CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHI N CỨU 1. Qua đ ểm của Đả v N ước về p t tr ể t ể t a t tíc ca Chăm sóc sức khỏe, tăng cường thể chất của nhân dân được coi là một nhiệm vụ quan trọng của Đảng và Chính phủ. “Nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đòi hỏi nhân dân ta phải có sức khỏe dồi dào, thể chất cường tráng… Vận động thể dục, thể thao là một biện pháp hiệu quả để tăng cường lực lượng sản xuất và lực lượng quốc phòng của nước nhà” [6], đó chính là quan điểm của Đảng ta về phát triển sự nghiệp thể dục, thể thao Việt Nam và cũng là lời khuyến cáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với toàn dân ta trong lời kêu gọi toàn dân tập thể dục từ những ngày đầu tiên xây dựng nước Việt Nam dân chủ cộng hòa “Dân cường thì nước thịnh” [40]. Cho đến nay, Đảng và Nhà nước ta v n không ngừng quan tâm, chỉ đạo ngành TDTT nước nhà nỗ lực phấn đấu thực hiện bằng được mục tiêu quan trọng này.
Tại điều 33, luật TDTT nêu rõ “Thể thao thành tích cao là hoạt động huấn luyện và thi đấu thể thao có hệ thống của HLV, VĐV nhằm đạt được thành tích, kỷ lục thể thao.” Thực hiện đường lối của Đảng ta về phát triển công tác TDTT trong thời kỳ đổi mới, “Xây dựng chiến lược Quốc gia về nâng cao sức khỏe, tầm vóc con người Việt Nam, tăng tuổi thọ và cải thiện chất lượng giống nòi. Tăng cường thể lực của thanh niên. Phát triển mạnh thể dục, thể thao, kết hợp thể thao phong trào và thể thao thành tích cao, dân tộc và hiện đại. Có chính sách và cơ chế phù hợp để bồi dưỡng và phát triển tài năng, đưa thể thao nước ta đạt vị trí cao ở khu vực, từng bước tiếp cận với châu lục và thế giới ở những bộ môn Việt Nam có ưu thế” [46].
Chiến lược phát triển thể dục, thể thao Việt Nam đến năm 2020 đề ra những nhiệm vụ, bước đi cụ thể nhằm thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng ta đối với sự nghiệp phát triển thể dục, thể thao Việt Nam thời kỳ hội nhập Quốc tế trong 10 năm tới là cần thiết, góp phần tạo dựng đội ngũ nhân lực có đủ trí tuệ và sức lực đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệ theo hướng hiện đại vào năm 5 2020 [51]. Chiến lược cũng nêu rõ Canoe-Kayak là 1 trong 22 môn thể thao trọng điểm loại 2. Theo đó, đội ngũ quản l , HLV được khuyến khích tích cực đổi mới cơ chế tổ chức và nội dung tuyển chọn và đào tạo theo định hướng chuyên nghiệ , đẩy mạnh ứng dụng nghiên cứu khoa học, y học thể thao cho công tác huấn luyện VĐV. Trung tâm HLTTQG Cần thơ được x c định là 1 trong 4 trung tâm trọng điểm huấn luyện nâng cao thành tích thể thao của cả nước, được tiến hành chuẩn hóa cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị phục vụ thi đấu thể thao quốc gia và quốc tế, tập huấn đội tuyển, đội tuyển trẻ quốc gia, đào tạo vận động viên cấp cao, vận động viên trẻ cấp tỉnh và ngành.
Cùng với xu thế phát triển của xã hội, TDTT được xem là một di sản, một bộ phận quan trọng trong nền văn hóa nhân loại. Tập luyện TDTT giú con người tăng cường sức khỏe và kéo dài tuổi thọ, góp phần làm hong hú đời sống sinh hoạt văn hóa, giáo dục và phát triển con người toàn diện về các mặt Đức – Trí – Thể – Mỹ. Đồng thời, TDTT cũng là hương tiện để giao lưu văn hóa của các dân tộc, các Quốc gia trên thế giới, nhằm xây dựng một xã hội văn minh hơn, tiến bộ hơn, hợp tác cùng nhau phát triển. Chương trình hành động của Ngành Văn ho , Thể thao và Du lịch thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng "được ban hành đã x c định 7 nhiệm vụ trọng tâm trong lĩnh vực TDTT, với mục tiêu chung của Chương trình là quán triệt đường lối, quan điểm chỉ đạo của Đảng đã được x c định tại văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng [6], cụ thể hóa thành những nhiệm vụ cụ thể để tổ chức thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ về văn hóa, gia đình, thể dục thể thao, du lịch; Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch đã x c định cụ thể các nhiệm vụ của từng lĩnh vực, trong đó lĩnh vực Thể dục thể thao có 7 nhiệm vụ cụ thể cần đạt được.
