Luận án tiến sĩ hiệu quả sử dụng gạo tăng cường sắt kẽm tới tình trạng dinh dưỡng của phụ nữ 2049 tuổi vùng nông thôn tỉnh thái bình

Chuyên khảo Hiệu quả gạo tăng cường sắt kẽm đối với dinh dưỡng phụ nữ 20-49 tuổi t phân tích chuyên sâu các khía cạnh quan trọng trong lĩnh vực

Trường đại học

Viện Dinh Dưỡng

Chuyên ngành

Dinh Dưỡng

Tác giả

Trần Việt Nga

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2022

183
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Thiếu năng lượng trường diễn ở phụ nữ tuổi sinh đẻ

1.2. Vi chất và thiếu vi chất dinh dưỡng

1.3. Tổng quan các phương pháp can thiệp phòng chống thiếu vi chất dinh dưỡng hiện nay

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Một số nét cơ bản về địa bàn nghiên cứu

2.2. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.3. Phương pháp và cỡ mẫu nghiên cứu

2.4. Chỉ số và biến số nghiên cứu

2.5. Giám sát triển khai

2.6. Quá trình tổ chức nghiên cứu

2.7. Phân tích số liệu

2.8. Các sai số có thể mắc phải và biện pháp khắc phục

2.9. Đạo đức nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đánh giá tỷ lệ thiếu năng lượng trường diễn, thiếu máu và một số yếu tố liên quan ở phụ nữ tuổi sinh đẻ 20-49 tuổi tại 2 xã Minh Khai và Nguyên Xá thuộc huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình

3.2. Hiệu quả sử dụng gạo tăng cường sắt, kẽm sau 12 tháng can thiệp lên chỉ số nhân trắc của phụ nữ 20-49 tuổi

3.3. Số lượng mẫu tại từng thời điểm nghiên cứu

3.4. Một số đặc điểm khẩu phần trước và sau can thiệp

3.5. Tình trạng dinh dưỡng của đối tượng trước can thiệp

3.6. Hiệu quả can thiệp đến sự thay đổi chỉ số nhân trắc

3.7. Hiệu quả sử dụng gạo tăng cường sắt, kẽm sau 12 tháng can thiệp lên tình trạng vi chất của phụ nữ 20-49 tuổi

3.8. Chỉ số sinh hoá của hai nhóm tại thời điểm trước can thiệp

3.9. Hiệu quả cải thiện nồng độ hemoglobin và tình trạng thiếu máu sau can thiệp

3.10. Hiệu quả cải thiện nồng độ ferritin sau can thiệp

3.11. Hiệu quả cải thiện nồng độ Transferritin receptor sau can thiệp

3.12. Hiệu quả cải thiện nồng độ kẽm sau can thiệp

3.13. Hiệu quả cải thiện nồng độ vitamin A sau can thiệp

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đánh giá tỷ lệ thiếu năng lượng trường diễn, thiếu máu và một số yếu tố liên quan ở phụ nữ tuổi sinh đẻ 20-49 tuổi tại 2 xã Minh Khai và Nguyên Xá thuộc huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình

4.2. Hiệu quả sử dụng gạo tăng cường sắt, kẽm sau 12 tháng can thiệp lên chỉ số nhân trắc của phụ nữ 20-49 tuổi

4.3. Một số đặc điểm của đối tượng trước can thiệp

4.4. Một số đặc điểm khẩu phần trước và sau can thiệp

4.5. Hiệu quả can thiệp đến sự thay đổi chỉ số nhân trắc

4.6. Hiệu quả sử dụng gạo tăng cường sắt, kẽm sau 12 tháng can thiệp lên tình trạng vi chất của phụ nữ 20-49 tuổi

4.7. Hiệu quả cải thiện tình trạng thiếu máu, thiếu sắt sau can thiệp

4.8. Hiệu quả cải thiện tình trạng thiếu kẽm sau can thiệp

4.9. Hiệu quả cải thiện tình trạng vitamin A sau can thiệp

4.10. Một số hạn chế của Luận án

4.11. Những đóng góp mới của Luận án

KẾT LUẬN

KHUYẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu gạo tăng cường sắt kẽm tại Thái Bình

