Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp ngành Thương mại điện tử của tác giả Nguyễn Thị Thanh Bình (Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2023) được thực hiện trong bối cảnh nền kinh tế có nhiều biến động sau đại dịch COVID-19. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê được trích dẫn trong văn bản, tăng trưởng GDP quý III/2021 tại Việt Nam giảm 6,71% so với cùng kỳ năm 2020 (khu vực công nghiệp - xây dựng giảm 5,02%, khu vực dịch vụ giảm 9,28%). Trái ngược với sự suy giảm chung, thị trường thương mại điện tử (TMĐT) ghi nhận mức tăng trưởng liên tục. Báo cáo Sách trắng Việt Nam 2022 chỉ ra doanh thu TMĐT Việt Nam tăng từ 5 tỷ USD (năm 2019) lên 8 tỷ USD (năm 2020) và đạt 13 tỷ USD (năm 2021), trong đó các website TMĐT chiếm 78% tổng số các kênh mua sắm trực tuyến.

Thanh toán trực tuyến (TTTT) – hình thức thanh toán không dùng tiền mặt xuất hiện tại Việt Nam từ năm 2008 – được xác định là động lực thúc đẩy TMĐT. Năm 2021, có 80% người dân sử dụng điện thoại di động truy cập internet và 74,8% người dùng internet tham gia mua sắm trực tuyến. Dù vậy, phương thức thanh toán tiền mặt khi nhận hàng (COD) vẫn chiếm tỷ lệ áp đảo với 78% năm 2020 và 73% năm 2021. Thực trạng tỷ lệ TTTT còn thấp so với tiềm năng thị trường là lý do tác giả lựa chọn đề tài này.

Mục tiêu nghiên cứu được tác giả xác định cụ thể gồm ba nội dung:

  1. Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định thanh toán trực tuyến khi giao dịch trên các sàn TMĐT tại Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Xây dựng thang đo các yếu tố tác động đến ý định thanh toán trực tuyến khi giao dịch trên các sàn TMĐT tại Thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Từ kết quả nghiên cứu, đề xuất các giải pháp cải thiện cho các sàn TMĐT, các doanh nghiệp cũng như các cơ quan quản lý nhà nước.

Nhiệm vụ nghiên cứu gắn liền với việc giải đáp ba câu hỏi nghiên cứu:

  1. Thứ nhất, những yếu tố nào ảnh hưởng đến ý định TTTT khi giao dịch trên các sàn TMĐT tại Thành phố Hồ Chí Minh?
  2. Thứ hai, các yếu tố đó ảnh hưởng như thế nào?
  3. Thứ ba, các cơ quan quản lý nhà nước, các sàn TMĐT cần đưa ra giải pháp hay chiến lược nào nhằm thúc đẩy ý định TTTT trên các sàn TMĐT tại Thành phố Hồ Chí Minh?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định TTTT trên các sàn TMĐT tại Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Phạm vi nghiên cứu: Người tiêu dùng đã từng sử dụng sàn TMĐT và có ý định TTTT trên sàn TMĐT tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu định tính được tiến hành vào tháng 04/2023 và toàn bộ khóa luận hoàn thành vào tháng 05/2023.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng nền tảng lý luận dựa trên các khái niệm, cơ sở pháp lý và ba mô hình lý thuyết hành vi:

