Chương 1: NHỮNG CƠ SỞ LÍ THUYẾT 1. Lí thuyết hành động ngôn từ 1. Khái niệm hành động ngôn từ (Speech act) Theo Cao Xuân Hạo, hành động ngôn từ (hành động ngôn trung) là “khi nói ra một câu, ta thực hiện, một hành động nhận định, nghĩa là xác lập một mệnh đề, nhưng đồng thời cũng thực hiện một hành động có mục tiêu giao tế nào đấy” [7; tr. Đỗ Hữu Châu thì cho rằng: “một hành động ngôn từ được thực hiện khi một người nói (hoặc viết) Sp1 nói ra một phát ngôn U cho người nghe (hoặc người đọc) Sp2 trong ngữ cảnh C” [2; tr.
Nguyễn Thiện Giáp nhận định: “hành động ngôn từ là những điều người ta làm thông qua ngôn ngữ” [5; tr. Nguyễn Thị Lương có ý kiến: hành động ngôn từ (hành động nói) là “hành động được thực hiện bằng lời nói để thông qua đó, người nói tác động đến người nghe, làm thay đổi trạng thái vật lí hay tinh thần của người khác. Hay, hành động ngôn ngữ là hoạt động được thực hiện bằng cách nói ra câu nói để thực hiện mục đích/ ý định của người nói” [19; tr. Còn Nguyễn Như Ý đưa ra khái niệm: hành động ngôn từ là “một đoạn lời có mục đích nhất định thực hiện trong những điều kiện nhất định, được tách biệt bằng các phương tiện trên ngữ điệu và hoàn chỉnh thống nhất về mặt cấu âm – âm học mà người nói và người nghe đều có liên hệ với một ý nghĩa như nhau, trong hoàn cảnh giao tiếp nào đó” [34; tr.
Tóm lại: Hành động ngôn từ là một hành động đặc biệt, được thực hiện bằng phương tiện ngôn từ. Vì hành động ngôn từ mang tính chất xã hội cho nên nó có thể làm thay đổi trạng thái tinh thần hay vật lí của người khác thậm chí là chính mình. Các loại hành động ngôn từ Khi phát ngôn thực hiện thì bao giờ cũng xảy ra ba loại hành động lớn: hành động tạo lời, hành động tại lời và hành động qua lời.1 Hành động tạo lời (locutionary act) Đỗ Hữu Châu định nghĩa: Hành động tạo lời “sử dụng các yếu tố của ngôn từ như ngữ âm, từ, các kiểu kết cấu thành câu.để tạo ra một phát ngôn về hình thức và nội dung” [2; tr. Theo Nguyễn Thiện Giáp, hành động tạo lời là “ hành động cơ sở của phát ngôn, là hành động phát ra một câu với ý nghĩa và sở chỉ xác định” [5; tr.
Đỗ Việt Hùng quan niệm : “Hành động tạo lời là hành động sử dụng các yếu tố ngôn từ và các quy tắc của ngôn từ để tạo ra phát ngôn, diễn ngôn với hình thức nhất định và nội dung tương ứng trong một cuộc giao tiếp” [10; tr. Căn cứ nguyên văn của Austin trong cuốn sách How to Do Things with Words, Chim Văn Bé đã diễn giải: “hành động tạo lời hành động sử dụng các phương tiện ngữ âm, từ vựng (và các quy tắc kết hợp có sẵn trong ngôn ngữ) để tạo ra câu / phát ngôn với nội dung ngữ nghĩa và chiếu vật ít nhiều xác định” [1; tr.2 Hành động qua lời (perlocutionary act) Đỗ Hữu Châu cho rằng: hành động qua lời là “hành động “mượn” phương tiện ngôn từ, nói cho đúng hơn là mượn các phát ngôn để gây ra một hiệu quả ngoài ngôn từ nào đó ở người nghe, người nhận hoặc ở chính người nói” [2; tr. Đối với Nguyễn Thiện Giáp, ông cho rằng hành động qua lời là “hành động gây được hiệu quả ở người nghe nhờ phát ra một câu, hiệu quả như thế là chỉ riêng cho hoàn cảnh phát ngôn” [5; tr. Hành động qua lời theo Đỗ Việt Hùng là “hành động phát ra lời nói để nhằm đạt đến một hiệu quả nằm ngoài lời đó, tức mượn phương tiện ngôn từ để gây ra một hiệu quả nào đó ngoài ngôn từ ở các nhân vật giao tiếp” [10; tr.
