Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về cây mít 1.1 Nguồn gốc cây mít Mit (Arfocarpus heterophyllus Lam.) có nguồn gốc từ An Độ và Bangladesh. Là loại cây trồng phô biến ở An Độ, Trung Quốc, Siri Lanka và các quốc gia khu vực Đông Nam A (Elevitch and Manner, 2006). Theo Zielenski (1955) cây mit được phân loại như sau: Ngành (Division): Magnoliophyta Lớp (Class): Magnoliopsida Bộ (Ordo): Rosales Ho (Familia): Moraceae Chi (Genus): Artocarpus Loai (Species): Artocarpus heterophyllus Quả mít và các sản phẩm từ quả mit là một mặt hang thực phẩm phổ biến trên khắp các Châu lục khi giao thương Quốc tế ngày càng mở rộng. Tuy nhiên văn hóa âm thực từ quả mít và các sản phẩm từ quả mít phong phú nhất ở Nam Á và Đông Nam Á (Hồ Dinh Hai, 2014).
Ở Việt Nam cây mít đã được trồng trên khắp mọi miền đất nước từ lâu đời, trong đó có nhiều giống mít nồi tiếng như mít nghệ, mít mật, mít dai, mít ướt, mít Tố Nữ (Hồ Đình Hải, 2014).2 Dac điểm sinh học của cây mit Mít là loài cây thân gỗ đại mộc, có thời gian sống từ 20 - 100 năm. Có thân cao từ 10 - 30 m, vỏ day màu xám sam, phân nhiều cành, tán lá rộng 5 - 10 m. Các cây mít kích cỡ nhỏ có đường kính gốc từ 10 cm - 20 cm, cây mít trung bình đường kính gốc từ 20 cm đến 30 cm, cây mít lớn đường kính gốc trên 30 cm. Thân hóa gỗ và gỗ mít don, bở, không được tốt lắm, được xếp và nhóm IV.
Cảnh mít được chia thành nhiều cấp cành, cành non có lông và vết vòng lá kèm, chính các cành quyết định kích thước của tán lá. Lá đơn, mọc cách, phiến lá dày hình trái xoan, rộng hay trứng ngược, dài 7 — 15 em, đầu có mii tù ngắn, mép lá nguyên và ở những cây non thường chia 3 thùy, mặt trên màu lục đậm bóng. Cuống lá dài 1 - 2,5 cm. Lá kèm lớn, dính thành mo ôm cành, sớm rụng.
Hoa mít là cây có hoa đơn tính cùng gốc, với các hoa đơn tính của cả hai giới đều có mặt trên cùng một cây. Các cụm hoa sinh ra trên thân hay các cành chính. Các hoa đực mọc thành bông đuôi sóc. Cụm hoa đực dài, gồm nhiều hoa, có lông tơ mềm, lá bắc hình khiên, bao hoa hình ống gồm 2 cánh dính nhau ở đỉnh.
Cụm hoa cái hình bầu dục ở ngay trên thân hoặc các cành già. Các hoa cái nhỏ, màu hơi xanh lục mọc thành các cụm hoa ngắn, nhiều thịt trên một đề hoa lồi, bầu nhụy thượng. Sau khi thụ phấn chúng phát triển thành quả tụ (quả phức) có thê rất lớn, gồm nhiều quả bế (quả thật) hợp thành. Quả phức rất lớn, gồm nhiều quả thật, quả thật không phát triển tạo thành xơ mít, quả thật phát triển tạo thành múi mít, múi mít có phần thịt mềm, là thành phần chính dé ăn từ quả mit, trong múi mit có thé có hạt (đa số) và đôi khi không có hạt (do hạt bị thoái héa-thiéu số).
Những gai nhọn bên ngoài vỏ quả phức (quả giả) chính là các đỉnh của quả thật nằm bên trong quả phức. Quả mít to, dài chừng 30 — 60 cm, đường kính 18 — 30 em, ngoài vỏ có gai. Trừ lớp vỏ gai, phần còn lại của quả mít hầu như ăn được. Múi mít chín ăn rất thơm ngon.
Hạt mít có bên trong quả thật phát triển đầy đủ. Hạt có dang hình thuôn dai 2 - 4 cm, rộng 1,5 - 3 cm. Hat không có nội nhũ mà chỉ có 2 lá đài. Trong hạt có chứa nhiều dinh dưỡng chủ yếu là chất bộ, có thể dùng như một loại hạt lương thực để nầu ăn trực tiếp hoặc chế biến nhiều các cách khác nhau.
