CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN 1. Quỹ tín dụng nhân dân 1. Khái niệm, nguyên tắc, mục tiêu hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân 1. Khái niệm QTDND là tên gọi của loại hình HTX tín dụng kiểu mới ở Việt Nam được thành lập theo Quyết định số 390/QĐ-TTg ngày 27/7/1993 của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai thí điểm thành lập QTDND.
Mô hình QTDND được thiết kế trên cơ sở học tập kinh nghiệm của hệ thống Quỹ nhân dân Desjardins, Quesbec -Canada. Trong thực tế, các nước trên Thế giới sử dụng rất nhiều tên gọi khác nhau để nói về loại hình TCTD này, ví dụ: Quỹ nhân dân Desjardins, Quesbec (Canada); Ngân hàng HTX (CHLB Đức); Liên minh tín dụng (Mỹ); Quỹ tiết kiệm và tín dụng nhân dân (Burkina Faso); Ngân hàng Nhân dân (Rwanda); Quỹ tiết kiệm và tín dụng làng (Mali); QTD tương hỗ nông nghiệp (Besnin),… Mặc dù tên gọi có thể khác nhau nhưng loại hình TCTD này có những nét đặc trưng rất nổi bật. Trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu này, để thuận tiện cho việc trình bày và phù hợp với tình hình Việt Nam, sau đây tác giả sẽ sử dụng thống nhất cụm từ “QTDND” để nói về loại hình QTDND ở Việt Nam cũng như về các TCTD hợp tác khác tùy theo ngữ cảnh. Trên thế giới có rất nhiều định nghĩa khác nhau về QTDND, ví dụ: - Theo Hiệp hội Liên minh tín dụng quốc gia Hoa Kỳ (National Credit Union Administration): QTDND, là một định chế tài chính phi lợi nhuận, được làm chủ và kiểm soát bởi các thành viên, đồng thời là những người sử dụng các dịch vụ của QTDND.
QTDND phục vụ cho các nhóm người có cùng những đặc tính chung, như có cùng nơi làm việc, cùng nơi cư trú, cùng học một trường 5 hoặc cùng đi lễ ở một nhà thờ. QTDND cũng là nơi an toàn, thuận tiện để các thành viên gửi tiền tiết kiệm, vay vốn và thực hiện các dịch vụ tài chính khác với giá cả hợp lý. - Theo Hội đồng Liên minh tín dụng Thế giới (“World Council of Credit Union”, viết tắt là WOCCU): QTDND là một loại hình trung gian tài chính mang tính tư nhân và hợp tác. Việc gia nhập vào QTDND được mở rộng và tự nguyện.
QTDND thuộc quyền sở hữu của các thành viên - những người quản lý QTDND một cách dân chủ. QTDND hoạt động nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu tài chính của mọi thành viên thông qua khuyến khích tiết kiệm, cho vay thành viên và thông qua các thể thức hoạt động khác do chính các thành viên quyết định. Để đảm bảo thỏa mãn nhu cầu của các thành viên một cách tốt nhất và lâu dài nhất, QTDND quan tâm đến sự ổn định về tài chính. Chính vì lý do này mà QTDND phải đạt được mục đích quản lý có hiệu quả một cách thường xuyên.
Ở Việt Nam, theo quy định tại Nghị định số 48/2001/NĐ-CP ngày 13/8/2001 về tổ chức và hoạt động của QTDND, khái niệm về QTDND được diễn đạt như sau: QTDND là loại hình TCTD hợp tác hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động, thực hiện mục tiêu chủ yếu là tương trợ giữa các thành viên, nhằm phát huy sức mạnh của tập thể và của từng thành viên giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống. Hoạt động của QTDND phải bảo đảm bù đắp chi phí và có tích lũy để phát triển. Qua nghiên cứu các khái niệm nói trên, tác giả xin đưa ra một khái niệm mang tính tổng quát cao về QTDND như sau: QTDND là một loại hình TCTD được thành lập, quản lý và kiểm soát bởi các thành viên gồm những người có cùng những đặc điểm về nơi cư trú, nghề nghiệp hoặc các đặc điểm chung khác. QTDND tuân thủ mục đích, tôn chỉ và các nguyên tắc về tổ chức, hoạt động của loại hình HTX.
Nguyên tắc hoạt động của QTDND Tùy theo tình hình thực tế, mỗi quốc gia có cách diễn đạt khác nhau về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của QTDND. Tuy nhiên, nội hàm của các nguyên tắc này nói chung là khá thống nhất, tại Việt Nam nguyên tắc hoạt động của QTDND được quy định cụ thể tại Nghị định số 48/2001/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của QTDND như sau: */ Tự nguyện gia nhập và ra QTDND Mọi công dân Việt Nam, các hộ gia đình và các đối tượng khác có đủ điều kiện theo quy định tại Nghị định này đều có thể gia nhập trở thành thành viên của QTDND; Thành viên có quyền ra QTDND theo quy định của Điều lệ QTDND, đây là nguyên tắc rất quan trọng thể hiện tính ưu việt của QTDND. */ Quản lý dân chủ và bình đẳng Mọi thành viên đều có quyền tham gia quản lý, kiểm tra, giám sát QTDND và có quyền ngang nhau trong biểu quyết. Điều đó được thể hiện qua các quyền cơ bản của thành viên: được dự Đại hội thành viên; dự các hội nghị thành viên để bàn bạc và biểu quyết các vấn đề quan trọng; được ứng cử, bầu cử vào bộ máy quản trị, kiểm soát và điều hành của QTDND; được cung cấp các thông tin cần thiết liên quan đến hoạt động của QTDND.