  • Cơ sở pháp lý và khái niệm: Khái niệm người tiêu dùng theo Pháp lệnh Bảo vệ Người tiêu dùng (1999) và mô hình hành vi người tiêu dùng của Philip Kotler (2009); định nghĩa hoạt động TMĐT theo khoản 1, Điều 3, Nghị định số 52/2013/NĐ-CP; phân loại các mô hình TMĐT (B2C, B2B, B2G, C2G, C2C); khái niệm thanh toán điện tử theo Rahardjo (1999), Turban và King (2002), Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB), Lin và Nguyen (2001).
  • Khung lý thuyết nền tảng: Mô hình chấp nhận công nghệ – TAM (Davis, 1985, 1989, 1993) với hai biến nhận thức cốt lõi là Nhận thức hữu ích và Nhận thức dễ dàng sử dụng; Thuyết hành động hợp lý – TRA (Fishbein, 1967; Fishbein và Ajzen, 1975) giải thích mối quan hệ giữa Thái độ, Chuẩn chủ quan và Ý định hành vi; Thuyết hành vi dự định – TPB (Ajzen, 1991) bổ sung biến Nhận thức kiểm soát hành vi.
  • Mô hình nghiên cứu kế thừa: Tác giả kế thừa trực tiếp từ mô hình của Junadi và Sfenrianto (2015) và Ardelia Simanjaya (2020), kết hợp tham khảo các nghiên cứu trong nước của Đặng Phong Nguyên (2021), Nguyễn Hồng Quân (2021), Nguyễn Thị Thu Vân và cộng sự (2021), Nguyễn Văn Sơn và cộng sự (2021), Nguyễn Thị Thu Hoài và cộng sự (2022). Mô hình ban đầu gồm 5 giả thuyết nghiên cứu (H1 đến H5) tương ứng với 5 biến độc lập tác động thuận chiều đến biến phụ thuộc Ý định thanh toán: (1) Nhận thức hữu ích, (2) Nhận thức dễ dàng sử dụng, (3) Chuẩn chủ quan, (4) Bảo mật, (5) Niềm tin.

Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa định tính và định lượng:

  • Nghiên cứu bàn giấy: Thu thập dữ liệu thứ cấp từ Tổng cục Thống kê, Sách trắng TMĐT Việt Nam 2022 và các tài liệu học thuật liên quan.
  • Nghiên cứu định tính: Phỏng vấn sâu thảo luận tay đôi với 10 người tiêu dùng tại Thành phố Hồ Chí Minh có độ tuổi từ 20 đến dưới 40 vào tháng 04/2023 để hiệu chỉnh thang đo sơ bộ.
  • Nghiên cứu định lượng: Thu thập dữ liệu sơ cấp thông qua bảng khảo sát trực tuyến trên các nền tảng mạng xã hội (Facebook, Instagram, Zalo) theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện. Quy mô mẫu tối thiểu được xác định theo tiêu chuẩn của Hair và cộng sự (1998) với tỷ lệ 5 quan sát cho 1 biến đo lường (24 biến đo lường cần tối thiểu 120 quan sát); tác giả dự kiến phát 200 phiếu khảo sát.
  • Phân tích dữ liệu: Sử dụng phần mềm SPSS 20 để thực hiện thống kê mô tả, kiểm định độ tin cậy thang đo bằng Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích tương quan Pearson, phân tích hồi quy tuyến tính bội OLS, kiểm định Independent Samples T-Test và phân tích phương sai ANOVA (kèm kiểm định Levene và Welch).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu

Chương này làm rõ bối cảnh tăng trưởng của TMĐT tại Việt Nam từ năm 2019 đến năm 2021 đối lập với xu hướng sử dụng tiền mặt vẫn chiếm tỷ lệ trên 70%. Tác giả chỉ ra nghịch lý giữa tỷ lệ người dùng internet cao (80% dùng điện thoại di động) nhưng tỷ lệ TTTT trên các sàn TMĐT chưa tương xứng. Từ đó, xác định rõ mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu là các yếu tố tác động đến ý định TTTT và phạm vi giới hạn tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tác giả cũng giới thiệu tóm lược quy trình nghiên cứu gồm phương pháp bàn giấy, định tính và định lượng bằng SPSS 20, cùng kết cấu 5 chương của khóa luận.

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu

Chương 2 hệ thống hóa cơ sở lý luận về hành vi người tiêu dùng, TMĐT và thanh toán trực tuyến. Tác giả phân tích chi tiết ba mô hình lý thuyết: TAM (Davis, 1985), TRA (Fishbein, 1967) và TPB (Ajzen, 1991), đồng thời tổng hợp 5 nghiên cứu trong nước và 3 nghiên cứu nước ngoài (Nutthawat và Preecha, 2021; Junadi và Sfenrianto, 2015; Ardelia Simanjaya, 2020). Dựa trên sự tổng hợp này, tác giả thiết lập mô hình nghiên cứu đề xuất gồm 5 biến độc lập: Nhận thức hữu ích, Nhận thức dễ dàng sử dụng, Chuẩn chủ quan, Bảo mật, Niềm tin và 1 biến phụ thuộc là Ý định thanh toán trực tuyến, kèm theo 5 giả thuyết từ H1 đến H5 phản ánh tác động thuận chiều.

