Tổng quan luận án

Cây dưa lê (Cucumis melo L.) thuộc họ bầu bí (Cucurbitaceae), là loại cây ăn quả có giá trị kinh tế cao, thời gian sinh trưởng ngắn (60-65 ngày), thích hợp để bố trí luân canh trên nền đất lúa tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Tuy nhiên, rào cản lớn nhất trong canh tác dưa lê ngoài đồng là bộ rễ mẫn cảm, khả năng chịu ngập úng kém; khi gặp mưa lớn hoặc úng nước trên nền đất lúa, cây dễ bị thối rễ, héo rũ và suy giảm nghiêm trọng về năng suất lẫn chất lượng quả. Các nghiên cứu ghép dưa trước đây tại Việt Nam chủ yếu tập trung vào mục tiêu sinh trưởng, cải thiện năng suất hoặc chống chịu bệnh héo rũ do nấm trong đất, trong khi các dẫn liệu thực nghiệm về việc tuyển chọn gốc ghép chuyên biệt có khả năng chịu ngập úng trên đất lúa còn hạn chế. Nhằm giải quyết khoảng trống này, luận án tiến sĩ chuyên ngành Khoa học cây trồng (mã ngành: 62620110) của nghiên cứu sinh Lê Thị Bảo Châu, thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Trần Thị Ba tại Trường Đại học Cần Thơ (năm 2023), đã tiến hành đề tài: "Nghiên cứu gốc ghép có khả năng chịu úng của dưa lê (Cucumis melo L.) canh tác trên nền đất lúa".

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định cụ thể qua 4 nhiệm vụ:

  1. Xác định khả năng chịu úng của các loại cây họ bầu bí sử dụng làm gốc ghép.
  2. Đánh giá khả năng tương thích của cây dưa lê ghép và sự sinh trưởng, năng suất, chất lượng trái của cây dưa lê ghép.
  3. Xác định khả năng chịu úng của cây dưa lê ghép ở các giai đoạn sinh trưởng khác nhau.
  4. Xác định gốc ghép phù hợp đảm bảo khả năng sinh trưởng, năng suất và chất lượng trái của dưa lê khi canh tác ngoài đồng trên nền đất lúa.

Đối tượng nghiên cứu gồm: ngọn ghép là giống dưa lê F1 Kim Cô Nương (do Công ty giống cây trồng Nông Hữu phân phối, dạng trái hình cầu, vỏ vàng, thịt trắng, độ Brix 15-18%); 10 loại gốc ghép thuộc họ bầu bí gồm Bầu địa phương (BĐP), Bí bung (BB), Bí đao chanh (BĐC), Bí đỏ (BĐ), Dưa gang (DG), Khổ qua rừng (KQR), Mướp hương (MH), Dưa hoàng kim (DHK), Bầu Nhật (BN) và giống hoang dại Bình bát dây (BBD).

Phạm vi nghiên cứu: Đánh giá khả năng tương thích và chịu ngập úng nhân tạo trong điều kiện vườn ươm, nhà màng (trồng trong chậu, túi bầu) và thực nghiệm đồng ruộng trên nền đất lúa tại thành phố Cần Thơ trong giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2021.


Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng thuật hệ thống các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến kỹ thuật ghép rau họ bầu bí và phản ứng sinh lý của cây trồng khi bị ngập úng:

Hướng nghiên cứu quốc tế về ghép cây họ bầu bí và cơ chế chịu ngập: Kỹ thuật ghép thương mại trên cây rau họ bầu bí khởi đầu từ Nhật Bản và Hàn Quốc vào thập niên 1920 đối với dưa hấu nhằm kháng nấm Fusarium (Sakata et al., 2000; Kubota et al., 2008; Lee et al., 2010). Đến nay, việc sử dụng gốc ghép đã mở rộng sang mục tiêu thích nghi với điều kiện bất lợi như hạn, mặn, nhiệt độ khắc nghiệt và ngập úng (Lee and Oda, 2003; Flores et al., 2010). Liao and Lin (1995, 1996) khi ghép khổ qua trên gốc mướp hương đã chứng minh cây ghép duy trì được 60% khả năng hô hấp rễ sau 5 ngày ngập nước; Su et al. (1998) giải thích rễ mướp có khả năng chuyển hóa nhanh tinh bột dự trữ thành đường để cung cấp năng lượng trong điều kiện yếm khí. Về mặt giải phẫu vết ghép, Devi et al. (2020, 2022) chỉ ra rằng ở cây họ bầu bí, tầng sinh mạch và các bó mạch gỗ, libe bắt đầu kết nối từ ngày thứ 11 và hoàn chỉnh sau 25 ngày ghép; tuy nhiên hiện tượng tắc nghẽn ống rây ở vết cắt có thể dẫn đến không tương thích.

