Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thương mại điện tử trong thị trường nội dung số. Chương 2: Thực trạng thương mại điện tử trong thị trường nội dung số ở Việt Nam giai đoạn 2006 – 2014. Chương 3: Một số gợi ý giải pháp phát triển thương mại điện tử trong thị trường nội dung số ở Việt Nam trong thời gian tới. 6 z CHƢƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THƢƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG THỊ TRƢỜNG NỘI DUNG SỐ 1.1 Thƣơng mại điện tử 1.1 Định nghĩa thƣơng mại điện tử Để hiểu về khái niệm thương mại điện tử, trước hết ta phải có cái nhìn khái quát về định nghĩa thương mại.
Thuật ngữ “Thương mại” được định nghĩa trong “Luật mẫu về thương mại điện tử” của Ủy ban Liên Hợp quốc về Luật Thương mại quốc tế (UNCITRAL), thuật ngữ này được diễn giải theo nghĩa rộng để bao quát các vấn đề phát sinh từ mọi quan hệ mang tính chất thương mại dù có hay không có hợp đồng. Các quan hệ mang tính thương mại bao gồm các giao dịch sau: giao dịch về cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ; thỏa thuận phân phối; đại diện hoặc đại lý thương mại, ủy thác hoa hồng; cho thuê dài hạn; xây dựng các công trình; tư vấn; kỹ thuật công trình; đầu tư; cấp vốn; ngân hàng; bảo hiểm; thỏa thuận khai thác hoặc tô nhượng; liên doanh các hình thức khác về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hóa hay hành khách bằng đường biển, đường không, đường sắt hoặc đường bộ [20]. Xuất phát từ đó, định nghĩa Thương mại điện tử được xây dựng: Theo định nghĩa của Uỷ ban Châu Âu: Thương mại điện tử được hiểu là việc thực hiện hoạt động kinh doanh qua các phương tiện điện tử. Nó dựa trên việc xử lý và truyền dữ liệu điện tử dưới dạng văn bản, âm thanh và hình ảnh.
Thương mại điện tử gồm nhiều hành vi trong đó có hoạt động mua bán hàng hoá và dịch vụ qua phương tiện điện tử, giao nhận các nội dung kỹ thuật số trên mạng, chuyển tiền điện tử, mua bán cổ phiếu điện tử, vận đơn điện tử, đấu giá thương mại, hợp tác thiết kế, tài nguyên mạng, mua sắm công cộng, tiếp thị trực tiếp tới người tiêu dùng và các dịch vụ sau bán hàng. Thương 7 z mại điện tử được thực hiện đối với cả thương mại hàng hoá (ví dụ như hàng tiêu dùng, các thiết bị y tế chuyên dụng) và thương mại dịch vụ (ví dụ như dịch vụ cung cấp thông tin, dịch vụ pháp lý, tài chính); các hoạt động truyền thống (như chăm sóc sức khoẻ giáo dục) và các hoạt động mới (ví dụ như siêu thị nội dung số) [27]. Theo cách hiểu của Việt Nam: Thương mại điện tử là việc tiến hành một phần hay toàn bộ hoạt động thương mại sử dụng thông điệp dữ liệu. Điều này được quy định tại khoản 1, điều 3, Nghị định về hoạt động Thương mại điện tử của Bộ Thương mại trình Chính phủ.
Theo đó, Luật giao dịch điện tử ngày 29/11/2005 đã quy định rõ khái niệm về “Thông điệp dữ liệu” tại khoản 12 điều 4 như sau: “Thông điệp dữ liệu là thông tin được tạo ra, được gửi đi, được nhận và được lưu trữ bằng các phương tiện điện tử”. Cũng tại Luật này tại khoản 10 điều 4 có quy định “Phương tiện điện tử là phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện tử hoặc công nghệ tương tự”. Theo các định nghĩa trên, ta có thể hiểu thương mại điện tử không chỉ là bán hàng trên mạng hay bán hàng trên Internet mà là hình thái hoạt động kinh doanh bằng các phương pháp điện tử. Hoạt động kinh doanh bao gồm tất cả các hoạt động trong kinh doanh như giao dịch, mua bán, thanh toán, đặt hàng, quảng cáo và kể cả giao hàng.
