chương 1, nhóm tác giả trình bày tổng quan các vấn đề của bài nghiên cứu. Cụ thể, nhóm tác giả sẽ chỉ ra những yêu cầu bức thiết dẫn nhóm tác giả đến việc thực hiện bài nghiên cứu, từ đó cho thấy đóng góp của đề tài trong giai đoạn hiện nay. Đồng thời, nhóm tác giả cũng xây dựng mục tiêu nghiên cứu và cung cấp một cái nhìn tổng quát về phương pháp cũng như số liệu được sử dụng trong nghiên cứu này. Chương 2 – Khung lý thuyết và những bằng chứng thực nghiệm về hành vi chuyển giá.
Nhóm tác giả xây dựng một nền tảng lý thuyết về hành vi chuyển giá, đồng thời cung cấp một cái nhìn xuyên suốt về quá trình phát triển của những nghiên cứu về hành vi chuyển 10 giá trên thế giới nhằm có một định hướng rõ ràng hơn trong việc xây dựng phương pháp nghiên cứu và lựa chọn các biến số cho mô hình nghiên cứu định lượng ở phía sau. Chương 3 – Phương pháp nghiên cứu. Chương này cung cấp một sự chi tiết hóa về phương pháp nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm, cũng như dữ liệu cùng với cách xác định các biến số được sử dụng trong nghiên cứu của nhóm tác giả. Chương 4 – Kết quả nghiên cứu.
Nhóm tác giả lần lượt trình bày các kết quả từ mô hình hồi quy theo phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS) và mô hình hồi quy theo phương pháp mô – men tổng quát (GMM). Sau đó, nhóm tác giả tiến hành thảo luận các kết quả vừa thu được từ các mô hình đối với các nhóm mặt hàng được xem xét cũng như đưa những đề xuất về mặt chính sách. Chương 5 – Kết luận. Chương này tóm tắt kết quả nghiên cứu cũng như nêu lên những hạn chế của nghiên cứu và những hướng mở rộng nghiên cứu tiếp theo.6 Hạn chế của đề tài và hướng phát triển nghiên cứu tiếp theo Mặc dù đưa ra được bằng chứng của hành vi chuyển giá tại Việt Nam, nghiên cứu của nhóm tác giả vẫn còn một số hạn chế mà có thể sẽ là cơ hội phát triển sâu hơn cho các bài nghiên cứu sau này về vấn đề chuyển giá tại Việt Nam: - Bài nghiên cứu chưa đo lường được tác động của các khoản phí bị phạt mà các công ty đa quốc gia phải gánh chịu khi bị Chính phủ Việt Nam cũng như Chính phủ các quốc gia đầu tư vốn tại Việt Nam phát hiện lên mức giá chuyển giao báo cáo.
Ngoài ra, dữ liệu về thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế suất thuế nhập khẩu được sử dụng trong bài nghiên cứu là các giá trị danh nghĩa. Do đó, các dữ liệu này vẫn chưa phản ánh mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế suất thuế nhập khẩu thật sự mà các công ty tại các quốc gia trong từng nhóm mặt hàng nghiên cứu phải chịu. Cụ thể, thuế suất biên đối với thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế suất thuế nhập khẩu có 11 trọng số theo khối lượng hoặc giá trị mặt hàng nhập khẩu có thể sẽ cho những ước lượng tốt hơn. 12 2 Khung lý thuyết và những bằng chứng thực nghiệm về chuyển giá 2.1 Khái niệm cơ bản Định giá chuyển giao là việc thiết lập giá cho những giao dịch nội bộ (tức là giao dịch giữa các bên liên quan) đối với hàng hóa, dịch vụ, tài sản vô hình và dòng vốn trong tập đoàn đa quốc gia (Eden 2003).
Các giao dịch nội bộ cho phép các công ty đa quốc gia thực hiện “hành vi đa quốc gia” của nó để bù đắp cho chi phí hoạt động ở nước ngoài và đạt được lợi thế cạnh tranh. Cho nên trong thực hành, thao túng giá chuyển giao (Transfer Pricing Manipulation – TPM) là chiến lược thiết lập giá chuyển giao bên trên hoặc bên dưới chi phí cơ hội để “tránh” sự kiểm soát của chính phủ và những khác biệt trong quy định giữa các quốc gia (Horst 1971; Eden 1998). Điều này có nghĩa là định giá chuyển giao liên kết với chuyển dịch lợi nhuận giữa những khu vực có thuế suất khác nhau. Phương pháp được thiết lập để xác định giá chuyển giao “đúng” được gọi là phương pháp định giá theo nguyên tắc thị trường (arm’s length priciple – ALP), thông qua phương pháp này, hai hay nhiều chi nhánh của một công ty đa quốc gia nên thực hiện giao dịch với chi nhánh khác giống như là hai công ty này độc lập với nhau.
Trong thực hành, điều này có nghĩa là giá được dùng trong giao dịch này phải bằng với giá cả thị trường hiện tại đối với cùng sản phẩm. Trong thực tế, việc định giá chuyển giao đúng hay việc định giá theo nguyên tắc ALP là rất khó áp dụng đối với cả công ty và cơ quan thuế. Nguyên nhân của việc này bao gồm cả những nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan. Nguyên nhân khách quan là những khó khăn của công ty khi xác định giá tài sản vô hình và dịch vụ, bởi vì việc xác định dựa trên chi phí hay có thể so sánh cũng không dễ xác định mà không tốn chi phí.
