Nghiên Cứu Hiệu Quả Của Nến Xua Muỗi Transfluthrin Trong Phòng Chống Sốt Rét Tại Khánh Hòa

Tài liệu nghiên cứu về sự lan truyền sốt rét dai dẳng do muỗi truyền bệnh, phân tích nguyên nhân và biện pháp phòng ngừa hiệu quả.

Trường đại học

Viện Sốt Rét - Ký Sinh Trùng - Côn Trùng Trung Ương

Chuyên ngành

Côn Trùng Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2022

160
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Tình hình sốt rét trên thế giới và Việt Nam

1.2. Nghiên cứu về phân bố muỗi Anopheles trên thế giới và Việt Nam

1.2.1. Nghiên cứu về phân bố muỗi Anopheles trên thế giới

1.2.2. Nghiên cứu về phân bố muỗi Anopheles ở Việt Nam

1.2.3. Nghiên cứu về tập tính của muỗi Anopheles

1.2.3.1. Tập tính ưu thích vật chủ
1.2.3.2. Tập tính đốt mồi
1.2.3.3. Tập tính trú đậu

1.3. Vai trò truyền sốt rét của muỗi Anopheles

1.3.1. Vai trò truyền bệnh sốt rét của muỗi Anopheles

1.3.2. Vai trò truyền bệnh sốt rét của muỗi Anopheles maculatus

1.4. Tình hình kháng hóa chất diệt côn trùng của véc tơ sốt rét

1.4.1. Sự kháng hóa chất diệt côn trùng

1.4.2. Nghiên cứu mức độ nhạy kháng với hóa chất diệt côn trùng của véc tơ sốt rét trên thế giới và Việt Nam

1.4.3. Mức độ nhạy cảm của muỗi Anopheles tại Sơn Thái, Khánh Vĩnh, Khánh Hòa

1.5. Nghiên cứu các biện pháp phòng chống véc tơ sốt rét

1.5.1. Biện pháp phun tồn lưu hóa chất trong nhà

1.5.2. Biện pháp ngủ màn tẩm hóa chất

1.5.3. Biện pháp bảo vệ cá nhân bằng sử dụng sản phẩm xua côn trùng

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu 1: Mô tả các yếu tố lan truyền sốt rét dai dẳng liên quan đến muỗi truyền sốt rét tại xã Sơn Thái, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa

2.2. Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.4. Nội dung nghiên cứu

2.5. Các biến số trong nghiên cứu

2.6. Các chỉ số đánh giá

2.7. Các kỹ thuật sử dụng trong nghiên cứu

2.8. Mục tiêu 2: Đánh giá hiệu lực, tác dụng không mong muốn của nến có transfluthrin xua diệt muỗi tại phòng thí nghiệm và thực địa

2.9. Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.10. Phương pháp nghiên cứu

2.11. Nội dung nghiên cứu

2.12. Các biến số trong nghiên cứu

2.13. Các chỉ số đánh giá

2.14. Các kỹ thuật sử dụng trong nghiên cứu

2.15. Sai số và cách khắc phục sai số

2.16. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

2.17. Đạo đức nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Tình hình dịch tễ sốt rét và các yếu tố lan truyền sốt rét dai dẳng liên quan đến muỗi truyền sốt rét tại xã Sơn Thái, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa

3.2. Hiệu lực của nến xua diệt muỗi tại phòng thí nghiệm và hiệu lực bảo vệ của nến trong phòng chống véc tơ sốt rét cho đối tượng ngủ rẫy tại địa điểm nghiên cứu

3.2.1. Hiệu lực của nến xua diệt muỗi tại trong phòng thí nghiệm

3.2.2. Hiệu lực bảo vệ cá nhân phòng chống muỗi của nến xua muỗi chứa transfluthrin tại thực địa

3.3. Tác dụng không mong muốn và sự chấp nhận của cộng đồng với nến xua muỗi

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Tình hình dịch tễ sốt rét và các yếu tố lan truyền sốt rét dai dẳng liên quan đến muỗi truyền sốt rét tại xã Sơn Thái, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa

4.1.1. Tình hình dịch tễ sốt rét tại xã Sơn Thái

4.1.2. Các yếu tố lan truyền sốt rét dai dẳng tại điểm nghiên cứu liên quan đến muỗi truyền sốt rét tại xã Sơn Thái, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa

4.2. Hiệu lực của nến xua diệt muỗi trong phòng thí nghiệm và hiệu lực bảo vệ cá nhân của nến trong phòng chống véc tơ sốt rét cho đối tượng ngủ rẫy tại điểm nghiên cứu

4.2.1. Hiệu lực diệt muỗi của nến chứa transfluthrin trong phòng thí nghiệm

4.2.2. Hiệu lực bảo vệ cá nhân phòng chống muỗi của nến xua muỗi chứa transfluthrin tại thực địa

4.2.3. Tính an toàn và sự chấp nhận của cộng đồng với nến xua muỗi

KẾT LUẬN

KIẾN NGHỊ

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nghiên Cứu Hiệu Quả Của Nến Xua Muỗi Transfluthrin

Nghiên cứu về hiệu quả của nến xua muỗi chứa Transfluthrin trong việc phòng chống sốt rét tại Khánh Hòa đã thu hút sự quan tâm lớn. Bệnh sốt rét vẫn là một trong những vấn đề sức khỏe nghiêm trọng tại Việt Nam, đặc biệt ở các khu vực miền núi và vùng sâu. Việc sử dụng nến xua muỗi là một trong những biện pháp phòng ngừa hiệu quả, giúp giảm thiểu sự tiếp xúc giữa người và muỗi truyền bệnh. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp thông tin về hiệu quả của sản phẩm mà còn góp phần vào chiến lược phòng chống sốt rét tại địa phương.

1.1. Tình Hình Sốt Rét Tại Khánh Hòa

Khánh Hòa là một trong những tỉnh có tỷ lệ mắc sốt rét cao. Theo báo cáo, số ca mắc sốt rét tại đây vẫn duy trì ở mức đáng lo ngại. Các yếu tố như khí hậu, môi trường sống và thói quen sinh hoạt của người dân đã tạo điều kiện thuận lợi cho muỗi phát triển. Việc nghiên cứu hiệu quả của nến xua muỗi chứa Transfluthrin là cần thiết để tìm ra giải pháp hiệu quả hơn trong công tác phòng chống.

1.2. Vai Trò Của Nến Xua Muỗi Trong Phòng Chống Sốt Rét

Nến xua muỗi chứa Transfluthrin được biết đến với khả năng xua đuổi và tiêu diệt muỗi hiệu quả. Sản phẩm này không chỉ giúp bảo vệ người dân khỏi muỗi mà còn giảm thiểu nguy cơ mắc sốt rét. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc sử dụng nến xua muỗi có thể làm giảm đáng kể mật độ muỗi trong khu vực, từ đó góp phần vào việc kiểm soát dịch bệnh.

II. Vấn Đề Và Thách Thức Trong Phòng Chống Sốt Rét

Mặc dù có nhiều biện pháp phòng chống sốt rét, nhưng vẫn còn nhiều thách thức trong việc kiểm soát dịch bệnh. Sự kháng thuốc của muỗi đối với các hóa chất diệt côn trùng là một trong những vấn đề lớn. Ngoài ra, thói quen sinh hoạt của người dân, như việc ngủ ngoài trời hoặc không sử dụng màn, cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh. Việc nghiên cứu hiệu quả của nến xua muỗi là một trong những giải pháp tiềm năng để giải quyết vấn đề này.

2.1. Kháng Thuốc Của Muỗi

Kháng thuốc của muỗi đối với các hóa chất diệt côn trùng đã trở thành một thách thức lớn trong công tác phòng chống sốt rét. Nghiên cứu cho thấy rằng muỗi Anopheles đã phát triển khả năng kháng với nhiều loại hóa chất, làm giảm hiệu quả của các biện pháp phòng ngừa truyền thống.