Hướng nghiên cứu về cây dưa ghép tại Việt Nam: Nghiên cứu ghép rau bắt đầu triển khai từ năm 1999 tại Viện Nghiên cứu Rau Quả Hà Nội (Lê Thị Thủy, 2000) và Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam (Trần Thị Ba, 2010). Phan Ngọc Nhí và ctv. (2003, 2013) ghép dưa leo lên gốc mướp và bầu cho tỷ lệ sống 78-95%, tăng khả năng chống bệnh héo rũ. Trần Thị Hồng Thơi (2012) ghi nhận ghép dưa lê lên gốc bình bát dây làm tăng chất lượng quả, trong khi ghép lên bí đỏ làm giảm độ Brix. Trần Thị Ba và ctv. (2009, 2016) khảo sát dưa lê ghép gốc bầu Nhật và ngập úng trên khổ qua ghép mướp (cây ghép gốc mướp sống 100% sau 8 ngày ngập). Võ Thị Bích Thủy và ctv. (2018a, 2020) nghiên cứu tổ hợp dưa lê ghép 2 gốc (gốc chính dưa lê, gốc phụ bầu địa phương) giúp tăng năng suất 2,3 lần. Võ Thị Kim Quyên và ctv. (2020) và Lê Thị Kiều Oanh (2021) thử nghiệm dưa lê ghép trên bí đao, dưa gang và dưa Mán cho thấy sự cải thiện về sinh trưởng và độ ổn định của năng suất.

Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn giải quyết: Mặc dù kỹ thuật ghép dưa đã được nghiên cứu, hầu hết các tác giả tập trung vào phòng trừ bệnh nấm trong đất và cải thiện sinh trưởng thông thường. Việc sàng lọc toàn diện hệ thống 10 loại gốc ghép họ bầu bí về khả năng tạo rễ bất định, hình thành mô chuyển khí (aerenchyma), xác định độ tuổi ngọn ghép tối ưu, cũng như đánh giá khả năng duy trì năng suất và độ Brix của dưa lê ghép trong điều kiện úng ngập thực tế trên nền đất lúa Đồng bằng sông Cửu Long vẫn chưa được giải quyết một cách có hệ thống.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên hai nhóm cơ sở lý thuyết chính:

  1. Lý thuyết về sự tiếp hợp mô và tương thích giải phẫu vết ghép: Dựa trên cơ chế tái sinh mô phân sinh tầng phát sinh, hình thành mô sẹo (callus), kết nối cầu tế bào nhu mô và phân hóa thành hệ thống mạch dẫn (xylem, phloem) mới giữa gốc và ngọn ghép (Janick, 1986; Esau, 1979; Phạm Văn Côn, 2009; Kubota and Miles, 2016). Tỷ số tiếp hợp $T = \text{ĐKG}/\text{ĐKN}$ (đường kính gốc ghép / đường kính ngọn ghép) được dùng làm chỉ thị hình thái đánh giá độ tương thích: $T \approx 1$ thể hiện tương thích cân đối; $T > 1$ gây hiện tượng "chân voi" (gốc phình to, cây cằn cỗi); $T < 1$ gây hiện tượng "chân nhang" (ngọn to hơn gốc, dễ gãy đổ).
  2. Lý thuyết về phản ứng sinh lý và thích nghi hình thái thực vật khi ngập úng: Khi đất bị ngập, oxy bị đẩy khỏi các tế bào kẽ đất, độ khuếch tán oxy trong nước giảm 10.000 lần so với không khí (Phạm Phước Nhẫn và Lê Văn Hòa, 2015). Cây phản ứng bằng cách tích tụ ethylene kích thích tạo mô chuyển khí (aerenchyma) và rễ bất định (adventitious roots) ở cổ rễ/thân ngập để lấy oxy từ khí quyển (Armstrong, 1971; Jackson and Drew, 1984; Nguyễn Văn Mã, 2015). Đồng thời, acid abscisic (ABA) kích thích đóng khí khổng để giảm thoát hơi nước và tiêu hao năng lượng.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm nông học định lượng:

  • Bố trí thí nghiệm: Áp dụng khối hoàn toàn ngẫu nhiên (RCBD) đơn yếu tố hoặc thừa số hai nhân tố, lặp lại từ 3 đến 4 lần; dung lượng mẫu từ 15 đến 30 cây/lô thí nghiệm tùy nội dung.
  • Kỹ thuật ghép: Sử dụng phương pháp ghép ghim, ghép nối ống cao su và ghép áp; duy trì buồng thuần dưỡng 48 giờ đầu ở độ ẩm 85-95%, nhiệt độ 25-30°C và cường độ ánh sáng thấp 100-750 lux.
  • Quy trình xử lý úng: Xử lý úng nhân tạo trong chậu/túi bầu (mực nước cao hơn mặt giá thể 2-3 cm); xử lý úng ngoài đồng ruộng đất lúa bằng cách đắp bờ bao, bơm giữ nước ngập mặt liếp theo các thời gian quy định (1, 2, 3, 4 ngày) rồi bơm rút nước.
  • Dụng cụ và thiết bị đo lường:
    • Kính hiển vi quang học quan sát vi phẫu giải phẫu vị trí ghép và mô chuyển khí.
    • Khúc xạ kế quang học Atago đo độ Brix (chất rắn hòa tan tổng số).
    • Máy đo màu Minolta Colorimeter CR-200 xác định màu sắc vỏ quả.
    • Máy đo độ cứng thịt quả Sato (Fruit Pressure Tester FT-327).
    • Thước kẹp điện tử đo đường kính thân gốc và ngọn.
  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu sơ cấp thu thập trực tiếp từ 9 thí nghiệm chuyên sâu được thực hiện từ tháng 4/2017 đến tháng 5/2021 tại Đại học Cần Thơ, Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Cần Thơ và nông hộ tại huyện Phong Điền, TP. Cần Thơ.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Giới thiệu

Chương này xác định tính cấp thiết của việc tìm kiếm gốc ghép họ bầu bí chịu úng cho dưa lê luân canh trên đất lúa, thiết lập 4 mục tiêu nghiên cứu, xác định đối tượng (dưa lê Kim Cô Nương và 10 loại gốc ghép họ bầu bí), nêu ý nghĩa khoa học - thực tiễn và phân kỳ 9 thí nghiệm tương ứng với 4 nội dung nghiên cứu. Đồng thời, chương 1 cũng ghi nhận rõ các giới hạn khách quan trong quá trình triển khai ngoài đồng: Thí nghiệm 8 bị chậm 2 tháng do chuột cắn phá hạt mầm vườn ươm; Thí nghiệm 9 bị chậm hơn 2 tháng do bọ trĩ lây lan từ khu vực lân cận gây bệnh khảm virus nặng giai đoạn mang quả, buộc phải gieo cấy lặp lại toàn bộ.

Chương 2: Tổng quan tài liệu

Tổng quan chi tiết đặc điểm thực vật học của cây dưa lê (rễ, thân bò dài 2-8 m, hoa đơn tính/lưỡng tính nở từ 5-9 giờ sáng, yêu cầu nhiệt độ 25-30°C, pH 6,0-6,8). Trình bày nguồn gốc, phân loại và đặc tính nông học của 10 loại gốc ghép họ bầu bí (BBD, MH, KQR, BĐP, BN, BĐC, BB, BĐ, DHK, DG). Phân tích cơ sở khoa học của ghép mô thực vật, các yếu tố ngoại cảnh (ẩm độ 85-100%, nhiệt độ 25-30°C, ánh sáng che mát 5-7 ngày) tác động đến tỷ lệ lành vết ghép. Tổng hợp cơ chế hình thái, giải phẫu và biến dưỡng của cây trồng trong điều kiện thiếu oxy do ngập úng, cùng các nghiên cứu tiền nghiệm về ghép cây trên thế giới và tại Việt Nam.