Các phương pháp điện tử ở đây bao gồm việc sử dụng các phương tiện công nghệ điện tử như truyền hình và mạng máy tính, điện thoại (mạng di động). Thương mại điện tử cũng bao hàm cả việc trao đổi thông tin kinh doanh thông qua các phương tiện công nghệ điện tử. Thông tin ở đây không chỉ là những số liệu hay văn bản, tin tức mà nó gồm cả hình ảnh, âm thanh và phim video. Thương mại điện tử ngày nay được biết tới như một phương thức kinh doanh hiệu quả từ khi Internet hình thành và phát triển.
Chính vì vậy, nhiều 8 z người hiểu TMĐT theo nghĩa cụ thể hơn là các giao dịch thương mại, truyền thông, mua sắm qua Internet và mạng nội bộ (ví dụ mạng Intranet của doanh nghiệp).2 Vai trò của thƣơng mại điện tử 1.1 Vai trò với các tổ chức, doanh nghiệp Mở rộng thị trường, kênh bán hàng: thương mại điện tử giúp các tổ chức, doanh nghiệp dễ dàng tìm kiếm, tiếp cận người cung cấp, khách hàng và đối tác trên khắp thế giới thông qua phương tiện chủ yếu là internet với hình thức các website, wapsite, ứng dụng được cài đặt. Từ đó, các tổ chức và doanh nghiệp có thể mở rộng mạng lưới nhà cung cấp, khách hàng; các tổ chức có thể mua mặt hàng đầu vào với giá thấp hơn cùng với việc kinh doanh được nhiều sản phẩm hơn. Quảng bá hình ảnh doanh nghiệp: đây là một xu hướng marketing theo đà phát triển của xã hội khi công nghệ thông tin và các ứng dụng của nó dần đang được phát triển một cách mạnh mẽ. Việc quảng bá hình ảnh qua các website cũng như các công cụ khác giúp khách hàng tra cứu là một trong những hình thức cung cấp thông tin hiện đại và hữu dụng nhất ngày nay.
Việc quảng bá hình ảnh doanh nghiệp thông qua hình thức TMĐT không những tạo được độ phủ rộng mà khả năng thực hiện cũng bao gồm nhiều hình thức lựa chọn phong phú với các hiệu ứng truyền thông đa dạng, đánh thức được đầy đủ giác quan cảm nhận của khách hàng. Giảm chi phí: đặc biệt với việc phát triển hình thức TMĐT, các chi phí chủ yếu sau được giảm thiểu một cách tối đa: Chi phí hành chính (thông qua truyền thông bằng phương tiện điện tử, các tổ chức, doanh nghiệp có thể giảm chi phí giấy tờ, văn bản…); chi phí bán hàng, tiếp thị (hệ thống cửa hàng giới thiệu sản phẩm được thay thế hoặc hỗ trợ bởi các showroom trên mạng - ví dụ ngành sản xuất ô tô Ford Motor tiết kiệm được chi phí hàng tỷ USD từ giảm 9 z chi phí lưu kho). Quảng cáo qua các phương tiện điện tử sẽ có nội dung phong phú, sinh động, tiện lợi và giảm chi phí hơn quảng cáo trên các loại tờ rơi, catalogue… truyền thống. Tăng sự linh hoạt trong giao dịch và hoạt động kinh doanh: Nhờkinh doanh qua hình thức TMĐT, các doanh nghiệp có thêm được mô hình kinh doanh mới với những lợi thế và giá trị mới cho khách hàng: ta có thể nêu 1 số ví dụ như mô hình kinh doanh sản phẩm sách của Amazon.com (nhờ công cụ tìm kiếm, khách hàng có thể tìm kiếm sách theo một đoạn hay một vài trang nội dung thông qua vài lần ấn chuột), mua hàng theo nhóm được giá ưu đãi (còn gọi là mô hình grouppon), hay đấu giá hàng hóa (đặc biệt là những sản phẩm nông sản được đưa ra từ những khoảng cách địa lý cách xa nhau) là những điển hình thành công của phương thức này.