2.2. Thói Quen Sinh Hoạt Của Người Dân

Thói quen sinh hoạt của người dân, như việc ngủ ngoài trời hoặc không sử dụng màn, đã làm tăng nguy cơ mắc sốt rét. Việc nâng cao nhận thức và thay đổi thói quen này là rất quan trọng để giảm thiểu sự lây lan của bệnh.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Hiệu Quả Của Nến Xua Muỗi

Nghiên cứu được thực hiện thông qua các phương pháp thực nghiệm và khảo sát thực địa. Các mẫu nến chứa Transfluthrin được thử nghiệm trong điều kiện phòng thí nghiệm và thực địa để đánh giá hiệu quả xua đuổi muỗi. Kết quả từ nghiên cứu sẽ cung cấp thông tin quan trọng về khả năng bảo vệ của sản phẩm này.

3.1. Thiết Kế Nghiên Cứu

Nghiên cứu được thiết kế với các nhóm thử nghiệm khác nhau để so sánh hiệu quả của nến xua muỗi chứa Transfluthrin. Các chỉ số đánh giá như tỷ lệ muỗi chết và thời gian xua đuổi được ghi nhận để phân tích.

3.2. Phân Tích Dữ Liệu

Dữ liệu thu thập từ các thử nghiệm sẽ được phân tích bằng các phương pháp thống kê để xác định hiệu quả của nến xua muỗi. Kết quả sẽ được so sánh với các biện pháp phòng chống khác để đưa ra khuyến nghị phù hợp.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Về Hiệu Quả Của Nến Xua Muỗi

Kết quả nghiên cứu cho thấy nến xua muỗi chứa Transfluthrin có hiệu quả cao trong việc xua đuổi và tiêu diệt muỗi. Tỷ lệ muỗi chết sau khi sử dụng nến đạt mức cao, cho thấy sản phẩm này có thể là một giải pháp hiệu quả trong công tác phòng chống sốt rét tại Khánh Hòa. Ngoài ra, sự chấp nhận của cộng đồng đối với sản phẩm cũng được ghi nhận là tích cực.

4.1. Hiệu Quả Xua Đuổi Muỗi

Nghiên cứu cho thấy nến xua muỗi chứa Transfluthrin có khả năng xua đuổi muỗi hiệu quả trong thời gian dài. Tỷ lệ muỗi chết sau khi sử dụng nến đạt trên 90%, cho thấy sản phẩm này có thể giảm thiểu đáng kể nguy cơ mắc sốt rét.

4.2. Sự Chấp Nhận Của Cộng Đồng

Sự chấp nhận của cộng đồng đối với nến xua muỗi chứa Transfluthrin là rất cao. Người dân đánh giá cao tính hiệu quả và tiện lợi của sản phẩm, từ đó khuyến khích việc sử dụng rộng rãi hơn trong cộng đồng.

V. Kết Luận Và Đề Xuất Tương Lai Về Nến Xua Muỗi

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng nến xua muỗi chứa Transfluthrin là một giải pháp hiệu quả trong việc phòng chống sốt rét tại Khánh Hòa. Tuy nhiên, cần tiếp tục nghiên cứu để cải thiện hiệu quả và an toàn của sản phẩm. Việc kết hợp nến xua muỗi với các biện pháp phòng chống khác sẽ tạo ra một chiến lược toàn diện hơn trong công tác phòng chống sốt rét.

5.1. Đề Xuất Nghiên Cứu Thêm

Cần thực hiện thêm các nghiên cứu để đánh giá hiệu quả lâu dài của nến xua muỗi chứa Transfluthrin trong các điều kiện khác nhau. Việc này sẽ giúp xác định tính bền vững của sản phẩm trong công tác phòng chống sốt rét.

5.2. Kết Hợp Với Các Biện Pháp Khác

Kết hợp nến xua muỗi với các biện pháp phòng chống khác như màn tẩm hóa chất và phun tồn lưu sẽ tạo ra một chiến lược phòng chống sốt rét hiệu quả hơn. Điều này sẽ giúp giảm thiểu sự lây lan của bệnh và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

26/06/2025
Tài liệu nghiên cứu lan truyền sốt rét dai dẳng liên quan đến muỗi truyền bệnh sốt rét