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Mô tả chi tiết địa điểm nghiên cứu (phòng thí nghiệm, nhà màng và ruộng thực nghiệm đất lúa tại Phong Điền và ĐH Cần Thơ). Chi tiết hóa vật liệu: giá thể mụn dừa ngâm xả chát 7 ngày; phân bón vô cơ NPK 20-20-15, 16-16-8, $\text{K}_2\text{SO}_4$, phân cá hữu cơ và phân Risopla V. Trình bày quy trình bố trí và chỉ tiêu theo dõi của 9 thí nghiệm:

  • Nội dung 1: Thí nghiệm 1 (khảo sát chịu úng của 10 loại gốc ghép, tháng 4-6/2017).
  • Nội dung 2: Thí nghiệm 2 (khảo sát tương thích 10 tổ hợp ghép, tháng 4-6/2017); Thí nghiệm 3 (khảo sát 4 độ tuổi ngọn ghép 4, 6, 8, 10 ngày, tháng 6/2017); Thí nghiệm 4 & 5 (sinh trưởng, năng suất dưa lê ghép trong nhà màng các vụ tháng 7-10/2018 và tháng 2-5/2019).
  • Nội dung 3: Thí nghiệm 6 (khảo sát chịu úng cây ghép giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng, tháng 3-5/2018); Thí nghiệm 7 (sinh trưởng, năng suất dưa lê ghép xử lý úng trong túi bầu nhà màng, tháng 7-10/2018).
  • Nội dung 4: Thí nghiệm 8 (sinh trưởng, năng suất dưa lê ghép xử lý úng ngoài đồng đất lúa vụ Đông Xuân 2018-2019); Thí nghiệm 9 (ứng dụng dưa lê ghép gốc BĐC và DG ngoài đồng vụ Đông Xuân 2020-2021).

Chương 4: Kết quả và thảo luận

Chương 4 phân tích toàn diện số liệu của 9 thí nghiệm, chia thành 4 nhóm kết quả chính:

1. Khả năng chịu úng của các loại cây họ bầu bí làm gốc ghép (Thí nghiệm 1)

Khi ngập nước liên tục, các loài phản ứng khác nhau rõ rệt. Dưa lê không ghép bị thối rễ và chết nhanh chóng. Cây mướp hương (MH), bình bát dây (BBD) và dưa gang (DG) thể hiện tính chịu úng cao nhất nhờ hình thành mạng lưới rễ bất định dày đặc quanh cổ rễ và các khoang mô chuyển khí (aerenchyma) lớn ở vỏ rễ. Ở thời điểm 8 ngày sau khi ngập (NSKN), tỷ lệ sống của mướp hương, bình bát dây và dưa gang đạt từ 74,6% đến 97,8%.

2. Khả năng tương thích và biểu hiện sinh trưởng của các tổ hợp ghép (Thí nghiệm 2, 3, 4, 5)

  • Tương thích tổ hợp ghép: Dưa lê ghép trên bí đao chanh (DL/BĐC), mướp hương (DL/MH), bí bung (DL/BB) và dưa gang (DL/DG) có tỷ lệ sống sau ghép 10 ngày đạt 88,8 - 91,7%, phẫu diện vết ghép gắn liền hoàn toàn bó mạch. Ngược lại, gốc bình bát dây (DL/BBD) có tỷ lệ chết cao do ngọn phát triển lấn át gốc ($T < 1$, hiện tượng chân nhang), vị trí ghép dễ bị tuột.
  • Độ tuổi ngọn ghép: Ngọn dưa lê 4 ngày tuổi và 6 ngày tuổi đạt tỷ lệ sống cao nhất (lần lượt là 78,5% và 74,6% ở 10 ngày sau ghép). Ngọn 8-10 ngày tuổi thân hóa xơ, vết ghép khó lành, tỷ lệ sống giảm thấp.
  • Năng suất và phẩm chất quả trong nhà màng: Các tổ hợp ghép DL/BĐC, DL/DG, DL/BB và DL/DHK cho khả năng sinh trưởng tương đương hoặc vượt trội đối chứng, duy trì độ ngọt và khối lượng quả cao.
Tổ hợp ghép Năng suất tổng (tấn/ha) Năng suất thương phẩm (tấn/ha) Độ Brix (%)
Dưa lê / Bí đao chanh (DL/BĐC) 26,1 – 29,4 25,8 – 27,1 12,6 – 14,7
Dưa lê / Dưa gang (DL/DG) 26,8 – 28,3 23,9 – 25,9 12,4 – 13,6
Dưa lê / Bí bung (DL/BB) 25,6 – 28,5 24,5 – 25,4 11,8 – 13,6
Dưa lê / Dưa hoàng kim (DL/DHK) 24,8 23,8 14,2