*/ Tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi QTDND tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của mình; tự quyết định về phân phối thu nhập, đảm bảo QTDND và thành viên cùng có lợi. */ Chia lãi bảo đảm kết hợp lợi ích của thành viên và sự phát triển của QTDND: Sau khi làm xong nghĩa vụ nộp thuế, lãi còn lại được trích một phần vào các quỹ, một phần chia theo vốn góp của thành viên, phần còn lại chia cho thành viên theo mức độ sử dụng dịch vụ của QTDND do Đại hội thành viên quyết định. */ Hợp tác và phát triển cộng đồng 7 Thành viên phải phát huy tinh thần tập thể, nâng cao ý thức hợp tác trong QTDND và trong cộng đồng xã hội; hợp tác giữa các QTDND với nhau ở trong nước và ngoài nước theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, nhiều nhà nghiên cứu xem việc QTDND cung cấp dịch vụ cho thành viên đi đôi với việc thành viên phải sử dụng sản phẩm dịch vụ của QTDND như là một nguyên tắc hoạt động của QTDND vì đây là vấn đề rất quan trọng góp phần đảm bảo cho QTDND phát triển bền vững.
Mục tiêu hoạt động của QTDND Ở bất kỳ nước nào, thành viên QTDND luôn được xác định vừa là nền tảng, vừa là tâm điểm của QTDND. Ngay từ giai đoạn hình thành ban đầu, các nhà sáng lập QTDND đã đề cao luận điểm về QTDND “không vì lợi nhuận, không làm từ thiện mà là phục vụ” với hàm ý sâu xa rằng QTDND không mang lại “con cá” mà là “cái cần câu” cho các thành viên. Tại Việt Nam, theo quy định tại Thông tư số 04/2015/TT-NHNN ngày 31/3/2015 của NHNN Quy định về Quỹ tín dụng nhân dân, hoạt động của QTDND nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ giữa các thành viên thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ và cải thiện đời sống. Như vậy, không như các loại hình TCTD khác, thường lấy lợi nhuận làm mục tiêu hoạt động, còn QTDND là loại hình TCTD hợp tác hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, ra đời vì mục tiêu tương trợ giữa các thành viên nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ và cải thiện đời sống, góp phần phát triển cộng đồng.
Điều đó cũng có nghĩa là các QTDND tìm cách nâng cao lợi nhuận không chỉ vì mục đích chia cổ tức cho các thành viên mà nhằm mục đích quan trọng là phục vụ thành viên tốt hơn, cung cấp cho thành viên những dịch vụ tiện ích hơn, với giá cả hợp lý hơn. Do đó, QTDND luôn phải chú trọng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh để nâng cao khả năng thu hút vốn góp và sự tham gia của thành viên ngày càng nhiều hơn, đảm bảo hoạt động có lãi để bảo tồn và phát triển nguồn vốn hoạt động, một phần trả cổ tức cho thành viên. Vai trò, đặc điểm của quỹ tín dụng nhân dân trong nền kinh tế 1. Vai trò của quỹ tín dụng nhân dân Ở các nước phát triển, bên cạnh xu hướng hình thành những tập đoàn kinh tế lớn, hùng mạnh thì việc phát triển các hình thức kinh tế hợp tác vẫn là một nhu cầu không thể thiếu.
Đối với các nước đang phát triển là những nước nghèo có nền sản xuất nông nghiệp, trình độ dân trí chưa cao thì vấn đề này là một tất yếu khách quan, phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội. Trong những năm đổi mới, nông thôn - nông nghiệp nước ta có những chuyển biến mạnh mẽ theo hướng phát triển kinh tế hàng hóa, bước đầu đã xuất hiện và hình thành một thị trường sản xuất, tiêu thụ và dịch vụ đa dạng, phong phú. Do quá trình sản xuất, dịch vụ mở rộng, lượng vốn chu chuyển trong nông nghiệp - nông thôn đòi hỏi ngày một lớn, trong khi đó các TCTD và các định chế tài chính khác hiện có ở nông thôn chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu về vốn cho phát triển sản xuất, điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp. Ở Việt Nam loại hình tín dụng HTX đã hình thành và phát triển mạnh mẽ trong những năm từ 1956 đến 1990, theo thống kê đến năm 1985 cả nước có 7.160 HTX tín dụng ở nông thôn và Quỹ tín dụng ở đô thị.
Từ sau năm 1986 khi nền kinh tế nước ta chuyển đổi từ cơ chế kinh tế bao cấp sang cơ chế kinh tế thị trường, hoạt động ngành ngân hàng cũng đổi mới chuyển thành mô hình 2 cấp, tách bạch giữa quản lý nhà nước với tín dụng thương mại.