Hat nay mam khỏe và là cách dé nhân giống chủ yếu (Hồ Đình Hải, 2014).3 Tổng quan về giống mit Thái siêu sớm Giống mít Thái siêu sớm có nguồn gốc từ Thái Lan, là loại cây mới du nhập vào Việt Nam, được trồng chủ yếu ở các tỉnh miền Nam. Giống cây này có một đặc điểm đó là thu hoạch nhanh, khoảng 12 — 16 tháng sau khi trồng, ra quả quanh năm, đem lại năng suất cao. Múi mít có thịt màu vàng đậm, ăn rất giòn, it xơ có vị ngọt và thơm. Thông thường mỗi cây trưởng thành sẽ cho từ 100 đến 150 quả/cây.4 Tinh hình sản xuất mít tại Việt Nam 1.1 Diện tích gieo trồng Quả mít đã được trồng ở tất cả các vùng sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam.
Tuy nhiên, vùng trồng chủ yếu phục vụ thị trường trong nước và xuất khâu được phân bố ở khu vực Bắc Trung Bộ (Hà Nội), miền núi phía Bắc (tinh Bắc Giang và Sơn La), Tây Nguyên (tỉnh Dak Lak) và khu vực phía Nam (Đồng Nai, Tây Ninh, Tiền Giang). Năm 2020, tổng diện tích trồng mít ở Việt Nam là 59. Trong đó, diện tích mít trồng mới là 16.950,1 ha, điện tích cho sản phẩm là 34.587,3 ha, năng suất trên diện tích cho sản phẩm là 158,3 tạ/ha và sản lượng thu hoạch là 547. Diện tích trồng mít ở đồng bằng Sông Cửu Long lớn nhất nước ta với 29.979,4 ha, tiếp theo là Đông Nam Bộ với 12.609,1 ha và Đồng bằng sông Hồng với 2.
Tiền Giang hiện là tỉnh có diện tích mít lớn nhất ĐBSCL với 13.141,09 ha, trong đó diện tích trồng mới chiếm 3.600,01 ha, diện tích cho sản phẩm 7.305,75 ha với năng suất đạt 260,89 tạ/ha (Cục bảo vệ thực vật, 2021).2 Thị trường tiêu thụ Từ lâu cây mít ít khi được xem trọng như là một loại nông sản có khả năng sinh lợi cao. Người ta trồng mít để ăn và lấy gỗ là chủ yêu nhưng hơn chục năm trở lại đây, có nhiều giống mít có phẩm chất tốt, có dang dấp của loại cây thương mại cạnh tranh với những loại cây có giá tri khác như xoài, bưởi, cam, quýt,.như là mít Nghệ cao sản có thể ăn tươi hoặc sấy khô công nghiệp tiêu thụ trong nước hoặc xuất khẩu; gần đây nhất là giống mít Thái, du nhập từ Thái Lan đã đem lại lợi nhuận cao cho nông dân cũng như thương lái, nhờ những ưu điểm của nó mà nhu cầu về loại mít này cũng tăng lên. Việt Nam đang xuất khẩu mít say khô, quả mít đông lạnh và quả mit tươi sang nhiều nước trên thế giới. Các thị trường chính của quả tươi bao gồm Trung Quốc, Dubai, Philippin, Italia, Han Quốc (Cục bảo vệ thực vật, 2021).5 Giá trị của cây mit Giá trị về kinh tế: Hiệu quả kinh tế trong việc trồng mít mang lại giá trị kinh tế cao hơn han các cây trồng khác.
Mit được sử dụng nhiều trong chế biến trong nên công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng như nước ép, mít sấy, hương vị bánh kẹo xuất khẩu sang các quốc gia trên thế giới, mang lại giá trị lớn cho các doanh nghiệp. Giá trị về dinh dưỡng: Bộ phận trên cây mít có nhiều ý nghĩa về dinh dưỡng nhiều nhất là quả mít. Quả mít được đánh giá là loại trái cây lành mạnh cung cấp một lượng calo vừa phải, nhiều chất xơ, khoáng chất, vitamin và chất chống oxy hoá. Trong quả mít chứa 10 loại vitamin và khoáng chất khác nhau như Canxi, Phốt pho, Kali, Mangan, vitamin A, B2, C.2 Téng quan bénh den xo mit 1.1 Giới thiệu bệnh Bệnh xuất hiện lần đầu tiên tại Malaysia vào năm 2014, đến tháng 4 năm 2016 thì có bài báo cáo đầu tiên về bệnh đen xơ trên mít (Zulperi và ctv, 2017).