3. Khả năng chịu úng của cây dưa lê ghép trong nhà màng (Thí nghiệm 6, 7)

Ở giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng (TN 6), cây ghép DL/BĐC và DL/MH đạt tỷ lệ sống 75-95% sau 8 ngày ngập; DL/DG đạt tỷ lệ sống 77,5% sau 6 ngày ngập. Khi xử lý úng nhân tạo 4 ngày trong túi bầu giai đoạn mang quả (TN 7), tổ hợp DL/BĐC đạt năng suất 9,4 tấn/ha, DL/DG đạt 7,2 tấn/ha, cao hơn đối chứng không ghép (5,6 tấn/ha).

4. Ứng dụng gốc ghép bí đao chanh và dưa gang ngoài đồng trên nền đất lúa (Thí nghiệm 8, 9)

Ở vụ Đông Xuân 2018-2019, khi gây ngập úng mặt liếp 2 ngày ngoài đồng ruộng đất lúa, cây dưa lê đối chứng không ghép bị thối rễ nghiêm trọng, năng suất chỉ đạt 1,84 tấn/ha. Trong khi đó, các tổ hợp DL/BĐC và DL/DG duy trì sức sống ổn định, cho năng suất đạt 7,58 - 7,60 tấn/ha. Thí nghiệm vụ Đông Xuân 2020-2021 tiếp tục khẳng định hai gốc ghép này giúp cây dưa lê sinh trưởng khỏe, chống chịu tốt điều kiện ẩm ướt của đất lúa và giữ vững các chỉ tiêu thương phẩm (độ dày thịt quả, độ cứng và độ Brix).

Chương 5: Kết luận và đề nghị

Đúc kết toàn bộ các phát hiện kỹ thuật, xác nhận giá trị của gốc bí đao chanh và dưa gang, khuyến nghị quy trình sản xuất cây giống ghép và kiến nghị các giải pháp kiểm soát dịch hại (bọ trĩ, bệnh khảm) khi canh tác ngoài đồng.


Kết quả và những đóng góp mới

Luận án đã đóng góp các cứ liệu khoa học và giá trị thực tiễn mới cho chuyên ngành Khoa học cây trồng:

Đóng góp về mặt khoa học:

  • Cung cấp dẫn liệu thực nghiệm có hệ thống về cơ chế thích nghi giải phẫu học của các loài cây họ bầu bí trong điều kiện ngập úng: xác định mướp hương và bình bát dây duy trì sức sống nhờ khả năng hình thành rễ bất định và các khoang mô chuyển khí (aerenchyma) phát triển mạnh ở vùng cổ rễ.
  • Làm sáng tỏ đặc tính tương hợp mô học giữa ngọn dưa lê (Cucumis melo L.) với các loài gốc ghép họ bầu bí: xác định tổ hợp dưa lê ghép trên bí đao chanh, dưa gang, bí bung có sự liên kết bó mạch vững chắc; trong khi gốc bình bát dây biểu hiện bất tương hợp hình thái ($T < 1$).
  • Xác lập ngưỡng chịu ngập úng của cây dưa lê ghép: cây ghép gốc bí đao chanh và dưa gang duy trì được hoạt động sinh lý và cho quả trong điều kiện úng ngập 2 ngày ngoài đồng đất lúa và úng 4 ngày trong điều kiện túi bầu giá thể.

