Tổng quan luận án

Bệnh sốt rét là một trong những vấn đề sức khỏe toàn cầu nghiêm trọng. Theo số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), năm 2019 toàn cầu ghi nhận khoảng 228 triệu ca mắc sốt rét, tập trung chủ yếu tại khu vực Châu Phi (chiếm 93%) và khu vực Đông Nam Á (chiếm 3,4%). Tại Việt Nam và khu vực tiểu vùng sông Mekong (GMS), việc triển khai trên diện rộng các biện pháp can thiệp phòng chống véc tơ như màn tẩm hóa chất tồn lưu lâu (LLINs) và phun hóa chất tồn lưu trong nhà (IRS) đã làm giảm đáng kể tỷ lệ mắc và tử vong do sốt rét. Tuy nhiên, tại các vùng rừng núi miền Trung - Tây Nguyên, bệnh sốt rét vẫn duy trì sự lan truyền ở quy mô nhỏ nhưng bền bỉ, được định nghĩa là sự lan truyền sốt rét dai dẳng (Residual Malaria Transmission - RMT). Hiện tượng này xuất hiện ngay cả khi tỷ lệ bao phủ của màn tẩm hóa chất và phun tồn lưu đạt mức cao, chủ yếu liên quan đến nhóm dân cư di biến động có tập quán đi rừng, ngủ rẫy, giao lưu qua lại khu vực biên giới và đặc điểm sinh thái - tập tính của véc tơ truyền bệnh.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: các biện pháp bảo vệ hiện hành (LLINs, IRS) chỉ phát huy hiệu lực khi người dân ở trong nhà hoặc đã đi ngủ trong màn. Trong khi đó, véc tơ truyền bệnh chính tại địa bàn rừng núi là Anopheles dirus có tập tính đốt mồi sớm vào đầu buổi tối (từ 18 đến 22 giờ) trước giờ đi ngủ của người dân và trú đậu tiêu máu ngoài nhà, khiến các can thiệp tồn lưu trong nhà bị giảm hiệu quả tiếp xúc. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ các yếu tố sinh học của véc tơ kết hợp với tập quán sinh hoạt của người dân tại điểm nóng sốt rét, đồng thời đánh giá thử nghiệm biện pháp xua diệt muỗi bổ sung bằng sản phẩm không phụ thuộc nguồn điện (nến chứa transfluthrin) là yêu cầu cấp thiết để hướng tới mục tiêu loại trừ sốt rét.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm 2 mục tiêu cụ thể:

  1. Mô tả các yếu tố lan truyền sốt rét dai dẳng liên quan đến muỗi truyền bệnh sốt rét tại xã Sơn Thái, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa.
  2. Đánh giá hiệu lực, tác dụng không mong muốn của nến có transfluthrin xua diệt muỗi tại phòng thí nghiệm và thực địa.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các loài muỗi Anopheles và các loài ký sinh trùng sốt rét (Plasmodium) nhiễm ở muỗi; các loài ký sinh trùng sốt rét nhiễm ở người; cộng đồng dân cư sinh sống và lao động đi rừng, ngủ rẫy tại xã Sơn Thái; sản phẩm nến xua diệt muỗi chứa hoạt chất transfluthrin ở các hàm lượng thử nghiệm.
  • Phạm vi không gian: Thực địa nghiên cứu được triển khai tại xã Sơn Thái, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa (gồm 2 thôn Bố Lang, Giang Biên và các khu vực nhà rẫy, rừng lân cận). Các thử nghiệm sinh học chuẩn được thực hiện tại phòng thí nghiệm của Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương (Hà Nội).
  • Phạm vi thời gian: Thu thập và hồi cứu số liệu dịch tễ giai đoạn 2015 - 2020; các đợt điều tra thực địa côn trùng học, hành vi người dân và thử nghiệm can thiệp được tiến hành trọng tâm trong năm 2016; toàn bộ quá trình nghiên cứu, phân tích và hoàn thiện diễn ra từ năm 2016 đến năm 2019.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu của luận án đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế về khu hệ muỗi Anopheles, tập tính sinh thái học véc tơ, cơ chế lan truyền bệnh và các biện pháp can thiệp phòng chống sốt rét:

  • Nghiên cứu phân loại và phân bố muỗi Anopheles: Lịch sử nghiên cứu tại Việt Nam được ghi nhận từ đầu thế kỷ 20 qua các công trình của Laveran (1901 - 1904), Bonet (1906), Mesnard (1934), Stanton (1926), Borel (1930), Farinaud (1938). Giai đoạn trước 1975 ở miền Nam có các công bố của Nguyễn Thượng Hiền (1968), Santana (1967), Parish (1969), Holway (1970). Sau năm 1975, các chương trình điều tra cơ bản toàn quốc của Nguyễn Đức Mạnh (1988, 2002), Trần Đức Hinh (1996, 2002), Hồ Đình Trung (2005) đã xác định khu hệ muỗi Anopheles Việt Nam có trên 60 loài. Năm 2008, Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương công bố bảng định loại gồm 63 loài, trong đó xác định 3 véc tơ chính (An. minimus, An. dirus, An. epiroticus) và các véc tơ phụ (An. maculatus, An. jeyporiensis, An. aconitus, An. vagus, An. subpictus, An. sundaicus). Sinka M.E. và cộng sự (2012) đã tổng hợp phân bố 465 loài Anopheles toàn cầu, xác định phức hợp loài Dirus (gồm 8 loài đồng hình) và phức hợp Minimus (gồm 3 loài đồng hình) giữ vai trò chủ đạo ở Đông Nam Á. Bùi Lê Duy và cộng sự (2019) lập bản đồ phân bố 411 điểm điều tra tại Việt Nam, ghi nhận An. dirus phân bố tại 47 điểm vùng rừng miền Trung - Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Côn Đảo.
  • Nghiên cứu tập tính và vai trò truyền bệnh: Các nghiên cứu của Aung và cộng sự (1999), Das và cộng sự (2007), Tainchum và cộng sự (2014) khẳng định An. dirus có ái tính hút máu người cao. Tại Việt Nam, Nguyễn Thọ Viễn và cộng sự (1997), Nguyễn Sơn Hải và cộng sự (2003), Thái Khắc Nam và cộng sự (2017) ghi nhận tỷ lệ An. dirus đốt người vượt trội so với đốt gia súc (tỷ lệ từ 6/1 đến 11/1). Về thời gian hoạt động, Sidavong và cộng sự (2004) tại Lào, Chatchai Tanancha và cộng sự (2012) tại Thái Lan, Nguyễn Sơn Hải và cộng sự (2003) tại Khánh Phú (Khánh Hòa) đều phát hiện An. dirus bắt đầu đốt mồi sớm từ 17 - 18 giờ và kéo dài suốt đêm. Về tập tính trú đậu, Vũ Thị Phan (1973), Vũ Việt Hưng và cộng sự (2016) chỉ ra An. dirus chủ yếu trú đậu và tiêu máu ngoài nhà trong các lùm cây, hốc đất dưới 2 mét. Về vai trò truyền bệnh, mổ tuyến nước bọt và kỹ thuật ELISA/PCR của Trương Văn Có và cộng sự (2001 - 2003), Maeno và cộng sự (2015, 2017) tại Khánh Hòa ghi nhận tỷ lệ nhiễm thoa trùng tự nhiên của An. dirus từ 2,06% đến 4,5%, mang các loài ký sinh trùng P. falciparum, P. vivax, P. knowlesi.
  • Nghiên cứu hóa chất diệt và các sản phẩm xua muỗi: Tình trạng muỗi kháng hóa chất pyrethroid và DDT được nghiên cứu bởi Ranson H. (2018), Chouaibou M.S. (2018), Nguyễn Thị Anh và cộng sự (2019). Các sản phẩm xua muỗi cá nhân được đánh giá gồm hoạt chất DEET (Kweka và cộng sự, 2012), hương xua chứa metofluthrin, d-allethrin (Ogoma và cộng sự, 2012; Avicor và cộng sự, 2017; Bùi Lê Duy, 2017). Nghiên cứu của hãng Bayer (2016) và Vũ Đức Chính và cộng sự (2016) chứng minh transfluthrin là hoạt chất pyrethroid bốc hơi nhanh, không bị phân hủy bởi enzyme Cytochrome P450, có tiềm năng kiểm soát các dòng muỗi kháng hóa chất và có hiệu lực xua diệt muỗi cao khi ứng dụng trong nến xua.

Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết: Luận án tập trung phân tích đồng bộ mối liên hệ giữa diễn biến dịch tễ, đặc tính sinh thái - tập tính đốt mồi theo giờ của véc tơ tại từng sinh cảnh (thôn, rẫy, rừng) với hành vi sinh hoạt ban đêm và di chuyển không gian của người dân (sử dụng thiết bị định vị vệ tinh GPS) tại xã Sơn Thái, huyện Khánh Vĩnh; đồng thời thực hiện quy trình thử nghiệm toàn diện từ buồng thí nghiệm chuẩn đến thực địa nhà rẫy nhằm xác định hiệu lực xua diệt, hiệu lực bảo vệ cá nhân và mức độ chấp nhận của cộng đồng đối với nến chứa hoạt chất transfluthrin.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng khung khái niệm và lý thuyết dịch tễ học côn trùng về sự lan truyền sốt rét dai dẳng (RMT), phân định không gian nghiên cứu thành 3 sinh cảnh đặc trưng:

  • Sinh cảnh rừng: Vùng đất có tán che phủ của cây rừng tự nhiên mọc lâu năm.
  • Sinh cảnh rẫy: Khu vực canh tác nông nghiệp tiếp giáp hoặc xen kẽ với rừng, có nhà rẫy tạm bợ để người dân lưu trú qua đêm.
  • Sinh cảnh thôn (khu dân cư): Khu vực có nhà ở kiên cố hoặc bán kiên cố, nơi cộng đồng cư trú tập trung thường xuyên.

Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa thiết kế dịch tễ học mô tả cắt ngang và nghiên cứu thực nghiệm sinh học:

  1. Thiết kế nghiên cứu và cỡ mẫu:
  • Cỡ mẫu điều tra dịch tễ cắt ngang: Tính theo công thức xác định tỷ lệ $n = Z^2_{(1-\alpha/2)} \frac{pq}{d^2}$ với mức ý nghĩa $\alpha = 0{,}05$ ($Z = 1{,}96$), tỷ lệ ước tính $p = 0{,}07$, khoảng sai số tuyệt đối $d = 0{,}02$. Cỡ mẫu tính toán là 625 người, cộng thêm 10% dự phòng thành 700 người (chọn từ 350 hộ gia đình, mỗi hộ chọn ngẫu nhiên 2 người).
  • Cỡ mẫu điều tra côn trùng học: Thu thập toàn bộ muỗi Anopheles bắt được qua 3 đợt điều tra thực địa vào tháng 7, tháng 10 và tháng 12 năm 2016 tại cả 3 sinh cảnh.
  • Cỡ mẫu quan sát cấu trúc nhà và hành vi sinh hoạt: Khảo sát 105 lượt hộ gia đình tại khu dân cư (35 hộ/đợt x 3 đợt) và 9 nhà rẫy có người thường xuyên lưu trú xung quanh các điểm thu thập muỗi.
  • Cỡ mẫu quan sát hoạt động ngoài nhà: Thực hiện trên 5 tuyến đường cố định trong khu dân cư và khu vực rẫy vào các khung giờ từ 18 giờ tối đến 05 giờ sáng hôm sau.
  • Theo dõi di biến động không gian: Tuyển chọn chủ đích 80 lượt người có tiền sử mắc sốt rét nhiều lần trong 5 năm gần nhất và có thói quen đi rừng, ngủ rẫy để đeo máy định vị toàn cầu (GPS).
  • Thử nghiệm sinh học nến xua diệt muỗi: Thử nghiệm trong phòng thí nghiệm trên muỗi nuôi chuẩn (An. dirus, An. minimus) ở 4 dải nồng độ transfluthrin (0,02%, 0,04%, 0,06%, 0,08%) trong buồng kính $70 \times 70 \times 70\text{ cm}$ và buồng thử Peet Grady. Thử nghiệm thực địa đánh giá hiệu lực bảo vệ cá nhân trong và ngoài nhà rẫy theo thiết kế ma trận đối chứng - thử nghiệm hoán vị (Latin square).
  1. Kỹ thuật và công cụ thu thập số liệu:
  • Thu thập mẫu muỗi: Phương pháp mồi người bắt muỗi trong nhà và ngoài nhà từ 18 giờ đến 06 giờ sáng hôm sau (riêng đợt tháng 12 mở rộng từ 16 giờ đến 06 giờ); phương pháp soi chuồng gia súc ban đêm từ 19 giờ đến 23 giờ; phương pháp soi tìm muỗi trú đậu ban ngày trong nhà.
  • Kỹ thuật xét nghiệm ký sinh trùng: Lấy lam máu nhuộm Giemsa soi kính hiển vi quang học và thu thập giọt máu trên giấy thấm để thực hiện kỹ thuật sinh học phân tử PCR xác định loài ký sinh trùng sốt rét (P. falciparum, P. vivax, P. knowlesi, P. malariae) trên người và trong tuyến nước bọt/cơ thể muỗi.
  • Kỹ thuật giám sát di chuyển: Máy định vị GPS ghi nhận tọa độ di chuyển theo thời gian thực; trích xuất dữ liệu qua phần mềm chuyên dụng @trip và tích hợp phân tích trên nền bản đồ số vệ tinh.
  • Kỹ thuật thử nghiệm sinh học: Xác định thời gian ngã gục 50% ($KT_{50}$), thời gian ngã gục 95% ($KT_{95}$), tỷ lệ ngã gục sau các khoảng thời gian đốt nến và tỷ lệ muỗi chết sau 24 giờ nuôi phục hồi theo hướng dẫn chuẩn của WHO.
  • Xử lý số liệu: Số liệu được nhập và phân tích bằng các phần mềm thống kê y học; tính toán các chỉ số dịch tễ, mật độ muỗi (con/người/đêm hoặc con/người/giờ), chỉ số lan truyền côn trùng (EIR), tỷ suất chênh (OR), khoảng tin cậy 95% ($95%\text{ CI}$) và kiểm định ý nghĩa thống kê.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan

Chương 1 tổng thuật bức tranh dịch tễ học sốt rét từ phạm vi toàn cầu, khu vực Đông Nam Á, Việt Nam đến địa bàn tỉnh Khánh Hòa và xã Sơn Thái (huyện Khánh Vĩnh). Tác giả tổng hợp số liệu 10 tỉnh có số lượng ký sinh trùng sốt rét trung bình năm cao nhất cả nước giai đoạn 2016 - 2020, khẳng định Khánh Hòa luôn nằm trong nhóm trọng điểm lưu hành.

TT Tỉnh 2016 2017 2018 2019 2020 Trung bình
1 Gia Lai 569 842 1101 1763 586 972
2 Bình Phước 1100 1352 1243 330 126 832
3 Đắk Lắk 209 525 768 648 123 455
4 Phú Yên 102 68 324 673 146 263
5 Đắk Nông 200 262 218 126 54 172
6 Khánh Hòa 422 144 125 95 30 163
7 Bình Thuận 111 100 102 307 74 139
8 Lâm Đồng 106 149 175 188 44 132
9 Ninh Thuận 272 164 33 53 6 106
10 Quảng Trị 46 245 93 72 6 92

Tại địa bàn nghiên cứu, diễn biến ca bệnh sốt rét giai đoạn 2015 - 2020 tại huyện Khánh Vĩnh và xã Sơn Thái được thống kê chi tiết theo từng tháng:

Địa bàn / Năm 2015 2016 2017 2018 2019 2020
Huyện Khánh Vĩnh (ca) 437 243 98 67 50 18
Xã Sơn Thái (ca) 52 66 32 19 20 6

Chương này cũng phân tích sâu về đặc điểm sinh học của 3 loài Anopheles (An. dirus, An. minimus, An. maculatus), thực trạng kháng hóa chất diệt côn trùng nhóm pyrethroid và tổng kết các biện pháp phòng chống véc tơ hiện nay (phun tồn lưu IRS, màn tẩm LLINs, kem xua DEET, hương xua, nến xua transfluthrin).