Có thể thấy, các chủ trương về công tác TDTT thành tích cao của Đảng và Nhà nước, xuyên suốt trong c c văn iện của các kỳ Đại hội Đảng đều có đề cập và định hướng phát triển như sau: “Tích cực xây dựng đội ngũ VĐV ngày càng đông đảo, có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt và đạt thành tích kỷ lục cao…”, “Củng cố 6 và mở rộng hệ thống trường lớp năng khiếu thể thao, phát triển lực lượng VĐV trẻ, lựa chọn và tập trung sức nâng cao thành tích một số môn thể thao, coi trọng việc giáo dục đạo đức, phong cách TDTT xã hội chủ nghĩa, cố gắng bảo đảm các điều kiện về nguồn cán bộ, về khoa học kỹ thuật, về cơ sở vật chất và nhất là về tổ chức, quản lý cho công tác TDTT” [5,6,7,8]. Nghị định 36/2019/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật TDTT có hiệu lực từ ngày 14-6-2019 [18] được xem là sự bổ sung rất cần thiết, kịp thời đối với c c VĐV hiện nay. VĐV đội tuyển thể thao Quốc gia, đội tuyển thể thao ngành, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hi thôi làm VĐV nếu có nhu cầu đào tạo nghề và đủ điều kiện được hỗ trợ đào tạo nghề thì được hỗ trợ đào tạo nghề. Nghị định quy định trường hợp VĐV, HLV đội tuyển Quốc gia đã tốt nghiệ THPT, được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xác nhận đã hoàn thành nhiệm vụ tham gia thi đấu các giải thể thao khu vực, Quốc tế như: Olympic, Giải vô địch thế giới, Cúp thế giới, ASIAD, SEA Games, Giải vô địch Đông Nam Á.
được ưu tiên: Xét tuyển đặc cách vào làm việc tại c c cơ sở thể thao công lập phù hợp với vị trí việc làm cần tuyển dụng (c c trường đại học, cao đẳng chuyên ngành TDTT hoặc cử tham gia các hóa đào tạo HLV); được cộng điểm ưu tiên trong tuyển dụng lao động tại c c cơ sở thể thao hi có đủ trình độ, năng lực chuyên môn phù hợ. Trường hợ VĐV giải nghệ, nếu có nhu cầu đào tạo nghề và đủ điều kiện sẽ được hỗ trợ đào tạo nghề. Ngoài ra, c c VĐV cũng sẽ được hưởng chế độ về tiền lương, tiền tập huấn, thi đấu, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệ. theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, bên cạnh việc đầu tư vào nhân lực, hiện nay, Nhà nước ta có chính sách phát triển mảng này qua việc đầu tư tập trung xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại; đào tạo; tổ chức thi đấu thể thao thành tích cao, và các chính sách phát triển phong trào thể thao tại c c đơn vị cơ sở. 7 Tóm lại, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã đạt những thành tựu rất quan trọng trên các mặt: văn hóa, xã hội, kinh tế,… Đặc biệt, Đại Hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X đã định hướng toàn diện công việc đổi mới đường lối phát triển TDTT trong những năm tới. Vì vậy, việc xây dựng chiến lược phát triển TDTT đến năm 2020 hông chỉ phù hợp với tinh thần của Nghị Quyết mà góp phần đưa TDTT Việt Nam tránh tụt hậu so với Quốc tế, tiếp tục hội nhập với phong trào Olympic. Cơ ở lý luậ về uấ luyệ ức mạ 1.
K ệm ức mạ Các công trình nghiên cứu về lịch sử tập luyện phát triển sức mạnh cơ đã khẳng định việc áp dụng các bài tập trong huấn luyện sức mạnh đã có từ lâu đời và trong nhiều lĩnh vực h c nhau như c c chiến binh Hy Lạp, La Mã tập luyện sức mạnh để chiến đấu; tại Thế vận hội Olympic lần 1 năm 776 trước công nguyên, VĐV c c môn Thể thao đã biết kết hợp các bài tập sức mạnh cơ và c c bài tập chuyên môn trong chương trình tập luyện để thi đấu [85]. Vào những năm đầu của thế kỷ thứ IX sau công nguyên, môn Cử tạ là môn thể thao thi đấu tại các cuộc thi sức mạnh tại Mỹ. Đến năm 860, Archibald Mclaren đã biên soạn hệ thống các bài tập phát triển thể chất đầu tiên với dụng cụ là tạ đòn và tạ tay cho quân đội Anh. Đo lường sức mạnh cơ là hương h dùng để đ nh gi năng lực thể chất của học sinh Trung học, Cao đẳng Mỹ vào những năm 1880.
Đến năm 1900, c c chuyên gia gi o dục thể chất và VĐV c c môn thể thao như Cử tạ, Điền kinh, Vật… đã bắt đầu luyện tập với tạ, nhưng đa số VĐV c c môn Thể thao khác rất hạn chế tập với trọng lượng phụ vì sợ làm giảm tính mềm dẻo và linh hoạt khớp. Cuối năm thậ niên 1950 đầu thập niên 1960, các nghiên cứu đã chứng minh việc tập luyện với trọng lượng phụ không làm giảm độ mềm dẻo khớp, mà còn làm tăng tốc độ và công suất cơ bắp; cùng với sự phát triển của giải ph u học, sinh lý học mà con người biết rõ hơn về cấu trúc cơ, động học, sự chuyển hóa năng lượng, khả năng thích ứng của cơ bắp. Các vấn đề này tạo cơ sở cho việc nghiên cứu và xây dựng bài tậ , chương trình huấn luyện phát triển sức mạnh cơ thuận lợi hơn [47]. 8 Qúa trình nghiên cứu về vấn đề này, các tác giả như: Harre (1996), Nguyễn Toán và Phạm Danh Tốn (2000),… đã thống nhất quan điểm và cho rằng: Sức mạnh là khả năng con người sinh ra lực cơ học bằng nỗ lực cơ bắp hay sức mạnh của con người là khả năng hắc phục lực đối kháng bên ngoài hoặc đề kháng lại nó bằng sự nỗ lực của cơ bắp [30, 61].