Chương 1: Giới thiệu chung Chương 2: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và kiến nghị 4 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Một vài khái niệm liên quan tới đề tài 2.1 Thể hình Thể hình có thể coi là 1 môn khoa học. Đó là môn khoa học về cơ thể con người, khoa học về dinh dưỡng, khoa học về luyện tập và khoa học về rèn luyện ý chí. Thể dục thể hình là một bộ môn thể thao phát triển hình thái cơ thể (mẫu người) - sự nở nang của nhóm cơ bắp, dáng hình phát triển theo tỉ lệ cân đối. Thể dục thể hình theo quy định có 8 hạng cân cho nam và 4 hạng cân cho nữ.
Cơ sở khoa học của thể dục thể hình là quy luật phát triển bằng vận động, khẳng định tác động của bài tập lên cơ thể làm thay đổi hình thái và năng lực, rèn luyện sức vóc để con người vươn tới cái đẹp trong cấu trúc giải phẫu học Có 1 điều chắc chắn thể hình không phải xuất phát từ ViệtNam mà du nhập từ nước ngoài vào. Vì lẽ đó, chúng ta phải tham khảo, học tập và mượn khá nhiều kiến thức, khái niệm, từ vựng của nước ngoài khi nói về thể hình. Các khái niệm chung liên qua khi đề cập tới thể hình: - Fitness: Tập thể dục hoặc chỉ môn thể dục nói chung. Đôi khi thấy khái niệm này chỉ những người tập thể dục để có cơ thể đẹp mà không cần dùng thuốc phát triển cơ, tức là phát triển cơ bắp tự nhiên.
- Gym: Phòng tập thể dục. - Aerobic: Thể dục nhịp điệu. Thường dành cho chị em phụ nữ, tập theo bài theo nhạc, khi tập thường mặc bikini có tác dụng tốt tới thị giác của phái mày râu, nhưng có hại cho tuyến nước bọt. - Cardio: Nghĩa đen là tim, tim mạch.
Trong thể hình có nghĩa là các bài tập sức bền, các bài tập này tốt cho hệ tim mạch và có tác dụng đốt mỡ thừa. Cardio là các bài tập phát triển nhóm cơ sức bền của cơ thể, ví dụ như chạy bộ, đạp xe, nhảy dây, đóng gạch… - Workout: Kế hoạch tập luyện được vạch ra 1 cách chi tiết bao gồm nhiều nội dung như bài tập, số lần tập, trình tự tập, kế hoạch dinh dưỡng…Tóm lại nó là con đường đi đến mục tiêu mà ta đặt ra trước khi tập thể hình. - Training: Tập dượt, huấn luyện. Trong thể hình hình thức này thường đi kèm theo 1 phương pháp tập luyện nào đó kiểu như Hellraiser training.2 Trung tâm thể hình Trung tâm thể hình tuy không phải là một khái niệm gì quá mới mẻ nhưng xã hội ngày càng phát triển, đời sống con người được cải thiện nên trung tâm thể hình giờ cũng dần biến chuyển theo xu thế thời đại, mở rộng hơn rất nhiều.
Ngày trước, các trung tâm thể hình thường được gắn liền với hình ảnh các máy tập chạy, nâng tạ, gập bụng,… giờ đây, các dịch vụ được mở ra nhiều hơn ở các trung tâm thể hình nhằm đáp ứng mọi nhu cầu của mọi đối tượng: yoga, bodyjam (sử dụng âm nhạc 5 với các dòng nhạc trẻ trung như Hip-hop, Funk và Latin kết hợp với những điệu nhảy uyển chuyển), bodycombat (kết hợp đặc trưng các bộ môn võ như Karate, Muay Thai, Taichi, Kickboxing…), thể dục nhóm,… Có một vấn đề cần lưu ý là tránh nhầm lẫn TTTH với các phòng tập phủi. Các phòng tập phủi chất lượng kém hơn, chỉ đơn giản là có các máy tập: máy chạy, đẩy tạ, xà đơn,… chứ không đa dạng về các hình thức tập luyện như các TTTH, hay các dịch vụ đi kèm.2 Tổng quan các đề tài nghiên cứu có liên quan 2.1 Nguyễn Thị Nhâm (2014), “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn địa điểm mua sắm mỹ phẩm của nữ giới trên địa bàn Hà Nội”, Chuyên đề tốt nghiệp, đại học Kinh tế Quốc dân. Mức độ tin tưởng về uy tín và sản phẩm Sự phù hợp về giá Hành vi lựa chọn Sự thuận tiện khi mua hàng nơi mua sắm Yếu tố truyền thông Phong cách phục vụ Ảnh hưởng của xã hội 2.2 Nhóm tác giả: Nguyễn Thái Đức, Nguyễn Anh Việt, Nguyễn Thanh Nhân, Dương Thị Xuân Tiên, Lê Tuyết Linh (2014), “Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn mua điện thoại thông minh”, bài tập nhóm, TP. Hồ Chí Minh, trường đại học Mở TP.Hồ Chí Minh.
