phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung đề tài tập trung vào 3 chương gồm: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hành vi sử dụng mạng xã hội của sinh viên Chƣơng 2: Hành vi sử dụng mạng xã hội của sinh viên Khoa Ngoại ngữ - Tin học, Học viện Hành chính Quốc gia Chƣơng 3:Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng mạng xã hội của sinh viên Khoa Ngoại ngữ - Tin học, Học viện Hành chính Quốc gia 7 CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI CỦA SINH VIÊN 1. Một số khái niệm 1. Mạng xã hội Lịch sử loài người ghi nhận khi mạng Internet ra đời, MXH cũng đồng thời xuất hiện, đánh dấu kỷ nguyên mới, cho phép con người kết nối với nhau bất kẻ nơi nào trên trái đất.
Bắt đầu từ năm 1971 khi email đầu tiên được gửi đi. Đến khoảng những năm 2000, mạng internet và các nền tảng trực tuyến lan tỏa khắp nơi trên thế giới. Đến năm 2024, cả thế giới đã đạt mức 59,39% dân số toàn cầu sử dụng MXH. Vì sự phổ biến rộng rãi này, các định nghĩa về MXH cũng đa dạng với nhiều khía cách khác nhau tùy thuộc vào cách nhìn nhận của người tiêu dùng.
Theo khoản 22 Điều 3 Nghị định 72/2013/NĐ-CP [17]: Mạng xã hội (social network) là hệ thống thông tin cung cấp cho cộng đồng người sử dụng mạng các dịch vụ lưu trữ, cung cấp, sử dụng, tìm kiếm, chia sẻ và trao đổi thông tin với nhau, bao gồm dịch vụ tạo trang thông tin điện tử cá nhân, diễn đàn (forum), trò chuyện (chat) trực tuyến, chia sẻ âm thanh, hình ảnh và các hình thức dịch vụ tương tự khác. Theo từ điển bách khoa mở Wikipedia “Mạng xã hội hay còn gọi là mạng xã hội ảo là dịch vụ kết nối các thành viên cùng sở thích trên internet lại với nhau với nhiều mục đích khác nhau không phân biệt không gian và thời gian Theo tác giả Tống Thị Thu Hương - Trường Đại học KHXH&NV - Đại học Quốc gia Hà Nội, trong luận văn thạc sĩ “Nhu cầu sử dụng mạng xã hội của sinh viên Trường Đại học FPT” (2014) [7]: MXH là một dịch vụ kết nối những thành viên là người sử dụng dịch vụ đó tạo thành một cộng đồng ảo trên Internet, thông qua tương tác của các thành viên và cùng kết nối. Mỗi người là một mắt xích trong mạng lưới truyền tải thông tin đó, tạo nên một xã hội online, có những điểm tương tự và khác riêng đặc trưng so với xã hội thực ngoài đời. Theo tác giả Nguyễn Thị Phương Châm “Internet: Mạng lưới xã hội và sự thể hiện bản sắc”, Nxb Khoa học xã hội.
(2012) [1]: Mạng xã hội: là một ứng dụng nổi bật của internet với tính năng kết nối các thành viên cùng sở thích trên internet lại với nhau với nhiều mục đích khác nhau, trong sự không phân biệt không gian và thời gian của mạng xã hội, người sử dụng có thể dùng các dịch vụ chat, email phim ảnh, voice 8 chat, chia sẻ file, blog,. MXH có nhiều tính năng như gửi gửi thư điện tử (email), trò chuyện trực tiếp (chat voice, chat video), nhắn tin, diễn đàn để trao đổi, blog, giải trí, kinh doanh… Trên thế giới hiện nay có hàng trăm MXH khác nhau. Tại Việt Nam, mạng xã hội được ưa chuộng sử dụng như Zalo, Facebook, Instagram … Tại Trung Quốc, MXH được sử dụng phổ biến như Wechat, Weibo, Tencent QQ, Douyin. Các nền tảng này có chức năng tương tự như các ứng dụng tại Việt Nam, một số nền tảng còn được mua bản quyền và việt hóa như Douyin trở thành Tiktok ở Việt Nam.