Nghiên cứu về hiệu quả của gạo tăng cường dinh dưỡng đối với phụ nữ trong độ tuổi 20-49 tại Thái Bình đã chỉ ra rằng tình trạng dinh dưỡng của nhóm này đang gặp nhiều vấn đề nghiêm trọng. Thiếu hụt vi chất dinh dưỡng như sắt và kẽm là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng sức khỏe kém. Gạo, với vai trò là thực phẩm chính trong bữa ăn hàng ngày, có thể trở thành một giải pháp hiệu quả để cải thiện tình trạng này. Nghiên cứu này không chỉ giúp nâng cao nhận thức về dinh dưỡng mà còn cung cấp bằng chứng khoa học cho các chính sách dinh dưỡng quốc gia.

1.1. Tình trạng dinh dưỡng phụ nữ 20 49 tuổi tại Thái Bình

Tình trạng dinh dưỡng của phụ nữ trong độ tuổi sinh sản tại Thái Bình đang ở mức báo động. Theo các nghiên cứu gần đây, tỷ lệ thiếu máu và thiếu vi chất dinh dưỡng như sắt và kẽm ở nhóm này rất cao. Việc thiếu hụt các vi chất này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của phụ nữ mà còn tác động tiêu cực đến sự phát triển của trẻ em mà họ sinh ra.

1.2. Vai trò của gạo trong chế độ dinh dưỡng

Gạo là nguồn lương thực chính trong bữa ăn hàng ngày của người dân Việt Nam. Việc tăng cường vi chất dinh dưỡng vào gạo có thể giúp cải thiện tình trạng dinh dưỡng cho phụ nữ trong độ tuổi sinh sản. Gạo tăng cường sắt và kẽm không chỉ dễ dàng được chấp nhận mà còn có thể cung cấp một lượng lớn vi chất cần thiết cho cơ thể.

II. Vấn đề dinh dưỡng và thách thức tại Thái Bình

Tình trạng thiếu năng lượng trường diễn và thiếu vi chất dinh dưỡng đang là thách thức lớn đối với sức khỏe của phụ nữ tại Thái Bình. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, phụ nữ trong độ tuổi sinh sản thường gặp phải tình trạng thiếu hụt năng lượng và vi chất dinh dưỡng, dẫn đến nhiều hệ lụy nghiêm trọng cho sức khỏe. Việc thiếu hụt này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe cá nhân mà còn tác động đến sự phát triển của thế hệ tương lai.

2.1. Nguyên nhân gây thiếu hụt dinh dưỡng

Thiếu hụt dinh dưỡng ở phụ nữ tuổi sinh đẻ tại Thái Bình có thể do nhiều nguyên nhân, bao gồm chế độ ăn uống không đủ chất, thiếu an ninh thực phẩm và các yếu tố kinh tế xã hội. Nghiên cứu cho thấy rằng, những phụ nữ có thu nhập thấp thường có nguy cơ cao hơn về tình trạng thiếu hụt dinh dưỡng.

2.2. Hệ lụy của tình trạng thiếu dinh dưỡng

Thiếu dinh dưỡng có thể dẫn đến nhiều hệ lụy nghiêm trọng như tăng nguy cơ mắc bệnh, giảm khả năng sinh sản và ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ em. Phụ nữ thiếu dinh dưỡng có thể gặp khó khăn trong việc hồi phục sức khỏe sau khi sinh, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của họ và gia đình.

III. Phương pháp nghiên cứu hiệu quả gạo tăng cường sắt kẽm

Nghiên cứu này áp dụng phương pháp can thiệp bằng cách sử dụng gạo tăng cường sắt và kẽm trong bữa ăn hàng ngày của phụ nữ từ 20-49 tuổi tại Thái Bình. Phương pháp này không chỉ giúp cải thiện tình trạng dinh dưỡng mà còn tạo ra một mô hình can thiệp có thể áp dụng rộng rãi. Các chỉ số dinh dưỡng sẽ được theo dõi và đánh giá trước và sau can thiệp để xác định hiệu quả của gạo tăng cường.