Giá cả Thương hiệu Chất lượng sản phẩm QUYẾT ĐỊNH CHỌN Kiểu dáng và tính năng MUA SMARTPHONE Quảng cáo Chất lượng dịch vụ Thu nhập 6 2.3 Nguyễn Thị Thúy Oanh (2007), “Nghiên cứu hành vi chọn giống lúa của nông dân huyện Thoại Sơn”, Khóa luận tốt nghiệp đại học, Khoa Kinh tế- Quản trị kinh doanh, Đại học An Giang. Đặc điểm người chọn lựa -Nghề nghiệp -Thu nhập -Tuổi -Số thành viên trong gia đình Marketing khác QUÁ TRÌNH RA Mua/Hành - Các loại giống QUYẾT ĐỊNH MUA vi sau mua - Giá cả - Địa điểm Nhận thức Tìm kiếm Đánh giá Ra nhu cầu thông tin quyết định - Loại giống - Thông tin - Tiêu chí về - Ai quyết đinh đang sử dụng trước khi chọn chất lượng mua - Mua khi nào lựa - Giá cả - Đặc tính giống - Thông tin sau - Chất lượng - Nơi mua khi chọn lựa giống qua - Mua khi nào những lần canh tác 2.3 Tổng quan về hành vi người tiêu dùng 2. Khái niệm hành vi người tiêu dùng Thuật ngữ “Hành vi người tiêu dùng” được hiểu là hành vi mà một người tiêu dùng thể hiện trong khi tìm kiếm, mua sắm, sử dụng, đánh giá và loại bỏ sản phẩm/dịch vụ mà họ kỳ vọng sẽ thỏa mãn nhu cầu của mình. Việc nghiên cứu hành vi người tiêu dùng sẽ tập trung tìm hiểu xem các cá nhân ra quyết định như thế nào để “tiêu xài” những nguồn lực mà họ có (tiền bạc, thời gian, những nỗ lực) vào các sản phẩm, dịch vụ liên quan đến tiêu dùng; bao gồm họ mua gì, vì sao mua, mua 7 như thế nào, mua khi nào, mua ở đâu, mức độ thường xuyên mua… ( Leon G.