Chương 3: Thiết kế nghiên cứu

Chương 3 xây dựng quy trình nghiên cứu 8 bước. Tác giả thiết lập thang đo sơ bộ gồm 24 biến quan sát đo lường trên thang đo Likert 5 điểm. Thảo luận tay đôi được thực hiện với 10 người tiêu dùng tại Thành phố Hồ Chí Minh theo dàn bài 5 câu hỏi. Kết quả thảo luận cho thấy hai mối quan tâm lớn nhất của người dùng khi TTTT là chương trình khuyến mãi và bảo mật thông tin cá nhân. Thang đo chính thức giữ nguyên 5 nhóm biến độc lập và 1 nhóm biến phụ thuộc với 24 biến quan sát, nhưng được điều chỉnh câu chữ để tăng độ rõ nghĩa. Chương này cũng xác định quy mô mẫu định lượng dự kiến 200 phiếu (tối thiểu 120 theo Hair và cộng sự, 1998) và các tiêu chuẩn kiểm định định lượng trên SPSS 20.

STT Biến nghiên cứu Số biến quan sát Mã hóa Nguồn kế thừa
1 Nhận thức hữu ích 4 HI1 - HI4 Ardelia Simanjaya (2020)
2 Nhận thức dễ dàng sử dụng 4 DSD1 - DSD4 Ardelia Simanjaya (2020)
3 Chuẩn chủ quan 4 CQ1 - CQ4 Junadi & Sfenrianto (2015); Ardelia Simanjaya (2020)
4 Bảo mật 4 BM1 - BM4 Ardelia Simanjaya (2020)
5 Niềm tin 4 NT1 - NT4 Ardelia Simanjaya (2020)
6 Ý định sử dụng (Biến phụ thuộc) 4 IU1 - IU4 Junadi & Sfenrianto (2015); Ardelia Simanjaya (2020)

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Chương 4 trình bày toàn bộ kết quả phân tích số liệu từ khảo sát thông qua 28 bảng thống kê (từ Bảng 5 đến Bảng 32):

  • Thống kê mô tả: Bảng 5 và Bảng 6 mô tả đặc điểm nhân khẩu học và giá trị thống kê của các thang đo.
  • Kiểm định độ tin cậy: Bảng 7 đến Bảng 12 kiểm định Cronbach's Alpha cho 5 thang đo độc lập (HI, DSD, CQ, BM, NT) và thang đo phụ thuộc (Ý định sử dụng).
  • Phân tích nhân tố khám phá: Bảng 13 và Bảng 14 kiểm định EFA cho các biến độc lập; Bảng 15 và Bảng 16 kiểm định EFA cho biến phụ thuộc. Kết quả phân tích nhân tố đã dẫn đến việc điều chỉnh thang đo (Bảng 17) và làm xuất hiện nhân tố mới "Sự tiện lợi" được kiểm định độ tin cậy riêng biệt (Bảng 18), từ đó hình thành mô hình nghiên cứu sau điều chỉnh (Hình 15 và mã hóa biến đại diện ở Bảng 19).
  • Phân tích hồi quy và tương quan: Kiểm định tương quan Pearson (Bảng 20), tóm tắt mô hình (Bảng 21), kiểm định độ phù hợp F-test ANOVA (Bảng 22) và phân tích hệ số hồi quy tuyến tính (Bảng 23).
  • Kiểm định khác biệt nhân khẩu học: Kiểm định Independent Samples T-Test đối với giới tính (Bảng 24); kiểm định phương sai đồng nhất Levene và kiểm định ANOVA/Welch đối với độ tuổi (Bảng 25, 26), nghề nghiệp (Bảng 27, 28), thu nhập hàng tháng (Bảng 29, 30) và tần suất mua sắm trực tuyến (Bảng 31, 32).