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh sốt rét hiện nay vẫn là một trong những vấn đề sức khỏe toàn cầu, theo thông báo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 2018), trên toàn thế giới có 228 triệu người mắc sốt rét, chủ yếu tại các nước Châu Phi (chiếm 93%), ở Đông Nam Á chiếm 3,4%. Số người chết do sốt rét khoảng 438.000 người, trong đó chủ yếu ở châu Phi (chiếm 90%), tiếp đến là khu vực Đông Nam Á (chiếm 7%) và khu vực Trung Đông (chiếm 2%) [1]. Việc phòng chống véc tơ sốt rét (VTSR) trong tiểu vùng sông Mekong (Greater Mekong Subregion (GMS)) gần như dựa hoàn toàn vào việc cung cấp màn tồn lưu lâu (LLINs), giải pháp này có hiệu quả đáng kể đến sự lan truyền sốt rét. Độ bao phủ hầu khắp của LLINs và các biện pháp hiệu quả khác trong việc phòng chống bệnh sốt rét dẫn đến việc tại nhiều quốc gia trong khu vực GMS đang lên kế hoạch cho chiến lược loại trừ bệnh sốt rét.

Tuy nhiên, mặc dù các ca bệnh giảm rất đáng kể nhưng vẫn còn tồn tại một số lượng nhỏ các ca sốt rét, ngay cả khi sự bao phủ rộng khắp của màn tẩm hóa chất và các biện pháp can thiệp khác được triển khai ở quy mô lớn (ví dụ như phun tồn lưu trong nhà IRS); Sự lan truyền này được gọi là sự lan truyền sốt rét dai dẳng (residual malaria transmission (RMT)). Sự lan truyền sốt rét dai dẳng có thể là hệ quả từ tập tính của véc tơ và/hoặc tập quán, thói quen sinh hoạt của con người, những hành vi này làm tăng sự tiếp xúc giữa véc tơ và con người và làm giảm hiệu quả của các phương pháp phòng chống véc tơ (PCVT) [2],[3],[4]. Tại Việt Nam, trong những năm qua công tác phòng chống (PCSR) đã đạt được những thành tựu đáng kể bằng việc kết hợp phát hiện sớm, điều trị đúng và đủ liều, cùng với áp dụng biện pháp phòng chống véc tơ thích hợp. Hiện nay, bệnh sốt rét chủ yếu tập trung ở nhóm dân di cư tự do, đi rừng, ngủ rẫy, qua lại biên giới.

Tại những khu vực này véc tơ chính truyền bệnh được xác định là muỗi An.dirus và An. document, khoa luan12 of 98. tai lieu, luan van13 of 98. 2 Để đạt được mục tiêu của Chiến lược Quốc gia phòng chống và loại trừ bệnh sốt rét giai đoạn 2011 đến 2030 tại Việt Nam, việc phòng chống lây truyền sốt rét cho nhóm đối tượng nguy cơ cao là rất quan trọng.

Một số nghiên cứu sử dụng màn tẩm hóa chất tồn lưu lâu, võng có bọc võng tẩm hóa chất tồn lưu lâu cho thấy hiệu quả phòng chống VTSR cho người đi rừng, ngủ rẫy [5],[6],[7]. Tuy nhiên, hoạt động đốt mồi của muỗi An.dirus trong rừng thường xảy ra sớm, nghiên cứu tại Khánh Hòa (2003) cho thấy muỗi An. dirus hoạt động đốt mồi suốt đêm, bắt đầu từ 18-19 giờ, tỷ lệ muỗi An. dirus thu thập trong rừng từ 18 đến 22 giờ chiếm 50% số muỗi bắt được trong đêm.

Chỉ số lan truyền côn trùng từ 18-24 giờ ở trong rừng là 27,21 và nhà rẫy là 37,99; cao hơn nửa sau đêm từ 0-6 giờ, ở trong rừng là 5,69 và nhà rẫy là 16,54 [8]. Do đó, màn tẩm hóa chất hoặc võng có bọc võng tẩm hóa chất tồn lưu lâu chỉ bảo vệ được người dân phòng chống muỗi khi họ sử dụng màn hoặc võng, ít có khả năng bảo vệ người dân trong thời gian họ vẫn còn hoạt động trong rừng, rẫy vào buổi chiều hoặc tối. Vì vậy, tại một số nơi bệnh sốt rét vẫn còn tồn tại dai dẳng. Xác định rõ nguyên nhân của lan truyền sốt rét dai dẳng để từ đó có biện pháp phòng chống véc tơ hiệu quả trong thời gian người dân vẫn hoạt động trong rừng, rẫy là rất cần thiết để góp phần làm giảm gánh nặng bệnh sốt rét.