Theo bản dịch nguyên văn của Chim Văn Bé, hành động qua lời là “hành động mà người nói thực hiện thông qua hành động trong lời , nhằm gây ra những hiệu quả nào đó đối với xúc cảm, suy nghĩ và hành động của người nghe, của chính người nói hay người khác một cách có chủ đích, có mục đích” [1; tr. 9 Hiệu quả của hành động qua lời rất phân tán, không thể tính hết được và nó không thuộc phạm vi nghiên cứu của ngôn từ học. Cho nên, hiệu lực qua lời cũng không phải là đối tượng nghiên cứu của ngữ dụng học.3 Hành động tại lời (hành động ở lời) (illocutionary act) Đỗ Hữu Châu cho rằng: hành động tại lời là hành động “thực hiện ngay khi nói năng” [2; tr. Nguyễn Thiện Giáp đóng góp ý kiến: hành động tại lời “hành động tạo ra một lời tuyên bố, một lời hứa, một lời chào,.khi phát ra một câu nhờ hiệu lực của những quy ước liên quan với nó” [5; tr.
Đỗ Việt Hùng dùng thuật ngữ Hành động ở lời, ông cho rằng: “Hành động ở lời (còn gọi là hành động ngôn trung) là hành động mà người phát thực hiện ngay trong lời nói của mình. Và hành động ở lời tạo ra các hiệu lực ở lời (còn gọi là lực ngôn trung). Hiệu lực ở lời là đối tượng chính của Ngữ dụng học” [10; tr. 44,45] Dịch từ nguyên bản, Chim Văn Bé giải thích: hành động tại lời là hành động được người nói thực hiện “bằng cách nói ra và khi nói ra điều gì đó” [1; tr.
Hành động tại lời là hành động có chủ định (intentional), mang tính quy ước (conventional) và tính định chế (constitutional), mặc dù những quy ước và định chế về việc sử dụng hành động tại lời là bất thành văn, và được mọi người trong một cộng đồng ngôn ngữ tuân thủ không tự giác. Những điểm khác biệt cơ bản của hành động tại lời đối với hành động qua lời: - Thứ nhất, hành động tại lời thực hiện có ý định và bị chi phối bởi những quy ước, thể chế xã hội. - Thứ hai, nó làm thay đổi tư cách pháp nhân của người đối thoại, có nghĩa là đặt người nói và người nghe vào những nghĩa vụ và quyền lợi mới so với tình trạng của họ trước khi thực hiện hành động tại lời. - Thứ ba, hiệu quả của hành động tại lời khá tập trung, có thể xác định được vì nó có đích tương đối rõ ràng.
Cho nên, hiệu lực tại lời chính là đối tượng nghiên cứu của ngữ dụng học. Nói chung, trong ba hành động ngôn từ trên đây, hành động tại lời là quan trọng nhất, vì thế nói đến hành động ngôn từ chính là nói đến hành động tại lời.3 Các dấu hiệu ngôn hành 1.1 Động từ ngôn hành (động từ ngữ vi) (performative verbs) Austin cho rằng một động từ được gọi là động từ ngôn hành khi và chỉ khi, chúng thỏa mãn những điều kiện bắt buộc sau: - Trong phát ngôn, động từ được dùng ngôi thứ nhất (người nói là Sp1). - Thời điểm phát ngôn là hiện tại - Câu được dùng ở thể chủ động (active voice) và thức thực thi (indicative mood). Vậy, động từ ngôn hành là gì? Cao Xuân Hạo quan niệm: động từ ngôn hành (vị từ ngôn hành) là “một vị từ mà khi được dùng trong một điều kiện nhất định thì ngay việc sử dụng nó cũng chính là cái hành động được nó biểu hiện.
