ các số liệu khảo sát thực chứng tại địa phương:

Lịch sử và phân bố diện tích: Cây Mắc ca được thí điểm thành công và bắt đầu nhân rộng tại địa phương từ năm 2012 tại các bon Bu Prăng 1, Bu Prăng 2a và Đăk Huých. Trong 36 hộ điều tra, thời gian trồng phân bổ trong giai đoạn 2012-2014 (năm 2012 có 13 hộ, năm 2013 có 15 hộ, năm 2014 có 8 hộ). Tổng diện tích canh tác Mắc ca của 36 hộ là 392.000 m² (39,2 ha), bình quân 10.900 m²/hộ (1,09 ha/hộ); trong đó diện tích đã cho thu hoạch là 224.000 m² (22,4 ha), bình quân 6.200 m²/hộ.

Tên Bon Số hộ khảo sát Tổng diện tích (m²) Diện tích trung bình/hộ (m²)
Đăk Huých 1 10.000 10.000
Bu Prăng 1 8 86.000 10.800
Bu Prăng 1a 4 32.000 8.000
Bu Prăng 2 19 228.000 12.000
Bu Prăng 2a 4 36.000 9.000
Tổng cộng 36 392.000 10.900

Đặc điểm sinh học và thiết kế mô hình: Cây trồng sau 4-5 năm bắt đầu cho thu hoạch hạt. Cây ra hoa và cho quả 2 vụ trong năm gồm vụ chính (ra hoa tháng 12-01, thu hoạch tháng 6) và vụ phụ (ra hoa tháng 2-3, thu hoạch tháng 9) nhưng chất lượng quả giữa hai vụ không có sự khác biệt. Toàn bộ các mô hình khảo sát (cả trồng thuần và trồng xen với cà phê) đều áp dụng chung một cự ly thiết kế theo hướng dẫn khuyến nông là 6 x 6 m.

Chi phí đầu tư ban đầu và chi phí chăm sóc: Mức đầu tư ban đầu bình quân là 2.508.771 đồng/1.000 m², có xu hướng giảm dần theo mức sống hộ: nhóm thoát nghèo đầu tư cao nhất (2.617.917 đồng/1.000 m²), tiếp đến là nhóm cận nghèo (2.503.298 đồng/1.000 m²) và nhóm nghèo (2.405.099 đồng/1.000 m²). Về chi phí chăm sóc hàng năm, nhóm thoát nghèo đầu tư vượt trội đạt 2.316.250 đồng/1.000 m²/năm do tăng cường bón phân (628.333 đồng) và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (732.500 đồng). Nhóm nghèo chi 1.531.389 đồng/1.000 m²/năm, trong khi nhóm cận nghèo có mức chi chăm sóc thấp nhất là 1.389.369 đồng/1.000 m²/năm.

Nhóm mức sống Chi phí ban đầu (đồng/1.000 m²) Chi phí phân bón (đồng/1.000 m²) Chi phí thuốc BVTV (đồng/1.000 m²) Công lao động & thu hoạch (đồng/1.000 m²) Tổng chi phí chăm sóc/năm (đồng/1.000 m²)
Thoát nghèo 2.617.917 628.333 732.500 955.416 2.316.250
Cận nghèo 2.503.298 389.332 212.059 787.979 1.389.369
Nghèo 2.405.099 415.317 315.040 801.031 1.531.389
Bình quân 2.508.771 477.661 419.866 848.142 1.745.669

Năng suất và hiệu quả kinh tế: Sản lượng hạt tươi bình quân toàn bộ mẫu điều tra đạt 56,49 kg/1.000 m². Nhóm thoát nghèo đạt năng suất cao nhất (76,34 - 76,48 kg tươi/1.000 m²) nhờ chế độ chăm sóc bón phân 2-3 lần/năm, trong khi nhóm nghèo chỉ đạt 44,49 kg tươi/1.000 m² do hạn chế phân bón và kỹ thuật. Xét theo chỉ số kinh tế dài hạn 10 năm:

Nhóm mức sống NPV 10 năm (đồng/1.000 m²) NPV bình quân năm (đồng/1.000 m²) Quy đổi NPV/năm (đồng/ha) Hệ số BCR
Thoát nghèo 16.213.581 2.316.226 > 23.000.000 0,43
Cận nghèo — — > 15.000.000 0,69
Nghèo — > 1.000.000 > 10.000.000 —

Tác giả nhấn mạnh: Dù nhóm thoát nghèo có lợi nhuận tuyệt đối cao nhất, nhóm cận nghèo lại đạt tỷ suất sinh lời tính theo hệ số BCR cao nhất (0,69), chứng minh tính phù hợp của cây Mắc ca với phương thức canh tác bán quảng canh của người dân bản địa.