Về phía cơ quan thuế, sự thiếu hụt thông tin để so sánh cũng như thiếu hụt chuyên gia với kĩ năng chuyên môn trong việc định giá các tài sản riêng biệt là những nguyên nhân chủ yếu. Nguyên nhân còn lại chủ yếu là do công ty cố tình thao túng giá chuyển giao. Trong những tập đoàn đa quốc gia, định giá giá chuyển giao giữ một vai trò quan trọng cho cả 13 kế toán quản trị và kế toán vì mục đích thuế. Thông thường, mục tiêu sau cùng của việc này là nhằm phân bổ lợi nhuận giữa các khu vực.
Trong khảo sát của Ernst & Young năm 2003, mục đích “tối đa hóa thành quả hoạt động” (73%) và “tối thiểu hóa thuế” (68%) được xem như ưu tiên chủ yếu. Nghiên cứu về kế toán quản trị xem giá chuyển giao như là một công cụ cho phối hợp quyết định sản xuất và kinh doanh giữa những thị trường khác nhau. Giá chuyển giao được dùng để cung cấp cho những nhà quản lý thông tin về chi phí và lợi nhuận của những giao dịch. Bởi vì việc đo lường thành quả của nhà quản lý khu vực dựa trên kết quả lợi nhuận của khu vực mà họ quản lý, giá chuyển giao có vai trò chính trong việc tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích chuyển giao hàng hóa và dịch vụ giữa các khu vực.
Từ nhận thức đó, mục tiêu của định giá chuyển giao là cho phép công ty cơ cấu phân tán thực hiện được việc tối ưu hóa lợi nhuận. Các hình thức thao túng chuyển giá có thể bao gồm những dạng chính như sau: định giá thấp hàng xuất khẩu từ nơi có có thuế suất cao đến nơi có thuế suất thấp – tạo ra lợi nhuận thấp hơn ở khu vực có thuế cao; định giá cao hàng xuất khẩu từ nơi có có thuế suất thấp đến nơi có thuế suất cao – tạo rao lợi nhuận cao hơn ở khu vực có thuế suất thấp; giao dịch gián tiếp qua một nước thứ ba tính chi phí hóa đơn cho chi nhánh ở khu vực thuế cao bằng giao dịch nội bộ bởi chi nhánh có thuế thấp; tập trung quyền sở hữu tài sản vô hình tại những khu vực có thuế suất thấp. Thao túng giá chuyển giao, ngoại trừ tác động tích cực lên mục tiêu chuyển vốn của công ty, có nhiều tác động xấu lên các thành phần khác nhau trong xã hội. Theo Emmanuel Budu Addo (Action AID Ghana), tác hại của hoạt động chuyển giá có thể phân tích theo các khía cạnh về quyền lợi của lực lượng lao động, quản lý nguồn lực, chất lượng thông tin cho phát triển và đầu tư của các doanh nghiệp, những thách thức với việc thực hiện các chính sách liên quan đến thuế của chính phủ, và hiệu ứng dây chuyền của chúng tác động lên nghèo đói đã không nhận được sự chú ý tương ứng của công chúng.
Chuyển giá làm mất đi doanh thu thuế của ngân sách quốc gia, đe dọa đến sự phát triển kinh tế. Nhiều tài liệu thực nghiệm quan trọng đã phân tích hành vi lạm dụng chuyển giá 14 ảnh hưởng tiêu cực đến doanh thu thuế nói chung và đối với sự phát triển xóa đói giảm nghèo. Tránh thuế làm tình trạng nghèo đói kéo dài dai dẳng và tạo ra sự bóp méo kinh tế nghiêm trọng, gây cản trở quyết định đầu tư trong nền kinh tế. Hoạt động chuyển giá gia tăng kéo theo sự phát triển của những nền kinh tế hải ngoại – nơi mà sẽ là trung gian cho việc thực hiện chuyển giá.
Trong một số trường hợp, quốc gia tiếp nhận đầu tư có thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp thấp hơn nên trở thành người hưởng lợi từ hoạt động chuyển giá của các công ty đa quốc gia. Vì vậy mà các quốc gia này cố ý làm lơ để các công ty đa quốc gia thực hiện hành vi chuyển giá, làm nổi lên sự cạnh tranh về chính sách thuế giữa các quốc gia. Về lâu dài, khi có sự chuyển biến của môi trường kinh doanh quốc tế thì các quốc gia này sẽ gánh chịu hậu quả do việc thả lỏng và thờ ơ trong công tác quản lý trước đây gây ra. Lúc này các quốc gia phải đương đầu với khó khăn tài chính do các hành động chuyển giá nhằm thu hồi vốn nhanh sẽ làm thay đổi cơ cấu vốn của nền kinh tế quốc gia tiếp nhận đầu tư, phản ánh không chính xác sức mạnh và cơ hội đầu tư của nền kinh tế và khủng hoảng sẽ xảy.
Thêm vào đó, thông qua hoạt động chuyển giá nhằm chiếm thị phần khi mới tham gia vào thị trường, các công ty đa quốc gia sẽ tiến hành các chiêu thức quảng cáo và khuyến mãi làm lũng đoạn thị trường. Thông qua chuyển giá, các công ty đa quốc gia sẽ thực hiện kế hoạch thôn tính doanh nghiệp trong nước, các công ty đa quốc gia sẽ dần trở nên độc quyền, kiểm soát giá cả và mất dần tính tự do của thị trường. Các hoạt động chuyển giá làm phá sản kế hoạch phát triển nền kinh tế quốc dân của nước tiếp nhận đầu tư. Chính phủ sẽ gặp khó khăn trong hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô và không thể thúc đẩy sản xuất phát triển.
Nếu không ngăn chặn kịp thời thì về lâu dài, các quốc gia tiếp nhận đầu tư sẽ phải phụ thuộc về mặt kinh tế và tiếp theo sau đó là sự chi phối về mặt chính trị. Ngoài ra, hoạt động chuyển giá sẽ gây ra tình trạng mất cân đối trong cán cân xuất nhập khẩu quốc tế của quốc gia đó.