Theo Đỗ Hữu Châu, động từ ngôn hành là “những động từ mà khi phát âm chúng ra cùng với biểu thức ngôn hành - những thể thức nói năng đặc trưng cho một hành động tại lời,(có khi không cần biểu thức ngôn hành đi kèm) là người nói thực hiện luôn cái hành vi ở lời do chúng biểu thị” [2; tr. Còn Nguyễn Đức Dân cho rằng: “khi nói xong động từ ngữ vi là hành vi ngôn từ đã được thực hiện còn nội dung của hành vi được thực hiện ở phần tiếp theo sau của động từ đó” [4; tr. Nguyễn Thiện Giáp nhận xét: “động từ ngôn hành là những động từ chỉ những hành động được thực hiện bằng ngôn từ” [5; tr. Nguyễn Thị Lương khái niệm: “động từ ngôn hành là động từ mà khi người nói phát âm động từ thì hành động do động từ đó biểu thị cũng được thực hiện” [19; tr.
Tóm lại: Động từ ngôn hành là động từ khi đưa chúng vào phát ngôn thì người nói đồng thời đã thực hiện cái hành động tại lời do động từ ấy biểu thị. Hay, động từ ngôn hành là động từ có hành động ngôn từ trùng với nó. Chẳng hạn, khi ai đó nói “Con cảm ơn Mẹ !”, thì người ấy đã thực hiện hành động cảm ơn bằng chính động từ ấy. Dựa vào sự vắng mặt hay có mặt động từ ngôn hành mà Austin chia câu/phát ngôn ngôn hành thành hai loại: câu/phát ngôn ngôn hành nguyên cấp (primary 11 performative) hay hàm ẩn (implicit performative) và câu/phát ngôn ngôn hành tường minh (explicit performative).
Câu ngôn hành nguyên cấp là câu không chứa động từ ngôn hành, câu ngôn hành tường minh là câu có động từ ngôn hành làm chính tố của cụm động từ (ngữ vị từ).2 Các từ ngữ chuyên dùng Trong Câu tiếng Việt của Nguyễn Thị Lương có đề cập đến các dấu hiệu đặc thù của các kiểu câu phân theo mục đích nói, qua đó, người nghe có thể nhận biết hành động ngôn từ mà kiểu câu đó biểu thị. Cụ thể: - Câu nghi vấn được nhận diện bởi: + Các đại từ nghi vấn: ai, gì, nào, bao giờ, bao lâu, đâu, như thế nào, ra sao,. + Các cặp phụ từ nghi vấn: đã. + Quan hệ từ lựa chọn: hay + Các tiểu từ tình thái dùng để hỏi: à, ư, nhỉ, chứ, hả,.
+ Khi viết đánh dấu chấm hỏi (?) - Câu cầu khiến thường có các dấu hiệu hình thức: + Các phụ từ mệnh lệnh đứng trước vị tố: hãy, đừng, chớ,. + Các tiểu từ đứng sau vị tố: đi, thôi, nào, với,. + Khi viết đánh dấu chấm than (!) - Câu cảm thán dựa vào: + Các thán từ đứng đầu hoặc cuối câu: a, ôi, ối,. + Các tiểu từ: thay, nhỉ + Các phó từ: quá, ghê, thế, thật,.
+ Khi viết đánh dấu chấm than (!) - Riêng câu trần thuật, khác với câu nghi vấn, câu cầu khiến, câu cảm thán là nó không có những dấu hiệu từ ngữ chuyên dùng. Khi viết đánh dấu chấm cuối câu (.3 Ngữ điệu Trong việc xác định hành động ngôn từ, ngữ điệu giữ vai trò quan trọng. Bởi, cùng một câu có tổ chức ngữ nghĩa và ngữ pháp giống nhau nhưng được phát âm với ngữ điệu khác nhau sẽ hướng đến hành động khác nhau. Chẳng hạn, Chị 12 đẹp lắm! sẽ là một hành động khen, khẳng định nếu ngữ điệu bình thường nhưng sẽ là hành động chê bai, mỉa mai nếu ngữ điệu lên giọng và kéo dài từ sau.