Do đó, tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu lan truyền sốt rét dai dẳng liên quan đến muỗi truyền bệnh sốt rét và hiệu lực của nến có transfluthrin xua diệt muỗi ở huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa (2016 - 2019)”, với các mục tiêu: 1. Mô tả các yếu tố lan truyền sốt rét dai dẳng liên quan đến muỗi truyền bệnh sốt rét tại xã Sơn Thái, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa. Đánh giá hiệu lực, tác dụng không mong muốn của nến có transfluthrin xua diệt muỗi tại phòng thí nghiệm và thực địa. document, khoa luan13 of 98.

tai lieu, luan van14 of 98. Tình hình sốt rét trên thế giới và Việt Nam 1. Tình hình sốt rét trên thế giới Bệnh sốt rét là một trong những bệnh nguy hiểm hàng đầu gây tử vong cho loài người, bệnh do một số loài ký sinh trùng Plasmodium gây ra. Hàng năm, trên thế giới có khoảng 350-500 triệu ca sốt rét và ít nhất một triệu người trong số đó tử vong.

Hầu hết các trường hợp mắc sốt rét và tử vong là trẻ em và phụ nữ có thai, trong đó 90% thuộc khu vực cận Sahara ở châu Phi, tại các khu vực xa xôi hẻo lánh với sự kém phát triển về các dịch vụ y tế. Tuy vậy, các khu vực khác như châu Á, châu Mỹ La tinh, khu vực Trung Đông vẫn đang bị ảnh hưởng [9]. Kể từ khi thành lập vào năm 1948, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã giành sự ưu tiên cao nhất cho vấn đề sốt rét. Chương trình thanh toán sốt rét toàn cầu (Global Malaria Eradication Programme) với mục đích loại trừ ký sinh trùng sốt rét đã được WHO ban bố vào năm 1955 ở hầu hết các nước sốt rét lưu hành.

Chương trình này được thực hiện dựa trên việc sử dụng rộng rãi hoá chất diệt côn trùng dichlor-diphenyl-trichlorethal (DDT) để phun tồn lưu, và sử dụng các loại thuốc điều trị sốt rét trong đó chủ yếu là chloroquine. Tuy nhiên, sau 36 năm tiến hành thanh toán sốt rét (từ 1955 – 1991) trên toàn thế giới vẫn còn trên 2 tỷ người sống trong vùng sốt rét chiếm gần 50% dân số thế giới ở 100 nước, tử vong do sốt rét hàng năm từ 1 đến 2 triệu người, số mắc sốt rét mới hàng năm là 110 triệu người) [10]. Trước tình hình này, hội nghị các Bộ trưởng bàn về vấn đề sốt rét đã được tổ chức tại Amsterdam năm 1992 đã quyết định thay đổi chiến lược từ “Thanh toán sốt rét” trở lại “Phòng chống sốt rét”. Chiến lược phòng chống sốt rét (PCSR) toàn cầu (The Global Malaria Control Strategy) đã được thông qua với mục tiêu hạn chế tử vong, giảm tỷ lệ mắc sốt rét và giảm thiểu những thiệt hại về kinh tế, xã hội do sốt rét document, khoa luan14 of 98.

tai lieu, luan van15 of 98. 4 gây ra thông qua việc cải thiện nhanh chóng và củng cố năng lực của các địa phương trong vấn đề PCSR. Năm 2007, WHO đã khuyến cáo một chiến lược mới quy mô toàn cầu đó là loại trừ sốt rét. Chiến lược mới này với mục đích cắt đứt lan truyền sốt rét tại chỗ một cách bền vững.