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết các bước triển khai phương pháp nghiên cứu tại thực địa xã Sơn Thái và phòng thí nghiệm. Tác giả trình bày các công thức toán học tính cỡ mẫu nghiên cứu dịch tễ cắt ngang, phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên và chủ đích, các biến số nghiên cứu, tiêu chuẩn đo lường các chỉ số dịch tễ và côn trùng học. Quy trình kỹ thuật xét nghiệm PCR phát hiện ký sinh trùng sốt rét, kỹ thuật bẫy muỗi mồi người theo giờ, kỹ thuật vận hành thiết bị định vị GPS và phần mềm xử lý dữ liệu @trip được chuẩn hóa.

Chương này cũng mô tả thiết kế ma trận thử nghiệm nến xua diệt muỗi tại thực địa nhằm triệt tiêu sai số can thiệp, quy trình thử nghiệm sinh học ngã gục và diệt chết trong buồng Peet Grady và buồng kính $70 \times 70 \times 70\text{ cm}$, các biện pháp kiểm soát sai số và quy chuẩn đạo đức nghiên cứu y sinh học.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 3 trình bày toàn bộ kết quả định lượng của đề tài qua hệ thống bảng và biểu đồ số liệu:

  1. Thực trạng dịch tễ và các yếu tố lan truyền sốt rét dai dẳng tại xã Sơn Thái:
  • Dân số xã Sơn Thái năm 2016 là 1.100 người (phân bố tại 2 thôn Bố Lang và Giang Biên). Kết quả điều tra cắt ngang tháng 7/2016 trên 700 người phát hiện các ca nhiễm ký sinh trùng sốt rét, trong đó P. falciparum và P. vivax là hai loài chiếm ưu thế.
  • Khảo sát 350 chủ hộ cho thấy tỷ lệ sở hữu màn tại nhà ở khu dân cư đạt mức cao, nhưng tỷ lệ mang theo và sử dụng màn khi đi rừng, ngủ rẫy bị sụt giảm nghiêm trọng.
  • Thành phần loài và mật độ muỗi: Tại 3 sinh cảnh điều tra năm 2016, An. dirus phân bố tập trung ở sinh cảnh rẫy và rừng với mật độ cao, hoàn toàn vắng mặt tại sinh cảnh thôn; An. maculatus xuất hiện ở cả 3 sinh cảnh và chiếm ưu thế trong các mẫu soi chuồng gia súc; An. minimus có mật độ thu thập rất thấp.
  • Tập tính đốt mồi và chỉ số lan truyền: An. dirus có mật độ đốt người ngoài nhà rẫy cao hơn trong nhà rẫy. Đỉnh hoạt động đốt mồi ban đêm của An. dirus tập trung từ 19 giờ đến 23 giờ. Xét nghiệm PCR phát hiện ký sinh trùng sốt rét trong cơ thể An. dirus, xác định chỉ số lan truyền côn trùng (EIR) của loài này ở sinh cảnh rừng và rẫy cao hơn hẳn so với khu dân cư.
  • Cấu trúc nhà và hành vi ban đêm: Nhà ở khu dân cư có kết cấu tường ván hoặc xây kiên cố, người dân bắt đầu vào màn ngủ từ 21 giờ. Ngược lại, nhà rẫy chủ yếu là lán tạm vách hở, làm bằng tre nứa hoặc bạt che chắn sơ sài. Người dân tại rẫy có xu hướng ngồi sinh hoạt, trò chuyện ngoài trời hoặc trong nhà vách hở từ 18 giờ đến 22 giờ mà không có phương tiện bảo vệ cá nhân.
  • Theo dõi di biến động GPS: Dữ liệu từ 80 lượt người đeo máy GPS ghi nhận tần suất và số đêm ngủ lại tại rẫy và rừng chiếm tỷ lệ lớn; các cung đường di chuyển nằm sâu trong các vùng rừng có sự hiện diện mật độ cao của véc tơ An. dirus.
  1. Hiệu lực xua diệt muỗi của nến chứa transfluthrin:
  • Thử nghiệm độ nhạy cảm: Quần thể muỗi thử nghiệm nhạy cảm với các hóa chất diệt nhóm pyrethroid (tỷ lệ chết 98 - 100%).
  • Hiệu lực trong phòng thí nghiệm: Trong buồng thử kính $70 \times 70 \times 70\text{ cm}$, nến chứa transfluthrin ở cả 4 nồng độ (0,02%, 0,04%, 0,06%, 0,08%) đều gây ngã gục nhanh đối với An. dirus và An. minimus, rút ngắn rõ rệt các chỉ số $KT_{50}$ và $KT_{95}$; hiệu lực gây chết sau 24 giờ đạt mức cao nhất ở các nồng độ từ 0,04% trở lên. Trong buồng Peet Grady, nến transfluthrin nồng độ 0,04% duy trì hiệu lực gây ngã gục và diệt muỗi An. dirus ổn định theo thời gian đốt.
  • Hiệu lực bảo vệ tại thực địa nhà rẫy: Nến xua diệt muỗi transfluthrin 0,04% làm giảm đáng kể mật độ muỗi An. dirus vào đốt người ở cả vị trí trong nhà rẫy và ngoài nhà rẫy so với lô đối chứng không sử dụng nến, mang lại hiệu lực bảo vệ cá nhân cao.
  • Tính an toàn và chấp nhận của cộng đồng: Quá trình thử nghiệm không ghi nhận các tác dụng không mong muốn nghiêm trọng trên người tham gia; đa số người dân tại khu vực nhà rẫy xã Sơn Thái bày tỏ sự ưa thích và sẵn sàng sử dụng nến xua diệt muỗi trong sinh hoạt lao động hàng ngày.