Trên thế giới, bệnh xuất hiện hầu hết ở các vùng trồng mít, gây thiệt hại lớn về kinh tế cũng như năng suất cây trồng. Còn tại Việt Nam, bệnh xuất hiện nhiều ở Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long vào những tháng mùa mưa.1 Mẫu mít không bị xơ đen Mít khi bị xơ đen không có triệu chứng, thường là những trái nằm dưới mặt đất. Bệnh thường xuất hiện vào mùa mưa. Hiện tượng mít bị xơ đen là trái méo mó, bên trong xơ mít có những đốm màu đen, làm giảm chất lượng và độ ngọt trái.
Để lâu trái sẽ bị thối.1 Tác nhân gay gai Theo nhóm nghiên cứu Zulperi va ctv (2017), bệnh den xơ mít do vi khuẩn Pantoea stewartii. Trước đó ở Việt Nam Pantoea stewartii gây ra bệnh héo vi khuẩn và bệnh bạc lá trên bắp. Ngoài ra, bọ cánh cứng (Chaetocnema pulicaria) là loài côn trùng trung gian chính của mam bệnh Pantoea stewartii. Vi khuân được đưa vào cây thông qua vết thương do Hinh 1.3 Bọ cánh cứng Chaetocnema pulicaria (Pataky, 2003) 1.2 Phương thức lây truyền bệnh Vi khuân xâm nhập vào trái theo nước mưa bang hai con đường: qua nướm hoa cái mở ra nhận phân và con đường thứ hai là giữa trái đơn có khoảng hở, vi khuân theo nước mưa di vào (Lê Văn Bé, 2017).
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thành Nhân (2018) cũng cho rằng hiện tượng mít bị xơ đen có thé là do vi khuan tan công vào trái trong quá trình thụ phan bằng 2 con đường: (1): qua vòi nhị cái đi vào bên trong trái (2): qua khe hở giữa các múi lúc trái còn non Hình 1.4 Con đường xâm nhập cua vi khuẩn (Lê Văn Bé và ctv, 2017) 13 Biện pháp phòng trừ 1.1 Biện pháp hóa học Hiện nay chưa có thuốc hóa học phòng trừ đặc trị bệnh đen xơ mít, vi khuẩn Pantoea stewartii gay ra bệnh héo vi khuẩn và bệnh bạc lá trên bắp nên sử dụng các thuốc có hoạt chất sau: Bronopol, Kasugamycin, Oxolinic acid, Ningnamycin, Streptomycin suffate. Dé rà soát ra hoạt thuốc và nồng độ phù hợp.2 Biện pháp thủ công Một nghiên cứu của Lê Văn Bé (2017), trường Đại học Cần Thơ đưa ra cách khắc phục hiện tượng xơ đen (chỉ dùng trong nghiên cứu và xác định tác nhân): Sử dụng ky nhựa bao quanh hoa cái lúc chưa nhận phấn cho thấy giảm hiện tượng xơ den 1 cách đáng kể, chỉ 12% trái bị bệnh xơ đen. Ngược lại nghiệm thức đối chứng có đến 69% trái bị xơ đen. Tuy nhiên, các trái được bao quanh bằng ky nhựa thì § méo mó do không được thụ phan.
Sử dung miếng nylon làm mái che nước mưa lúc hoa cái chưa nhận phan cho thấy có 13% trái bị xơ đen và nghiệm thức đối chứng là 66%. Các trái được che nước mưa thì tròn đều, hình dang trái dep do được thụ phấn hoàn toàn. Chương 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Nội dung nghiên cứu của đề tài Nội dung 1: Điều tra hiện trạng bệnh đen xơ trên mít Thái siêu sớm và xây dựng bản đồ phân bó bệnh đen xơ mit tại các vùng điều tra thuộc tỉnh Đồng Nai. Nội dung 2: Xác định hiệu lực phòng trừ của một số thuốc BVTV hóa học trong điều kiện phòng thí nghiệm.