Đóng góp về mặt thực tiễn:

  • Xác định độ tuổi ngọn ghép tối ưu của giống dưa lê Kim Cô Nương là từ 4 đến 6 ngày tuổi, giúp đạt tỷ lệ sống sau ghép từ 74,6% đến 78,5%.
  • Tuyển chọn thành công 2 loại gốc ghép triển vọng là Bí đao chanh và Dưa gang. Cây dưa lê ghép trên hai loại gốc này canh tác trên nền đất lúa có xử lý úng đạt năng suất 7,58 - 7,60 tấn/ha (vượt trội so với đối chứng 1,84 tấn/ha), độ Brix đạt từ 12,4% đến 14,7%, đáp ứng yêu cầu chất lượng thương phẩm.
  • Mở ra giải pháp kỹ thuật luân canh dưa lê trong mùa mưa hoặc trên các chân ruộng đất lúa thoát nước kém tại Đồng bằng sông Cửu Long.

Kiến nghị đề xuất:

  • Áp dụng gốc bí đao chanh và dưa gang vào quy trình sản xuất giống dưa lê thương phẩm phục vụ canh tác trên nền đất lúa.
  • Hoàn thiện gói kỹ thuật quản lý dịch hại tổng hợp, đặc biệt là biện pháp phòng trừ bọ trĩ truyền bệnh khảm virus ở giai đoạn cây ghép ra hoa mang quả ngoài đồng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án (theo ghi nhận của tác giả):

  • Các thí nghiệm đồng ruộng vụ Thu Đông chịu tác động lớn của điều kiện thời tiết cực đoan, chất lượng nảy mầm hạt giống không đồng đều và chuột gây hại ở vườn ươm (Thí nghiệm 8), làm kéo dài thời gian triển khai thêm 2 tháng.
  • Thí nghiệm 9 tại Trại Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp (ĐH Cần Thơ) bị ảnh hưởng bởi áp lực mật số bọ trĩ lây lan từ thí nghiệm liền kề, gây bệnh khảm virus nặng, dẫn đến thiếu hụt số cây khảo sát và phải bố trí làm lại từ đầu, làm chậm tiến độ hơn 2 tháng.
  • Chưa đi sâu phân tích cơ chế hóa sinh phân tử liên quan đến hoạt tính của các enzyme chống oxy hóa (SOD, POD, CAT) và động thái tích lũy ethylene/ABA trong mô ghép khi bị ngập.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng khảo nghiệm các tổ hợp dưa lê ghép gốc bí đao chanh và dưa gang trên các vùng sinh thái đất lúa khác nhau (đất phèn nhẹ, đất phù sa ven sông) tại các tỉnh ĐBSCL trong mùa mưa.
  • Nghiên cứu bổ sung các giải pháp phân bón qua lá và chất điều hòa sinh trưởng nhằm hỗ trợ cây dưa lê ghép phục hồi nhanh hơn sau khi rút nước ngập úng.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng và tham khảo cho nhiều đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Khoa học cây trồng, Nông học, Rau hoa quả: Tham khảo phương pháp bố trí thí nghiệm cây ghép, kỹ thuật vi phẫu giải phẫu mô sẹo vết ghép và quy trình gây ngập úng nhân tạo có kiểm soát.
  • Giảng viên và cán bộ nghiên cứu: Bổ sung tư liệu thực tế vào các bài giảng về "Kỹ thuật sản xuất giống rau", "Sinh lý tính chống chịu của cây trồng" và "Kỹ thuật canh tác rau họ bầu bí".
  • Cán bộ khuyến nông và nông dân sản xuất rau màu: Áp dụng trực tiếp quy trình chọn ngọn dưa lê 4-6 ngày tuổi ghép trên gốc bí đao chanh hoặc dưa gang để mở rộng diện tích trồng dưa lê trên đất lúa trong mùa mưa, giảm thiểu rủi ro úng ngập.