Củng cố quan hệ khách hàng: Xây dựng quan hệ với đối tác TMĐT tạo điều kiện cho việc thiết lập và cùng tham gia vào quá trình thương mại: thông qua người tiêu thụ, doanh nghiệp, các cơ quan Chính phủ có thể liên lạc trực tuyến liên tục với nhau, không còn khoảng cách về địa lý và thời gian; nhờ đó sự hợp tác và sự quản lý đều được tiến hành nhanh chóng một cách liên tục: các bạn hàng mới, các cơ hội kinh doanh mới được phát hiện nhanh chóng trên phạm vi toàn quốc, toàn khu vực, toàn thế giới, và có nhiều cơ hội để lựa chọn hơn. Thông tin đưa đến cho người tiêu dùng dễ dàng: Mọi thông tin trên website như sản phẩm, dịch vụ, giá cả. đều có thể được cập nhật nhanh chóng và kịp thời qua phương tiện điện tử. Tiết kiệm thời gian: đây là một điều quan trọng ở góc độ chiến lược.
Các công việc sự vụ của nhân viên trong tổ chức, các hoạt động bán hàng sẽ được thực hiện trên internet. Thời gian có thể giúp doanh nghiệp nhiều phần tập trung vào nghiên cứu phát triển, sẽ đưa đến những lợi ích to lớn lâu dài. 10 z Công đoạn bán hàng, đặt mua hàng (được gọi là các giao dịch)… thực thi qua trang web chỉ bằng khoảng 0,5 phần nghìn thời gian giao dịch qua bưu điện chuyển phát nhanh. Nhờ các lợi ích trên, chu trình sản xuất (cycle time) được rút ngắn, nhờ đó sản phẩm mới xuất hiện nhanh và càng ngày càng được hoàn thiện hơn.2 Lợi ích với người tiêu dùng Thuận tiện về thời gian và không gian trao đổi thương mại: Thương mại điện tử cho phép khách hàng mua sắm mọi nơi, mọi lúc đối với các cửa hàng trên khắp thế giới.
Thay vì phải đi trực tiếp tới cửa hàng, khách hàng có thể chọn lựa qua website, ứng dụng trên các thiết bị được kết nối internet. Điều này giúp tiết kiệm thời gian đi lại và vận chuyển. Đặc biệt đối với các sản phẩm số hóa được như phim, nhạc, sách, phần mềm. thì thương mại điện tử là hình thức mua sắm thuận tiện, người sử dụng có thể xem tóm tắt nội dung trước khi đưa ra quyết định mua sắm.
Nhiều lựa chọn về sản phẩm và dịch vụ: người mua bán qua mạng có nhiều lựa chọn cho một chủng loại mặt hàng hơn vì họ tiếp cận được nhiều nhà cung cấp. Người tiêu dùng có thể so sánh, đánh giá mặt hàng dễ dàng giữa các nhà cung cấp để tìm ra mặt hàng phù hợp, tiện lợi, tiết kiệm thời gian và chi phí. Hình thành cộng đồng thương mại điện tử: Môi trường kinh doanh TMĐT cho phép mọi người tham gia có thể phối hợp, chia sẻ thông tin và kinh nghiệm hiệu quả và nhanh chóng. Tiết kiệm thời gian và công sức: việc chọn lựa, mua sắm, giao hàng… được thực hiện dễ dàng thông qua Internet sẽ tiết kiệm 1 khoảng thời gian rất lớn về chi chuyển và chọn lựa cho người tiêu dùng.3 Lợi ích đối với xã hội 11 z Nâng cao hiệu quả cạnh tranh: nhiều hàng hóa cùng xuất hiện trên internet từ nhiều nhà cung cấp sẽ tạo áp lực cạnh tranh về chất lượng và ưu đãi về giá cả, tạo sự phát triển trong kinh doanh.
Từ đó góp phần tăng trưởng kinh tế.