3.1. Thiết kế nghiên cứu và cỡ mẫu

Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp can thiệp ngẫu nhiên với cỡ mẫu đủ lớn để đảm bảo tính chính xác của kết quả. Các đối tượng tham gia sẽ được chia thành hai nhóm: nhóm can thiệp sử dụng gạo tăng cường và nhóm đối chứng sử dụng gạo thông thường.

3.2. Các chỉ số đánh giá hiệu quả

Các chỉ số dinh dưỡng như nồng độ hemoglobin, nồng độ ferritin và tình trạng thiếu máu sẽ được theo dõi. Ngoài ra, các chỉ số nhân trắc như cân nặng, chiều cao cũng sẽ được ghi nhận để đánh giá sự thay đổi trong tình trạng dinh dưỡng của phụ nữ sau can thiệp.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy việc sử dụng gạo tăng cường sắt và kẽm đã có tác động tích cực đến tình trạng dinh dưỡng của phụ nữ trong độ tuổi 20-49 tại Thái Bình. Sau 12 tháng can thiệp, tỷ lệ thiếu máu và thiếu vi chất dinh dưỡng đã giảm đáng kể. Những kết quả này không chỉ có ý nghĩa về mặt sức khỏe mà còn có thể được áp dụng trong các chính sách dinh dưỡng quốc gia.

4.1. Tác động đến tình trạng dinh dưỡng

Nghiên cứu cho thấy rằng, sau 12 tháng sử dụng gạo tăng cường, tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ đã giảm từ 25% xuống còn 15%. Điều này cho thấy gạo tăng cường có thể là một giải pháp hiệu quả để cải thiện tình trạng dinh dưỡng cho phụ nữ trong độ tuổi sinh sản.

4.2. Khuyến nghị cho chính sách dinh dưỡng

Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng để xây dựng các chính sách dinh dưỡng quốc gia, nhằm khuyến khích việc tăng cường vi chất dinh dưỡng vào thực phẩm. Điều này không chỉ giúp cải thiện sức khỏe cho phụ nữ mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của cộng đồng.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của nghiên cứu

Nghiên cứu về hiệu quả của gạo tăng cường sắt và kẽm đã chỉ ra rằng đây là một giải pháp khả thi để cải thiện tình trạng dinh dưỡng cho phụ nữ 20-49 tuổi tại Thái Bình. Kết quả nghiên cứu không chỉ có giá trị trong việc nâng cao nhận thức về dinh dưỡng mà còn mở ra hướng đi mới cho các chương trình can thiệp dinh dưỡng trong tương lai.

5.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu

Nghiên cứu này đã cung cấp bằng chứng khoa học quan trọng về hiệu quả của gạo tăng cường trong việc cải thiện tình trạng dinh dưỡng. Điều này có thể giúp các nhà hoạch định chính sách đưa ra các quyết định đúng đắn hơn trong việc cải thiện sức khỏe cộng đồng.

5.2. Hướng đi tương lai cho nghiên cứu dinh dưỡng

Cần tiếp tục nghiên cứu và mở rộng các chương trình can thiệp dinh dưỡng, đặc biệt là trong các khu vực nông thôn. Việc áp dụng các mô hình can thiệp tương tự có thể giúp giảm tỷ lệ thiếu hụt dinh dưỡng và nâng cao chất lượng cuộc sống cho phụ nữ và trẻ em.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

24/07/2025
Luận án tiến sĩ hiệu quả sử dụng gạo tăng cường sắt kẽm tới tình trạng dinh dưỡng của phụ nữ 2049 tuổi vùng nông thôn tỉnh thái bình

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Thiếu năng lượng trường diễn ở phụ nữ tuổi sinh đẻ 1. Khái niệm thiếu năng lượng trường diễn Thiếu năng lượng trường diễn là tình trạng mà một cá thể ở trạng thái thiếu cân bằng giữa năng lượng ăn vào và năng lượng tiêu hao dẫn đến cân nặng và dự trữ năng lượng của cơ thể thấp. Những người thiếu NLTD có chuyển hoá năng lượng thấp hơn bình thường và giảm hoạt động thể lực dẫn đến khẩu phần ăn vào thấp hơn bình thường [5].