Tại Nhật Bản, ngoài ứng dụng Line có chức năng tương tự Zalo được sử dụng bởi hầu hết người dân Nhật Bản, các mạng xã hội phổ biến ở Nhật Bản cũng khá tương tự Việt Nam và toàn cầu gồm Facebook, Instagram, Twiter, Youtube. Các nước tại Châu Âu như Anh, Pháp, Đức và Châu Mỹ như Hoa Kỳ, Canada cũng sử dụng chủ yếu các nền tảng Facebook, Youtube, Tiktok hay Instagram giống Việt Nam, ngoài ra còn có một số ứng dụng khác cũng được sử dụng ở mức khá đông đảo như Snapchat, Reddit, Twiter. Đến nay ngoài những nhận định của các cá nhân về MXH thì chưa có thêm những khái niệm nào về MXH. Trên cơ sở những quan điểm và định nghĩa của các tác giả, nhóm nghiên cứu thống nhất đi đến khái niệm chung về MXH: Mạng xã hội (social newwork) là một ứng dụng nổi bật của internet với tính năng kết nối các thành viên cùng sở thích trên internet lại với nhau với nhiều mục đích khác nhau, trong sự không phân biệt không gian và thời gian.
Sinh viên Nhóm tác giả đã nghiên cứu lịch sử hình thành của tầng lớp SV ở Việt Nam. Theo đó, từ trước thế kỷ 19 trở đi chưa có tầng lớp nào gọi là SV xuất hiện, chỉ tồn tại những người theo học tại Quốc Tử Giám. Đến nay Quốc Tử Giám được coi là trường đại học đầu tiên ở Việt Nam, nhóm tác giả cho rằng đó là những người đầu tiên có thể coi là người thuộc tầng lớp SV tại Việt Nam. Sang đến thế kỷ 19, xuất hiện các trường do Pháp mở, những người đi sang nước ngoài học tập nhưng số lượng còn rất hạn chế.
Đến năm 1902, Trường Đại học Y khoa Đông Dương được thành lập, sau Cách mạng tháng 8, các trường đại học và cao đẳng được mở nhiều hơn và tầng lớp SV bắt đầu được biết đến rộng rãi, trở thành một nhóm người có vị trí nhất định trong xã hội. Đến 9 nay, tầng lớp này được Đảng và Nhà nước quan tâm và tạo điều kiện phát triển, từ đó cũng dần được đưa vào các nghiên cứu học thuật. Trước đó đã có nhiều tác giả đưa ra khái niệm về SV dựa trên cách nhìn nhận và tình hình thực tiễn sẵn có của nhóm đối tượng này. Theo tác giả Nguyễn Lan Nguyên “Ảnh hưởng của việc sử dụng mạng xã hội Facebook đến học tập và đời sống của sinh viên hiện nay”, Trường Đại học KHXH&NV (2020) [11]: SV là một bộ phận đặc thù trong cộng đồng thanh niên của xã hội.
Có thể hiểu ngắn gọn, SV là những người đang theo học bậc đại học một cách chính thức tại các cơ sở giáo dục đại học, nghĩa là “những cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, thực hiện chức năng đào tạo các trình độ của giáo dục đại học, hoạt động khoa học và công nghệ, phục vụ cộng đồng”. Nguyễn Thị Hiền “Ảnh hưởng của mạng xã hội đến sinh viên Đại học Sao Đỏ trong giai đoạn hiện nay”, Tạp chí Nghiên cứu Khoa học - Đại học Sao Đỏ (2019) [4]: SV là lực lượng kế tục, phát huy nguồn trí tuệ nước nhà, là nguồn lực chủ yếu trong thời đại kinh tế tri thức, khoa học công nghệ, đóng vai trò then chốt trong phát triển đất nước, là lực lượng to lớn trong việc giữ gìn và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay. Theo tác giả Tô Thúy Hạnh trong bài đăng “Một số đặc điểm tâm lý cơ bản của sinh viên”, Đại học Nông lâm TP. Hồ Chí Minh (2017) [3]: SV là một nhóm xã hội đặc biệt, đang tiếp thu những kiến thức, kỹ năng chuyên môn ở các trường cao đẳng, đại học để chuẩn bị cho hoạt động nghề nghiệp sau khi ra trường.