Chương 4: Bàn luận

Chương 4 tập trung phân tích, lý giải cơ chế của các kết quả nghiên cứu:

  • Bàn luận về các yếu tố duy trì lan truyền sốt rét dai dẳng: Tác giả luận giải sự trùng khớp giữa khoảng thời gian hoạt động đỉnh của An. dirus (18 - 22 giờ) với khoảng thời gian người dân chưa đi ngủ và sinh hoạt ngoài trời tại rẫy. Cấu trúc lán rẫy tạm bợ, vách hở khiến biện pháp phun tồn lưu IRS mất tác dụng bám dính hóa chất, trong khi màn ngủ LLINs không thể phát huy hiệu quả khi người dân còn thức. Thói quen di chuyển sâu vào rừng rẫy được chứng minh qua dữ liệu GPS là yếu tố then chốt duy trì sự tiếp xúc giữa người và véc tơ.
  • Bàn luận về hiệu lực sinh học và tính ứng dụng của nến transfluthrin: Cơ chế bốc hơi tự nhiên dưới tác động nhiệt của transfluthrin giúp hóa chất khuếch tán đều trong không gian bán hở của nhà rẫy, tạo ra vùng bảo vệ xua và diệt muỗi mà không cần nguồn điện. Tác giả so sánh hiệu lực của nến với các sản phẩm kem xua và hương xua truyền thống, phân tích tính an toàn của hóa chất đối với động vật máu nóng và tính khả thi trong việc đưa nến xua vào chiến lược can thiệp bổ sung tại các điểm nóng sốt rét.

Kết quả và những đóng góp mới

Các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn của luận án gồm:

  1. Đóng góp về lý luận và khoa học:
  • Luận án đã làm sáng tỏ bản chất và cơ chế của hiện tượng lan truyền sốt rét dai dẳng (RMT) tại vùng miền núi Nam Trung Bộ thông qua việc tích hợp đa chiều giữa các chỉ số côn trùng học (An. dirus đốt mồi sớm, trú đậu ngoài nhà, mật độ cao ở sinh cảnh rẫy/rừng), chỉ số dịch tễ phân tử (EIR, tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng qua PCR) và hành vi con người (cấu trúc nhà rẫy hở, sinh hoạt tối ngoài nhà, di biến động không gian ghi nhận qua GPS).
  • Cung cấp dẫn liệu khoa học chuẩn xác về sinh học véc tơ và bằng chứng thực nghiệm về tác động xua diệt của hoạt chất transfluthrin dạng nến bốc hơi đối với hai véc tơ sốt rét chính ở Việt Nam là An. dirus và An. minimus.
  1. Đóng góp về thực tiễn:
  • Đã xác định nồng độ thích hợp của nến transfluthrin (0,04%) đạt hiệu lực gây ngã gục, diệt muỗi cao trong phòng thí nghiệm và bảo vệ cá nhân hiệu quả tại thực địa nhà rẫy.
  • Chứng minh tính khả thi, an toàn và mức độ chấp nhận cao của người dân đối với nến xua diệt muỗi, cung cấp một công cụ can thiệp bổ sung phù hợp cho các khu vực không có điện lưới.
  1. Kiến nghị và giải pháp đề xuất từ luận án:
  • Kiến nghị Chương trình Quốc gia phòng chống và loại trừ sốt rét xem xét bổ sung sản phẩm nến xua diệt muỗi chứa transfluthrin vào danh mục các biện pháp can thiệp phòng chống véc tơ cho nhóm dân nguy cơ cao đi rừng, ngủ rẫy tại các điểm nóng sốt rét dai dẳng.
  • Đẩy mạnh công tác truyền thông giáo dục sức khỏe, hướng dẫn người dân thực hiện các biện pháp bảo vệ cá nhân (sử dụng nến xua, mặc quần áo dài tay) vào khung giờ muỗi hoạt động mạnh từ 18 giờ đến 22 giờ trước khi vào màn ngủ.
  • Duy trì giám sát thường xuyên sự phân bố, tập tính và mức độ nhạy cảm với hóa chất của véc tơ An. dirus tại các vùng sốt rét lưu hành nặng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Phạm vi thu thập số liệu thực địa chuyên sâu về côn trùng và hành vi dân cư chủ yếu tập trung trong năm 2016 tại một địa bàn đại diện là xã Sơn Thái, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa.
  • Thử nghiệm thực địa của nến transfluthrin tập trung đánh giá các chỉ số côn trùng học (mật độ muỗi đốt, hiệu lực bảo vệ cá nhân tức thời) và phản ứng người dùng, chưa đánh giá tác động dịch tễ học dài hạn về mức độ suy giảm ca mắc sốt rét trên quy mô can thiệp toàn bộ cộng đồng.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng thử nghiệm can thiệp cộng đồng có đối chứng trên quy mô lớn hơn ở nhiều vùng sinh thái sốt rét khác nhau tại khu vực miền Trung - Tây Nguyên để đánh giá hiệu quả làm giảm tỷ lệ mắc và cắt đứt lan truyền sốt rét.
  • Nghiên cứu độ bền hóa học, thời gian cháy tối ưu và cải tiến thiết kế cơ học của nến xua nhằm duy trì nồng độ hoạt chất ổn định trong điều kiện gió lùa mạnh tại các lán rẫy và bìa rừng.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng và tham khảo cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu chuyên ngành Côn trùng học, Ký sinh trùng học, Dịch tễ học và Y học dự phòng: Có thể tham khảo phương pháp luận kết hợp giữa điều tra côn trùng học truyền thống, kỹ thuật sinh học phân tử (PCR) và công nghệ định vị vệ tinh (GPS) trong nghiên cứu dịch tễ không gian.
  • Cán bộ quản lý và hoạch định chính sách thuộc Chương trình Quốc gia phòng chống và loại trừ sốt rét: Cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng các gói can thiệp đặc thù cho nhóm dân di biến động, người đi rừng ngủ rẫy nhằm giải quyết triệt để sự lan truyền sốt rét dai dẳng.
  • Giảng viên các trường đại học y, dược và sinh học: Sử dụng làm tài liệu giảng dạy về sinh thái học véc tơ truyền bệnh, cơ chế tác động của hóa chất diệt côn trùng nhóm pyrethroid và các giải pháp kiểm soát côn trùng y học.