Tiêu chuẩn đánh giá tình trạng dinh dưỡng dựa vào chỉ số khối cơ thể, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã đưa ra khái niệm chỉ số khối cơ thể (Body Mass Index - BMI) để đánh giá tình trạng dinh dưỡng của người trưởng thành, theo phân loại của WHO năm 2000 [25]. Cân nặng (kilogam) BMI = (Chiều cao)2 (mét) BMI < 16,0 (kg/m2) Thiếu NLTD độ III BMI từ 16,0 – 16,9 (kg/m2) Thiếu NLTD độ II BMI từ 17,00 – 18,4 (kg/m2) Thiếu NLTD độ I BMI <18,5 (kg/m2) Thiếu năng lượng trường diễn BMI từ 18,5-24,9 (kg/m2) Bình thường BMI từ 25 -29,9 (kg/m2) Thừa cân BMI ≥ 30 (kg/m2) Béo phì Để đánh giá mức độ thiếu NLTD trên quần thể, WHO cũng đã đưa ra ngưỡng đánh giá về mặt ý nghĩa sức khoẻ cộng đồng như sau: + Mức độ nhẹ: Tỷ lệ thiếu NLTD 5 - 9% 5 + Mức độ trung bình: Tỷ lệ thiếu NLTD 10 - 19% + Mức độ nặng: Tỷ lệ thiếu NLTD 20 - 39% + Mức độ rất nặng: Tỷ lệ thiếu NLTD ≥ 40% 1. Nguyên nhân của thiếu năng lượng trường diễn Thiếu NLTD là tình trạng bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố [7], [8]. Nguyên nhân chính của thiếu NLTD là thiếu năng lượng khẩu phần, thiếu an ninh thực phẩm hộ gia đình.

Có nhiều nghiên cứu đã xác định khẩu phần ăn có vai trò quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến tình trạng thiếu NLTD trên đối tượng PNTSĐ. Nghiên cứu bệnh chứng của Asamre Wubie năm 2019 tại Ethiopia, phụ nữ ăn dưới 3 bữa một ngày có nguy cơ bị thiếu NLTD cao gấp 5 lần so với phụ nữ ăn từ 3 bữa trở lên (p<0,05) [26]. Nghiên cứu của Saba Abraham tại Ethiopia và nghiên cứu của Yichen Jin tại Ấn Độ cho rằng chế độ ăn uống không đủ chất và tần suất bữa ăn là những yếu tố liên quan đền tình trạng thiếu NLTD [27], [28]. Bên cạnh đó, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng kinh tế hộ gia đình, tiếp cận dịch vụ y tế, gánh nặng về công việc gia đình và tình trạng bất bình đẳng giới ở những nước nghèo và đang phát triển được xem là nguyên nhân tiềm tàng dẫn đến thiếu NLTD.

Nghiên cứu của tác giả Asvini K. Subasinghe về thiếu NLTD ở nông thôn Ấn Độ cho thấy tỷ lệ thiếu NLTD ở PNTSĐ là 41,5%, phụ nữ là nông dân chiếm 52% cao hơn các nhóm phụ nữ khác (p < 0,05), phụ nữ thuộc các gia đình có thu nhập thấp bị thiếu NLTD (46%) cao hơn phụ nữ thuộc các gia đình có thu nhập cao hơn (34%; p < 0,01) [29]. Điều tra sức khỏe gia đình quốc gia Ấn Độ 2016 của tác giả Supa Pengpid, phụ nữ học vấn thấp hơn, thuộc hộ nghèo có tỉ lệ thiếu NLTD cao hơn nhóm còn lại [30]. Một nghiên cứu khác tại Ethiopia, những phụ nữ có hai con trở lên có tỷ lệ thiếu NLTD cao hơn đáng kể so với những phụ dưới 2 con [31].

Số liệu điều tra Giám sát dinh dưỡng của Viện Dinh dưỡng năm 2014 cho thấy, tỷ lệ phụ nữ 15-49 bị thiếu NLTD ở vùng thành thị là 12,1% và vùng nông thôn là 16,3% [16]. Nghiên cứu của tác giả Võ Phạm Mi Trang năm 2020 cho thấy, những công nhân có thu nhập thấp có nguy cơ bị thiếu NLTD cao hơn nhóm còn lại (p < 0,05) [32]. Hậu quả của thiếu năng lượng trường diễn Thiếu NLTD gây ra nhiều hậu quả cho PNTSĐ. Những người bị thiếu NLTD dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn và giảm khả năng đáp ứng miễn dịch dẫn đến chậm hồi phục khi mắc bệnh.