Thuận lợi, khó khăn và đề xuất: Tổng hợp 76 ý kiến thuận lợi cho thấy đa số ghi nhận cây phù hợp đất đai (11 ý kiến), dễ chăm sóc (18 ý kiến), được Nhà nước cấp giống (23 ý kiến) và giá cả tương đối ổn định (16 ý kiến). Ngược lại, 190 ý kiến phản ánh khó khăn tập trung vào thời tiết thất thường (48 ý kiến), chất lượng cây giống chưa đảm bảo (47 ý kiến) và thiếu vốn đầu tư phân bón, thuốc trừ sâu (60 ý kiến). Trong 108 lượt ý kiến đề xuất giải pháp, các nhóm hộ tập trung kiến nghị: cung cấp nguồn giống ghép mới đạt chuẩn chất lượng (38 lượt ý kiến), hỗ trợ nguồn vốn vay ưu đãi (27 lượt ý kiến) và cử cán bộ tập huấn kỹ thuật chăm sóc, cắt tỉa cành (27 lượt ý kiến).

Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Chương 5 đúc kết lại các phát hiện thực địa: cây Mắc ca thích nghi tốt với điều kiện lập địa xã Quảng Trực ở cả hai phương thức trồng thuần và trồng xen cự ly 6 x 6 m; mô hình bảo đảm hiệu quả kinh tế ròng dương cho tất cả các nhóm nông hộ, góp phần nâng cao thu nhập và cải thiện độ che phủ môi trường sinh thái. Chương này đưa ra kiến nghị cấp bách đối với UBND xã và trạm khuyến nông trong việc tăng cường hướng dẫn kỹ thuật canh tác, cắt tỉa tạo tán, kiểm soát chất lượng cây giống xuất vườn và hỗ trợ cung ứng phân bón đúng quy trình.

Kết quả và đóng góp

  • Hệ thống hóa số liệu thực chứng: Khóa luận cung cấp bộ dữ liệu chi tiết về chi phí đầu tư ban đầu (2,50 triệu đồng/1.000 m²), chi phí chăm sóc định kỳ (1,38 - 2,31 triệu đồng/1.000 m²/năm) và năng suất thu hoạch thực tế (44,49 - 76,48 kg hạt tươi/1.000 m²) của cây Mắc ca tại xã Quảng Trực.
  • Làm rõ sự tương quan giữa điều kiện kinh tế hộ và hiệu quả canh tác: Nghiên cứu chỉ ra rằng mức độ đầu tư phân bón, thuốc bảo vệ thực vật quyết định trực tiếp đến năng suất thu hoạch. Nhóm thoát nghèo có năng suất cao gần gấp đôi nhóm nghèo nhờ mức chi chăm sóc cao gấp 1,5 - 1,7 lần.
  • Phát hiện về chỉ số hoàn vốn (BCR): Tác giả chỉ ra một đóng góp quan trọng: Nhóm cận nghèo đạt hiệu số BCR cao nhất (0,69) với chi phí chăm sóc định kỳ thấp nhất, khẳng định cây Mắc ca có đặc tính dễ thích ứng, phù hợp với khả năng tài chính và tập quán lao động của các hộ dân có nguồn lực hạn chế.
  • Đóng góp thực tiễn cho chính sách khuyến nông: Tác giả phản ánh nguyện vọng thực tế của 100% các hộ khảo sát, chỉ rõ khâu đột phá cần can thiệp là kiểm soát chất lượng cây giống chuyển giao từ các dự án hỗ trợ và chuyển giao kỹ thuật đốn tỉa, bón phân đúng thời kỳ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế về phạm vi nội dung: Do quy định về thời gian và giới hạn khối lượng của một khóa luận đại học, nghiên cứu mới chỉ phân tích dòng tiền của riêng cây Mắc ca, chưa tính toán tổng hợp thu nhập và chi phí của các loài cây trồng xen (như cà phê, hồ tiêu) trên cùng một diện tích canh tác.
  • Hạn chế về chu kỳ sinh trưởng của đối tượng khảo sát: Tại thời điểm điều tra (năm 2023), các vườn Mắc ca mới bước vào thời kỳ cho trái từ năm thứ nhất đến năm thứ ba (trồng trong giai đoạn 2012-2014, bắt đầu cho quả sau 4-5 năm). Do đó, sản lượng chưa bước vào giai đoạn thuần thục ổn định để so sánh dứt điểm giữa phương thức trồng thuần và trồng xen.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Cần tiếp tục theo dõi, đo đếm sản lượng và phân tích tài chính toàn diện cho toàn bộ hệ thống canh tác nông lâm kết hợp (Mắc ca + Cà phê) trong các chu kỳ kinh doanh dài hơn (15-20 năm) khi cây đạt độ tàn khép tán và năng suất đỉnh điểm.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo thực chứng có giá trị đối với:

  • Sinh viên và học viên chuyên ngành Lâm học, Nông nghiệp, Khuyến nông, Kinh tế nông nghiệp: Tham khảo khung phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế nông hộ bằng công cụ CBA, kỹ thuật thiết kế phiếu phỏng vấn bán cấu trúc và phương pháp xử lý dữ liệu khảo sát điển hình theo nhóm mức sống.
  • Cán bộ khuyến nông và cơ quan quản lý nông nghiệp cơ sở: Sử dụng các định mức kinh tế - kỹ thuật (chi phí làm đất, cây giống, phân bón, nhân công) và các phản ánh thực tế về sâu bệnh, khí hậu để xây dựng tài liệu hướng dẫn kỹ thuật canh tác Mắc ca sát với điều kiện vùng đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên.
  • Các tổ chức hoạch định chính sách xóa đói giảm nghèo: Cung cấp luận cứ thực tiễn để điều chỉnh chính sách cấp phát giống và giao đất sản xuất, tránh tình trạng hỗ trợ giống kém chất lượng hoặc thiếu quy trình chuyển giao kỹ thuật đi kèm.

Câu hỏi thường gặp

1. Mô hình trồng Mắc ca tại xã Quảng Trực được bố trí theo cự ly và phương thức nào?
Toàn bộ các mô hình điều tra đều áp dụng cự ly trồng thống nhất là 6 x 6 m theo hướng dẫn của khuyến nông địa phương, được tổ chức theo 2 phương thức: trồng thuần loài Mắc ca hoặc trồng xen Mắc ca trong vườn cà phê.

2. Chi phí đầu tư ban đầu cho 1.000 m² trồng Mắc ca tại địa phương là bao nhiêu?
Chi phí đầu tư ban đầu bình quân chung là 2.508.771 đồng/1.000 m². Trong đó, chi phí cây giống chiếm tỷ trọng lớn nhất với bình quân 2.027.702 đồng, tiền công làm đất bình quân 267.428 đồng và công trồng bình quân 213.641 đồng. Mức chi này có sự dao động giữa các nhóm hộ từ 2.405.099 đồng đến 2.617.917 đồng/1.000 m².

3. Tại sao nhóm hộ cận nghèo lại đạt tỷ số lợi ích - chi phí (BCR) cao nhất?
Nhóm cận nghèo đạt hệ số BCR cao nhất (0,69) do họ duy trì chi phí chăm sóc hàng năm ở mức thấp nhất trong 3 nhóm (1.389.369 đồng/1.000 m²/năm) nhưng vẫn đạt sản lượng tương đối ổn định. Điều này cho thấy cây Mắc ca đáp ứng tốt khả năng đầu tư vừa phải của nhóm hộ này mà không đòi hỏi quá nhiều chi phí duy tu tốn kém.

4. Sản lượng thu hoạch thực tế giữa các nhóm hộ có sự chênh lệch như thế nào?
Năng suất bình quân chung toàn xã đạt 56,49 kg hạt tươi/1.000 m². Nhóm thoát nghèo có năng suất cao nhất đạt 76,34 - 76,48 kg tươi/1.000 m² do đầu tư bón phân và phun thuốc 2-3 lần/năm; nhóm nghèo có năng suất thấp nhất đạt 44,49 kg tươi/1.000 m² do bón ít hoặc hầu như không sử dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật.

5. Khó khăn lớn nhất mà người trồng Mắc ca tại xã Quảng Trực đang đối mặt là gì?
Theo kết quả điều tra 190 lượt ý kiến, khó khăn lớn nhất của người dân là thiếu vốn đầu tư phân bón, thuốc bảo vệ thực vật (60 lượt ý kiến), tiếp theo là tác động tiêu cực của thời tiết biến đổi thất thường (48 lượt ý kiến) và nguồn cây giống được hỗ trợ ban đầu chưa đạt chuẩn chất lượng (47 lượt ý kiến).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Điểu Phong đã phản ánh chân thực hiện trạng canh tác và hiệu quả kinh tế của mô hình trồng cây Mắc ca tại xã biên giới Quảng Trực thông qua số liệu điều tra thực tế từ 36 nông hộ. Kết quả nghiên cứu khẳng định cây Mắc ca phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu địa phương và đều mang lại giá trị hiện tại ròng (NPV) dương cho các nhóm mức sống trong chu kỳ kinh doanh 10 năm. Tuy nhiên, để phát huy tối đa hiệu quả kinh tế và hỗ trợ giảm nghèo bền vững, chính quyền địa phương và ngành khuyến nông cần tập trung giải quyết đồng bộ các vướng mắc về chất lượng cây giống, hỗ trợ nguồn vốn đầu tư phân bón và chuyển giao quy trình kỹ thuật chăm sóc, cắt tỉa cành cho người dân bản địa.