Chương 5: Thảo luận nghiên cứu và kiến nghị

Chương 5 diễn giải kết quả từ các phân tích thống kê ở Chương 4, đối chiếu các giả thuyết nghiên cứu với các nghiên cứu trước đây. Tác giả đề xuất các nhóm giải pháp nhằm gia tăng ý định TTTT hướng đến ba đối tượng: các sàn TMĐT, doanh nghiệp dịch vụ thanh toán và cơ quan quản lý nhà nước. Đồng thời, tác giả trình bày các giới hạn của đề tài về nguồn lực, thời gian, phương pháp chọn mẫu thuận tiện và đề xuất hướng mở rộng nghiên cứu trong tương lai.

Kết quả và đóng góp

Kết quả và dữ liệu định lượng được xác lập trong khóa luận:

  • Bối cảnh thị trường: Khóa luận hệ thống hóa các chỉ số phát triển thị trường TMĐT tại Đông Nam Á (38 tỷ USD năm 2019 lên 120 tỷ USD năm 2021) và Việt Nam (5 tỷ USD năm 2019 lên 13 tỷ USD năm 2021); tỷ trọng 78% kênh mua sắm qua website TMĐT; tỷ lệ người dân dùng internet mua sắm trực tuyến đạt 74,8%; tỷ lệ dùng tiền mặt duy trì ở mức 78% (năm 2020) và 73% (năm 2021).
  • Xây dựng và điều chỉnh thang đo: Từ 24 biến quan sát lý thuyết, nghiên cứu định tính với 10 người tiêu dùng đã chuẩn hóa nội dung diễn đạt. Quá trình phân tích nhân tố EFA ở Chương 4 đã tái cấu trúc thang đo, ghi nhận sự xuất hiện của nhân tố "Sự tiện lợi" bên cạnh các nhân tố ban đầu và được kiểm định độ tin cậy bổ sung tại Bảng 18.
  • Đóng góp khoa học và thực tiễn do tác giả tự nêu: Tác giả khẳng định nghiên cứu tiếp cận vấn đề ở một hệ quy chiếu cụ thể – giới hạn TTTT trên các sàn TMĐT tại Thành phố Hồ Chí Minh, thay vì xem xét thanh toán trực tuyến chung chung. Hướng tiếp cận này giúp bổ sung dữ liệu vào khoảng trống nghiên cứu thực nghiệm tại địa bàn đô thị lớn của Việt Nam. Về mặt ứng dụng, nghiên cứu chỉ ra những rào cản người dùng quan tâm (bảo mật thông tin, chương trình khuyến mãi) để đưa ra kiến nghị chiến lược cho cơ quan quản lý nhà nước, các sàn TMĐT và các đơn vị trung gian thanh toán.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận ghi nhận các hạn chế cụ thể từ văn bản:

  • Hạn chế về phương pháp chọn mẫu: Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện phi xác suất qua khảo sát trực tuyến trên mạng xã hội, do đó tính đại diện cho toàn bộ tổng thể người tiêu dùng tại Thành phố Hồ Chí Minh chưa cao.
  • Hạn chế về nguồn lực và thời gian: Do giới hạn điều kiện của một khóa luận tốt nghiệp bậc đại học, phạm vi không gian chỉ dừng lại ở Thành phố Hồ Chí Minh và kích thước mẫu dự kiến ở mức 200 phiếu khảo sát.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng phạm vi địa bàn khảo sát sang các tỉnh, thành phố khác hoặc khu vực nông thôn để so sánh sự khác biệt hành vi giữa các vùng địa lý.
  • Áp dụng phương pháp chọn mẫu xác suất với quy mô mẫu lớn hơn nhằm tăng tính khái quát hóa cho mô hình.
  • Đánh giá sâu hơn các nhân tố mới phát sinh từ phân tích EFA (như nhân tố Sự tiện lợi) và các tác động điều tiết của các biến nhân khẩu học.