Thiếu NLTD ở người mẹ làm tăng nguy cơ tử vong con và có liên quan chặt chẽ với tình trạng dinh dưỡng của những đứa trẻ do họ sinh ra. Hàng năm có khoảng 500 ngàn phụ nữ trên toàn thế giới tử vong do mang thai và sinh nở. Suy dinh dưỡng ở đối tượng có liên quan trực tiếp với bệnh tật thể hiện bằng nhiễm khuẩn phức tạp và làm tăng nguy cơ này ở cả mẹ và con. Liên quan giữa thiếu NLTD của mẹ với cân nặng sơ sinh thấp và chậm phát triển bào thai đã được chứng minh.

Thiếu NLTD cũng làm tăng tình trạng thiếu vi chất dinh dưỡng do đó dẫn đến các biểu hiện thiếu vi chất đặc hiệu như thiếu máu, các rối loạn do thiếu I-ốt v. Ngoài ra, thiếu NLTD còn ảnh hưởng xấu đến kinh tế hộ gia đình và của quốc gia do làm giảm khả năng lao động và có thể tạo ra những ảnh hưởng xấu qua nhiều thế hệ [33], [26], [34]. Những quốc gia có tình trạng thiếu NLTD phổ biến chắc chắn có liên quan tới chi phí trực tiếp bao gồm giảm thu nhập ở những nhóm dân cư bị thiếu NLTD và phải đối mặt với những vấn đề lâu dài về sau như cân nặng sơ sinh thấp, tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch và đái tháo đường khi trưởng thành. Giảm năng suất lao động kết hợp với bệnh tật ở phụ nữ bị thiếu NLTD chưa được chứng minh rõ ràng nhưng nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng 60% tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi có liên quan tới suy dinh dưỡng và suy dinh dưỡng ở trẻ có liên quan chặt chẽ với tình trạng thiếu NLTD của mẹ.

Một báo cáo từ Châu Á cho thấy thiếu NLTD giảm 10-15% năng suất lao động và 5-10% GDP [35]. Do đó, cải thiện tình trạng dinh dưỡng của phụ nữ thì quốc gia có thể giảm chi phí chăm sóc y tế, tăng khả năng nhận thức, tăng năng suất lao động của người trưởng thành và góp phần phát triển kinh tế xã hội của quốc gia. Tình hình thiếu năng lượng trường diễn của phụ nữ độ tuổi sinh đẻ  Trên thế giới Thiếu NLTD ở PNTSĐ có nguy cơ ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của chính 7 họ cũng như sức khỏe của con cái họ. Hơn 3,5 triệu phụ nữ và trẻ em dưới 5 tuổi ở các nước đang phát triển tử vong mỗi năm do nguyên nhân cơ bản là thiếu dinh dưỡng.

Phụ nữ có nhiều khả năng bị thiếu dinh dưỡng hơn nam giới vì một số lý do, bao gồm đặc điểm sinh học sinh sản, địa vị xã hội thấp, nghèo đói và thiếu giáo dục. Vì vậy, tình trạng dinh dưỡng đầy đủ của phụ nữ rất quan trọng để nâng cao sức khỏe và tăng khả năng lao động của bản thân phụ nữ cũng như sức khỏe của con cái họ [19], [36], [37]. Trên toàn cầu, thiếu NLTD vẫn là một thách thức lớn, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. USAID khi đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ em gái vị thành niên và PNTSĐ ở các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình đã cho thấy nhiều thay đổi trong tình trạng dinh dưỡng của trẻ em gái vị thành niên và PNTSĐ, phụ nữ mang thai và cho con bú ở các nước có thu nhập thấp và trung bình.