Dựa trên những nghiên cứu của các tác giả tiên phong và bối cảnh xã hội thực tế được cập nhật mới nhất hiện nay, chúng tôi xin đưa ra một kết luận : SV là một nhóm người thuộc thế hệ trẻ trong xã hội, thường là đối tượng những người đạt tối thiểu từ độ tuổi 18 trở lên, trong một số trường hợp các cá nhân đặc biệt có tài năng, được đặc cách học trước tuổi 18. SV đang theo học ở các cấp độ cao đẳng hoặc đại học, chịu sử quản lý của cơ sở giáo dục đang theo học. Là nhóm người thường phải tham gia vào các khóa học, nghiên cứu, thực tập và các hoạt động học tập khác nhằm mở rộng kiến thức và kỹ năng của mình trong lĩnh vực họ quan tâm. Họ cũng có thể tham gia vào các hoạt động xã hội, câu lạc bộ, tổ chức SV và các hoạt động tình nguyện để phát triển cá nhân và gắn kết với cộng đồng.
Đối với việc sử dụng MXH, SV là nhóm đối tượng được toàn quyền quyết định 10 việc sử dụng MXH ảnh hưởng đến cá nhân mình, không phụ thuộc vào bất kì ai. Hành vi Hành vi hiểu đơn giản là các hành động của tất cả các sinh vật sống có ý thức trên thế giới. Từ khi trái đất và các sinh vật được hình thành, hành vi cũng từ đó mà xuất hiện. Thời cổ đại xa xưa đã tồn tại các nhà triết gia Hy Lạp Socrates, Plato và Aristotle bắt đầu để ý về những hành động có mục đích của con người và bắt đầu đặt ra câu hỏi.
Trong các bài giảng tôn giáo cũng đã có giảng về hành vi, hay còn gọi là đạo đức con người. Giáo dưỡng những hành động được gọi là xấu và tốt, có lợi và có hại dựa vào kinh nghiệm sống. Trải qua nhiều thế kỷ, từ thế kỷ 19 xuất hiện “chủ nghĩa hành vi” của John B. Xuất hiện các nhà tâm lý học bắt đầu nghiên cứu cách con người suy nghĩ và xử lý thông tin.
Đến nay, hành vi đã trở thành một phần của khoa học, trong các ngành tâm lý học, giáo dục đạo đức. Các khái niệm về hành vi cũng rộng rãi và phát triển, nhưng nhìn chung đều là dựa trên hành vi của con người là được nghiên cứu sâu rộng nhất. Các hành vi của các sinh vật khác như động vật cấp thấp, thực vật vẫn đang trong quá trình nghiên cứu kỹ lưỡng hơn. Theo từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên [12]: hành vi được hiểu là toàn bộ những phản ứng, cách cư xử biểu hiện ra bên ngoài của mọt người trong một hoàn cảnh cụ thể nhất định.
Theo từ điển của Hiệp hội Tâm lý Hoa Kỳ (APA)[18]: Hành vi là các hoạt động của một sinh vật để đáp ứng với các kích thích bên ngoài hoặc bên trong, bao gồm các hoạt động có thể quan sát khách quan, các hoạt động có thể quan sát nội tâm và các quá trình vô thức. Nhóm tác giả đưa ra một kết luận sau khi nghiên cứu các khái niệm về hành vi đã có trước và dựa vào tình hình thực tiễn hiện nay: Hành vi là hành động hoặc cách cư xử của con người hoặc các hệ thống sống khác.