Giá trị tham khảo

Tài liệu này hữu ích cho các đối tượng học thuật và ứng dụng sau:

  • Sinh viên và học viên chuyên ngành Thương mại điện tử, Hệ thống thông tin quản lý, Kinh tế số và Marketing: Có thể tham khảo phương pháp tiếp cận mô hình TAM, TRA, TPB trong việc nghiên cứu hành vi chấp nhận công nghệ tài chính (FinTech).
  • Người thực hiện đề tài nghiên cứu về thanh toán không dùng tiền mặt: Thang đo 24 biến quan sát tại Bảng 4 là tài liệu tham khảo trực tiếp, đã được kiểm chứng qua phỏng vấn sâu và phân tích độ tin cậy.
  • Các nhà quản trị sàn TMĐT và doanh nghiệp thanh toán điện tử: Tham khảo kết quả khảo sát định tính về mối bận tâm hàng đầu của người tiêu dùng (bảo mật dữ liệu, ưu đãi tài chính) để hoàn thiện giao diện, quy trình giao dịch và các chính sách khuyến mại.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu đề xuất dựa trên các mô hình lý thuyết nền tảng nào? Mô hình nghiên cứu được xây dựng dựa trên ba lý thuyết hành vi nền tảng gồm Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM của Davis, 1985), Thuyết hành động hợp lý (TRA của Fishbein, 1967), Thuyết hành vi dự định (TPB của Ajzen, 1991), kết hợp kế thừa trực tiếp từ nghiên cứu thực nghiệm của Junadi và Sfenrianto (2015) cùng Ardelia Simanjaya (2020).

  2. Kích thước mẫu khảo sát tối thiểu của đề tài được tính toán dựa trên cơ sở nào? Căn cứ theo công thức kinh nghiệm của Hair và cộng sự (1998) dùng cho phân tích nhân tố khám phá (EFA), tỷ lệ số quan sát trên một biến đo lường tối thiểu là 5:1. Với tổng số 24 biến đo lường chính thức, kích thước mẫu tối thiểu cần đạt là 120 mẫu (24 x 5). Để dự trù các phiếu không hợp lệ, tác giả đã lên kế hoạch phát ra 200 phiếu khảo sát.

  3. Nghiên cứu định tính được tiến hành với đối tượng nào và ghi nhận kết quả gì? Nghiên cứu định tính được thực hiện vào tháng 04/2023 thông qua thảo luận tay đôi với 10 người tiêu dùng tại Thành phố Hồ Chí Minh (độ tuổi từ 20 đến 36, gồm sinh viên, nhân viên văn phòng, công chức, kỹ sư, kinh doanh). Kết quả chỉ ra người dùng quan tâm lớn nhất đến các chương trình khuyến mãi và tính bảo mật thông tin cá nhân. Thang đo 24 biến quan sát được giữ nguyên về cấu trúc nhân tố và chỉ điều chỉnh câu chữ cho rõ nghĩa.

  4. Trong quá trình phân tích định lượng ở Chương 4, mô hình nghiên cứu có sự thay đổi nào so với đề xuất ban đầu? Dựa trên kết cấu Bảng 17 ("Thang đo sau khi được điều chỉnh"), Bảng 18 ("Kiểm định độ tin cậy thang đo Sự tiện lợi") và Hình 15 ("Mô hình nghiên cứu sau khi được điều chỉnh"), quá trình phân tích nhân tố khám phá (EFA) đã dẫn đến việc cơ cấu lại các biến quan sát, xuất hiện thêm nhân tố mới là "Sự tiện lợi" tham gia vào mô hình hồi quy.

  5. Những biến nhân khẩu học nào được đưa vào kiểm định sự khác biệt đối với ý định thanh toán trực tuyến? Các biến nhân khẩu học được kiểm định gồm: Giới tính (kiểm định T-Test); Độ tuổi (kiểm định Levene và Welch); Nghề nghiệp, Thu nhập mỗi tháng và Tần suất mua sắm trực tuyến (kiểm định Levene và ANOVA).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Thanh Bình đã giải quyết ba mục tiêu nghiên cứu thông qua việc làm rõ các nhân tố tác động đến ý định thanh toán trực tuyến trên các sàn thương mại điện tử tại Thành phố Hồ Chí Minh. Bằng việc kết hợp cơ sở lý thuyết TAM, TRA, TPB với quy trình nghiên cứu hỗn hợp gồm phỏng vấn sâu 10 cá nhân và khảo sát định lượng xử lý trên SPSS 20, công trình đã kiểm định hệ thống thang đo và mô hình thực nghiệm. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở thực tiễn về nhận thức bảo mật, tính hữu ích và sự tiện lợi, làm căn cứ đề xuất các giải pháp thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt cho các cơ quan quản lý và doanh nghiệp TMĐT.