Câu hỏi thường gặp

1. Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến sự lan truyền sốt rét dai dẳng (RMT) tại xã Sơn Thái, huyện Khánh Vĩnh là gì? Sự lan truyền sốt rét dai dẳng tại đây hình thành do sự kết hợp giữa đặc tính sinh học của véc tơ chính Anopheles dirus (hoạt động đốt mồi sớm từ 18 đến 22 giờ, tập tính trú đậu ngoài nhà) và hành vi của người dân (đi rừng, ngủ rẫy, sinh hoạt buổi tối ngoài trời hoặc trong lán rẫy tạm bợ có vách hở trước giờ vào màn). Sự tiếp xúc giữa người và muỗi diễn ra trong khoảng thời gian và không gian mà các biện pháp màn tẩm LLINs và phun tồn lưu IRS không thể bao phủ.

2. Muỗi Anopheles dirus có đặc điểm phân bố và tập tính đốt mồi như thế nào theo kết quả điều tra thực địa? An. dirus phân bố tập trung với mật độ cao tại sinh cảnh rẫy và sinh cảnh rừng, hoàn toàn không bắt gặp trong khu dân cư thôn bản. Loài muỗi này ưa đốt máu người, hoạt động đốt mồi kéo dài suốt đêm nhưng có đỉnh cao điểm tập trung từ 19 giờ đến 23 giờ, với mật độ đốt mồi ngoài nhà rẫy cao hơn trong nhà rẫy.

3. Công nghệ định vị GPS đã cung cấp dữ liệu gì chứng minh nguy cơ lây truyền sốt rét ở người đi rừng ngủ rẫy? Theo dõi GPS trên 80 lượt người có nguy cơ cao đã ghi nhận chính xác các cung đường di chuyển và tọa độ các điểm ngủ lại qua đêm. Kết quả cho thấy tỷ lệ số đêm ngủ lại tại rẫy và rừng chiếm tỷ trọng lớn, vị trí các lán ngủ nằm sâu trong sinh cảnh rừng tự nhiên – nơi có mật độ An. dirus cao và có sự hiện diện của ký sinh trùng sốt rét được xác định qua xét nghiệm PCR.

4. Nồng độ transfluthrin nào trong nến xua diệt muỗi cho hiệu lực tối ưu trong các thử nghiệm? Qua các thử nghiệm trong buồng kính $70 \times 70 \times 70\text{ cm}$ và buồng Peet Grady, nến chứa transfluthrin ở nồng độ 0,04% cho hiệu quả tối ưu với thời gian gây ngã gục ($KT_{50}$, $KT_{95}$) nhanh, tỷ lệ muỗi chết sau 24 giờ đạt mức cao đối với An. dirus và An. minimus, đồng thời duy trì hiệu lực bảo vệ cá nhân tốt tại thực địa mà không gây tác dụng không mong muốn đáng kể.

5. Người dân tại khu vực nghiên cứu có phản ứng như thế nào đối với sản phẩm nến xua diệt muỗi? Khảo sát sự chấp nhận của cộng đồng tại khu vực nhà rẫy xã Sơn Thái cho thấy đại đa số người dân ưa thích và đánh giá cao tính tiện dụng của nến xua muỗi. Sản phẩm dễ sử dụng trong điều kiện không có điện, không gây khó chịu nghiêm trọng về mùi hay kích ứng đường hô hấp và mang lại cảm giác an toàn khi làm việc ban đêm tại rẫy.

Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Đào Minh Trang đã xác định rõ các yếu tố sinh thái, tập tính của véc tơ Anopheles dirus và hành vi đi rừng ngủ rẫy của người dân là nguyên nhân trực tiếp duy trì sự lan truyền sốt rét dai dẳng tại huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa. Công trình đã chứng minh nến chứa hoạt chất transfluthrin 0,04% có hiệu lực gây ngã gục, diệt muỗi cao trong phòng thí nghiệm và bảo vệ cá nhân hiệu quả trước véc tơ sốt rét tại nhà rẫy thực địa. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học thực tiễn quan trọng, đóng góp giải pháp can thiệp bổ sung khả thi cho Chương trình Quốc gia phòng chống và tiến tới loại trừ sốt rét tại Việt Nam.