Tỷ lệ thiếu NLTD ở phụ nữ đã giảm, tuy nhiên vẫn còn ở mức có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng [35], [38], [39]. Nghiên cứu của tác giả Rasheda Khanam về tình trạng dinh dưỡng của 13.230 PNTSĐ ở nông thôn Bangladesh cho thấy cân nặng, chiều cao và BMI trung bình lần lượt là 44,8 ± 8,0 kg, 149,9 ± 5,6 cm và 19,9 ± 3,3 kg/m2. Nghiên cứu cũng cho thấy cho thấy 16,5% phụ nữ có chiều cao dưới 145 cm, 32,1% phụ nữ có chiều cao từ 149 cm đến dưới 150 cm và 34,3% khác có chiều cao từ 150 cm đến dưới 155 cm. Tỷ lệ thiếu NLTD là 37,0% và 7,2% thừa cân, béo phì [8].

Nghiên cứu của tác giả Margaret Bulirani đánh giá tình trạng dinh dưỡng trên 302 PNTSĐ (15 đến 49 tuổi) và ước tính các yếu tố nguy cơ liên quan tại quận Dedza của Ấn Độ năm 2017 cho thấy 23% thiếu NLTD theo đánh giá BMI và thường gặp hơn ở phụ nữ lớn tuổi (33 đến 49 tuổi) trong khi thừa cân có tỷ lệ cao hơn ở phụ nữ trẻ (15 đến 32 tuổi) [40]. Nghiên cứu của tác giả Uzma Ilyas trên PNTSĐ ở cộng đồng nông thôn Lahore với độ tuổi ở nhóm 15-25 tuổi là 48,3%, ở nhóm 26 - 35 tuổi là 37,1% và ở nhóm > 35 tuổi là 14,6%. Có 43,7% phụ nữ bị thiếu NLTD, 45,7% có BMI bình thường và 10,6% người thừa cân [41]. Nghiên cứu của tác giả Haque MJ tại khu ổ chuột Mohakhali của thành phố Dhaka với mục đích đánh giá tình trạng dinh dưỡng của PNTSĐ, 510 phụ nữ tham 8 gia nghiên cứu với 57% số người được hỏi là các bà nội trợ và 33% là công nhân may mặc.

Cân nặng trung bình là 42,4 ± 5,7 kg; và chiều cao trung bình là 148,7 ± 4,2cm. BMI trung bình là 19,2 ± 2,4 kg/m2 và 30,8% bị thiếu NLTD (BMI < 18,5 kg/m2). Tình trạng dinh dưỡng không liên quan đáng kể đến trình độ học vấn và nghề nghiệp của đối tượng (p > 0,05) nhưng thu nhập gia đình hàng tháng cho thấy có mối liên quan thuận chiều với BMI (p < 0,05) [42]. Nghiên cứu của tác giả Asvini K.

Subasinghe về thiếu NLTD ở nông thôn Ấn Độ cho thấy tỷ lệ thiếu NLTD ở PNTSĐ là 41,5%. Phụ nữ là nông dân bị thiếu NLTD (52%) chiếm tỷ lệ cao hơn các nhóm phụ nữ khác (p < 0,05), phụ nữ thuộc các gia đình có thu nhập thấp bị thiếu NLTD (46%) cao hơn phụ nữ thuộc các gia đình có thu nhập cao hơn (34%; p < 0,01) [29]. Nghiên cứu của tác giả Nadia Fanou-Fogny về tình trạng dinh dưỡng và thiếu sắt ở phụ nữ thành thị Malian trong độ tuổi sinh đẻ cho thấy có 16,0% phụ nữ bị thiếu NLTD, và nhóm thiếu NLTD này có nguy cơ thiếu sắt cao hơn đáng kể so với nhóm có cân nặng bình thường (p < 0,05) [7]. Nghiên cứu của tác giả RK Gautam Jr về thiếu năng lượng mạn tính trên 446 phụ nữ từ 18-60 tuổi của hai khu sinh thái ở Madhya Pradesh và Uttarakhand, Ấn Độ cho thấy tỷ lệ thiếu NLTD là 42,1%.

Tỷ lệ thiếu NLTD cao nhất ở phụ nữ Bà la môn ở Uttarakhand (58,3%), tiếp theo là Ahirwar ở Madhya Pradesh (47,1%). Tỷ lệ thiếu NLTD thấp nhất ở phụ nữ Bà la môn ở Madhya Pradesh (24,0%) [43].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