Câu hỏi thường gặp

1. Những loại cây họ bầu bí nào có khả năng chống chịu úng tốt nhất khi khảo sát làm gốc ghép trong luận án?
Trong 10 loại cây họ bầu bí được khảo sát ở Thí nghiệm 1, mướp hương (Luffa aegyptiaca), bình bát dây (Coccinia cordifolia) và dưa gang (Cucumis melo L.) có khả năng chịu úng tốt nhất. Tại thời điểm 8 ngày sau khi ngập nước liên tục, tỷ lệ sống của 3 loài này đạt từ 74,6% đến 97,8% nhờ sự hình thành rễ bất định và các khoang mô chuyển khí (aerenchyma) ở rễ.

2. Vì sao gốc bình bát dây có tỷ lệ sống cao khi bị úng nhưng không được chọn làm gốc ghép dưa lê thương phẩm?
Mặc dù bình bát dây chịu úng tốt, nhưng khi ghép với ngọn dưa lê, tổ hợp DL/BBD thể hiện tính bất tương thích hình thái: ngọn dưa lê sinh trưởng quá nhanh bao trùm gốc ghép, tỷ số đường kính gốc/ngọn $T < 1$ (hiện tượng chân nhang), diện tích tiếp hợp mô sẹo rất ít, mối ghép dễ bị tuột và cây bị héo rũ, chết dần khi đưa ra trồng.

3. Độ tuổi ngọn ghép dưa lê bao nhiêu ngày là thích hợp nhất cho quá trình ghép?
Kết quả Thí nghiệm 3 xác định ngọn dưa lê ở độ tuổi 4 ngày và 6 ngày cho tỷ lệ sống sau ghép cao nhất (ở thời điểm 10 ngày sau ghép đạt lần lượt 78,5% và 74,6%). Ngọn ở độ tuổi 8-10 ngày thân đã xơ hóa, khả năng hình thành mô sẹo kém, dẫn đến tỷ lệ sống suy giảm.

4. Năng suất của dưa lê ghép gốc bí đao chanh và dưa gang khi bị ngập úng 2 ngày ngoài đồng đất lúa đạt mức bao nhiêu so với cây không ghép?
Ở thí nghiệm ngoài đồng vụ Đông Xuân 2018-2019, khi bị xử lý úng ngập mặt liếp trong 2 ngày, cây dưa lê không ghép (đối chứng) bị thối rễ nặng, năng suất chỉ đạt 1,84 tấn/ha. Trong khi đó, dưa lê ghép gốc bí đao chanh đạt năng suất 7,60 tấn/ha và dưa lê ghép gốc dưa gang đạt 7,58 tấn/ha (cao gấp hơn 4 lần so với đối chứng), phẩm chất quả vẫn duy trì độ Brix từ 12,4% đến 14,7%.

5. Những rủi ro thực tế nào đã làm gián đoạn tiến độ thực nghiệm đồng ruộng của luận án?
Tác giả đã ghi nhận hai sự cố đồng ruộng: Thí nghiệm 8 bị chậm 2 tháng do chuột cắn phá lượng lớn hạt giống và cây mầm tại vườn ươm, buộc phải gieo lại; Thí nghiệm 9 bị chậm hơn 2 tháng do bọ trĩ từ thí nghiệm lân cận tấn công gây bệnh khảm virus nặng ở giai đoạn cây ra quả, làm mất mẫu khảo sát và phải triển khai lại toàn bộ.


Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Lê Thị Bảo Châu đã giải quyết thành công mục tiêu tuyển chọn gốc ghép chịu ngập úng cho dưa lê canh tác trên nền đất lúa vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Nghiên cứu đã xác định ngọn dưa lê 4-6 ngày tuổi ghép trên gốc Bí đao chanh và Dưa gang là hai tổ hợp ghép tối ưu, có tính tương thích giải phẫu cao và khả năng chịu ngập từ 2 ngày ngoài đồng đến 4 ngày trong túi bầu. Kết quả này vừa đóng góp cứ liệu khoa học về cơ chế thích ứng úng ngập ở cây họ bầu bí, vừa cung cấp giải pháp kỹ thuật khả thi giúp nâng cao năng suất, ổn định chất lượng quả dưa lê trong điều kiện canh tác luân canh trên đất lúa thoát nước kém.