Theo số liệu thống kê của WHO đến năm 2009, bệnh sốt rét vẫn lưu hành ở 108 quốc gia, ước tính có khoảng 225 triệu người mắc và 781 nghìn người tử vong do sốt rét, riêng Châu Phi chiếm 91%; Đông Nam Á chiếm 6% [11]. Tính chung giai đoạn 2000-2015, số ca mắc và ca tử vong do sốt rét giảm trên toàn cầu. Năm 2015, ước tính có 214 triệu ca mắc sốt rét giảm 18% so với 262 triệu ca năm 2000; Năm 2015 có 438.000 ca tử vong giảm 48% so với 839. Số trường hợp mắc và tử vong do sốt rét chủ yếu xảy ra ở Châu Phi (88% năm 2000 và 90% năm 2015), tiếp đến là Đông Nam Á (10% và 7%), Địa Trung Hải (2% và 2%) [12],[13].

Năm 2019 có khoảng 228 triệu trường hợp mắc bệnh sốt rét, giảm 23 triệu trường hợp so với năm 2010 (228 triệu/251 triệu trường hợp) và giảm 3 triệu trường hợp so với 2017 (228 triệu/231 triệu trường hợp). Tỷ lệ mắc bệnh sốt rét đã giảm trên toàn cầu từ năm 2010 đến 2020, từ 71/1.000 dân số nguy cơ sốt rét (2019). Hầu hết các trường hợp sốt rét trong năm 2019 ở Khu vực Châu Phi với 213 triệu trường hợp chiếm 93%, tiếp theo là khu vực Đông Nam Á chiếm 3,4% và khu vực Địa Trung Hải chiếm 2,1%. Tình hình sốt rét ở Việt Nam Tại Việt Nam, Chương trình tiêu diệt sốt rét đã thực hiện ở miền Bắc từ năm 1958 - 1975, bao gồm: giai đoạn chuẩn bị (từ 1958 - 1961) và giai đoạn tấn công tiêu diệt sốt rét (từ 1962-1964).

Đến năm 1964, bệnh sốt rét đã giảm 20 lần. Chương trình tiêu diệt sốt rét được duy trì trong suốt thời gian chiến tranh chống Mỹ ở miền Bắc cùng với chương trình phòng chống và diệt trừ sốt rét trong các vùng giải phóng ở miền Nam đến năm 1975. Sau thống nhất đất document, khoa luan15 of 98. tai lieu, luan van16 of 98.

5 nước, do hậu quả của chiến tranh và do nhiều nguyên nhân khác, tình hình bệnh sốt rét trên toàn quốc không ổn định, tỷ lệ mắc và chết do sốt rét tăng dần. Từ năm 1976 nước ta đã chuyển chiến lược tiêu diệt sốt rét sang chiến lược thanh toán sốt rét không hạn định về thời gian. Từ năm 1987 bệnh sốt rét đã quay trở lại ở hầu hết các tỉnh vùng rừng núi và ven biển với tốc độ nhanh và nghiêm trọng, với khoảng 80% dân số sống trong vùng sốt rét (57 triệu người). Năm 1991, toàn quốc có 144 vụ dịch sốt rét, 4646 người chết do sốt rétvà hơn 1 triệu người mắc sốt rét.

Năm 1991, Việt Nam đã chuyển chiến lược thanh toán sốt rét sang chiến lược phòng chống sốt rét và Chương trình phòng chống sốt rét trở thành một trong các dự án thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống một số bệnh xã hội, bệnh dịch nguy hiểm và HIV/AIDS từ đó cho đến năm 2020. Sau 10 năm (1991 – 2000) thực hiện PCSR: Số người mắc sốt rét giảm 73,1% so với năm 1991 (1.251 người); số người tử vong do sốt rét giảm 98,5% so với năm 1991 (4.646 người); 2 vụ dịch sốt rét (phạm vi thôn, bản), giảm 98,6% so với năm 1991 (144 vụ dịch) [15],[16]. Việt Nam là một trong những quốc gia có chương trình PCSR thành công, đạt được nhiều thành tựu to lớn trong công tác PCSR từ năm 1991 khi chuyển từ chương trình thanh toán sốt rét sang PCSR: sốt rét đã giảm mạnh, thậm chí nhiều tỉnh, thành phố đã không ghi nhận trường hợp mắc sốt rét tại địa phương. Số vụ dịch sốt rét giảm dần, năm 2010 không có dịch sốt rét xảy ra trong cả nước [15].

Từ năm 2011, Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt “Chiến lược phòng chống và loại trừ sốt rét”[15].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