Schiffman, Leslie Lazar Kanuk –Consumer Behavior, 1991) 2. Mô hình hành vi người tiêu dùng Theo Philip Kotler, nghiên cứu về hành vi tiêu dùng của khách hàng là một nhiệm vụ khá quan trọng có ảnh hưởng rất lớn trong quy trình các quyết định về marketing của doanh nghiệp. Ngày càng nhiều những nhà quản trị đã phải đưa vào việc nghiên cứu khách hàng để trả lời những câu hỏi chủ chốt sau đây về mọi thị trường: - Những ai tạo nên thị trường đó? - Thị trường đó mua những gì? - Tại sao thị trường đó mua? - Những ai tham gia vào việc mua sắm? - Thị trường đó mua sắm như thế nào? - Khi nào thị trường đó mua sắm? - Thị trường đó mua hàng ở đâu? Hình 2.1: Mô hình hành vi của người mua Các yếu tố bên ngoài Các yếu tố bên trong Quyết định của người mua Tác nhân Tác nhân Đặc điểm Quá trình ra Lựa chọn sản marketing khác người mua quyết định mua phẩm Sản phẩm Kinh tế Văn hóa Nhận thức vấn Lựa chọn nhãn đề hiệu Giá Công Xã hội Tìm kiếm thông Lựa chọn đại lý nghệ tin Địa điểm Chính trị Cá nhân Quyết định Định thời gian mua Truyền Văn hóa Tâm lý Mua sắm Định số lượng thông mua (Nguồn: Philip Kotler, 2005) 2. Quá trình thông qua quyết định mua hàng Quyết định mua hàng của người tiêu dùng không đơn giản chỉ là một hành động mua hàng, quyết định mua hàng gồm 5 giai đoạn, tuy nhiên trên thực tế người tiêu dùng có thể bỏ qua một trong năm giai đoạn hoặc không theo trình tự của các giai đoạn.2: Quá trình thông qua quyết định mua hàng Nhận Tìm Đánh giá Quyết Hành vi thức kiếm các định sau mua nhu cầu thông phương mua tin án (Nguồn: Philip Kotler, 2005) Đối với đề tài nghiên cứu hành vi lựa chọn trung tâm thể hình, tác giả chỉ tiến hành nghiên cứu tới bước trước khi ra quyết định mua, tức là tập trung nghiên cứu, tìm hiểu về phát sinh nhu cầu tập luyện thể hình, hành vi tìm kiếm thông tin, và việc khách hàng đánh giá các phương án cụ thể như thế nào.
Cụ thể như sau: 2. Nhận thức nhu cầu Quá trình mua hàng bắt đầu từ chỗ khách hàng nhận thức vấn đề hay nhu cầu. Họ cảm thấy có sự khác biệt giữa tình trạng thực tế và tình trạng mong muốn. Nhu cầu có thể bắt nguồn từ những tác nhân kích thích nội tại hoặc bắt nguồn từ những tác nhân kích thích bên ngoài.
Khách hàng có hay không nhu cầu tập luyện ở trung tâm thể hình? Nếu có thì cần tìm hiểu tại sao lại xuất hiện nhu cầu đó? Nhu cầu đã được thỏa mãn chưa, thỏa mãn ở mức độ nào ? Còn với trường hợp không xuất hiện nhu cầu thì tại sao lại có hiện tượng đó? Có yếu tố nào cản trở họ? 2.Tìm kiếm thông tin Khi sự thôi thúc của nhu cầu đủ mạnh, người tiêu dùng bắt đầu tìm kiếm thông tin để hiểu biết về sản phẩm. Khi tìm kiếm thông tin, người tiêu dùng có thể sử dụng những nguồn thông tin sau: - Nguồn thông tin cá nhân: gia đình, bạn bè, hàng xóm, người quen,… - Nguồn thông tin thương mại: quảng cáo, người bán hàng, các nhà kinh doanh, bao bì, triển lãm, hội chợ,… - Nguồn thông tin phổ thông: phương tiện thông tin đại chúng, các tổ chức nghiên cứu và phân loại người tiêu dùng. - Nguồn thông tin kinh nghiệm thực tế: dùng thử, tự tìm hiểu hàng hóa. Nghiên cứu nguồn thông tin tham khảo đối với việc lựa chọn trung tâm thể hình, tác giả chủ động tìm kiếm nguồn thông tin cá nhân và nguồn thông tin phổ thông.
Đối với nguồn thông cá nhân, tác giả đặc biệt lưu ý tới đối tượng là bạn bè, đồng nghiệp. Đây là 2 đối tượng có tần suất tiếp xúc cao, độ tuổi tương đương, có xu hướng giống nhau về việc nhận thức,… Đối với thông tin phổ thông, tác giả tiếp tục khảo sát các phương tiện đại chúng như: báo chí, tivi, radio,… và mạng xã hội. 9 Ngoài ra, tác giả còn chú ý tới nguòn thông tin tham khảo từ chính cá nhân khách hàng, dựa vào vốn hiểu biết chung của cá nhân đó. Đánh giá các phương án Sau khi có được thông tin cần thiết, người tiêu dùng sẽ đánh giá các phương án.
Trong quá trình đánh giá các phương án, người tiêu dùng dựa vào hai tập thông tin, đó là tập các thương hiệu và tập các tiêu chuẩn sử dụng để đánh giá.