Tổng quan nghiên cứu

Thực trạng việc làm và thu nhập của lao động nông thôn tại các vùng miền núi phía Bắc đang là bài toán cấp bách đối với sự phát triển bền vững. Tại huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang, dân số năm 2016 đạt 64.732 người với 92,88% sinh sống tại khu vực nông thôn và tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tới trên 96% toàn huyện. Địa bàn có đường biên giới dài 31,177 km giáp với huyện Mã Quan của Trung Quốc, trải dài qua 4 xã vùng cao đặc biệt khó khăn gồm Nàn Sỉn, Xín Mần, Chí Cà và Pà Vầy Sủ. Tỷ lệ lao động không có việc làm ổn định ở địa phương chiếm trên 60%, trong khi tỷ lệ hộ nghèo đa chiều năm 2015 lên tới 62,22%.

Xuất phát từ thực tiễn trên, công trình tập trung nghiên cứu giải pháp giải quyết việc làm cho lao động dân tộc thiểu số tại huyện Xín Mần. Mục tiêu cụ thể là phân tích thực trạng việc làm, cơ cấu kinh tế và sinh kế của các hộ dân tộc thiểu số giai đoạn 2015 - 2017, nhận diện các yếu tố cản trở cơ hội việc làm, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp khả thi cho giai đoạn 2020 - 2025. Nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở khoa học để chính quyền địa phương thực hiện mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 7% đến 8% mỗi năm và tạo việc làm mới cho ít nhất 1.500 lao động hàng năm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng quan điểm của Tổ chức Lao động Quốc tế được thông qua tại Hội nghị Thống kê Lao động Quốc tế lần thứ 13, kết hợp với Điều 13 Chương II Bộ luật Lao động Việt Nam để định hình khái niệm việc làm: mọi hoạt động lao động tạo ra thu nhập và không bị pháp luật nghiêm cấm đều được thừa nhận là việc làm hợp pháp. Nghiên cứu cũng tích hợp lý thuyết phân công lao động xã hội và khung sinh kế bền vững dành cho khu vực nông thôn miền núi.

Bên cạnh đó, các khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm: lực lượng lao động (dân số từ đủ 15 tuổi trở lên có khả năng và nhu cầu làm việc), tình trạng thiếu việc làm (thời gian làm việc dưới 40 giờ trong tuần tham khảo và có nhu cầu làm thêm), và tỷ suất sử dụng thời gian lao động. Quỹ thời gian lao động chuẩn tại khu vực nông thôn được xác định là 280 ngày làm việc mỗi năm, tương đương 2.240 giờ tiêu chuẩn cho một lao động nông nghiệp.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo thống kê kinh tế - xã hội, niên giám thống kê và số liệu kiểm kê đất đai giai đoạn 2011 - 2017 của Chi cục Thống kê và Ủy ban nhân dân huyện Xín Mần. Dữ liệu sơ cấp được điều tra trực tiếp vào năm 2017 với quy mô mẫu 120 hộ gia đình dân tộc thiểu số tại 30 thôn thuộc 4 xã biên giới: Nàn Sỉn (30 hộ), Chí Cà (32 hộ), Xín Mần (30 hộ) và Pà Vầy Sủ (28 hộ). Cơ cấu mẫu gồm 51 hộ dân tộc Mông (chiếm 42,5%), 32 hộ dân tộc Nùng (chiếm 26,7%), 18 hộ dân tộc Dao (chiếm 15,0%), 12 hộ dân tộc La Chí (chiếm 10,0%) và 7 hộ thuộc các dân tộc khác (chiếm 5,8%).

Phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích được áp dụng nhằm phản ánh chính xác đặc trưng của các nhóm dân tộc cư trú tại các vùng địa hình chia cắt phức tạp, độ dốc lớn từ 300 m đến 2.400 m so với mực nước biển. Phương pháp phân tích dữ liệu bao gồm: thống kê so sánh để chỉ ra sự khác biệt về năng suất, thu nhập giữa các ngành nghề; phân tích ma trận điểm mạnh - điểm yếu - cơ hội - thách thức để đánh giá toàn diện môi trường sinh kế; phương pháp chuyên gia và đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân nhằm định lượng chính xác tỷ suất sử dụng thời gian lao động và nguyên nhân gây thiếu việc làm cục bộ trong mùa nông nhàn.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu làm rõ 4 phát hiện quan trọng về thực trạng lao động và việc làm tại huyện Xín Mần:

Cơ cấu lao động phụ thuộc quá mức vào nông nghiệp truyền thống nhưng tư liệu sản xuất lại vô cùng hạn chế. Trong tổng diện tích tự nhiên 58.702,22 ha của huyện, đất sản xuất nông nghiệp chiếm 26.421,71 ha (tương đương 49,46% đất nông lâm nghiệp). Tuy nhiên, đất trồng lúa nước chỉ đạt 3.075,51 ha, chiếm 14,68% diện tích đất cây hàng năm, trong khi đất trồng cây hàng năm khác chiếm tới 85,32%. Lực lượng lao động trong độ tuổi là 31.608 người (chiếm 48,83% dân số), nhưng có trên 92% tập trung làm nông - lâm nghiệp, khu vực công chỉ tiếp nhận dưới 7%.

Tình trạng thiếu việc làm mùa vụ diễn ra trầm trọng. Do điều kiện khí hậu phân hóa thành mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau với lượng mưa chỉ từ 17,8 mm đến 56,3 mm/tháng, sản xuất nông nghiệp chủ yếu phụ thuộc vào tự nhiên. Tỷ suất sử dụng thời gian lao động nông thôn chỉ đạt mức thấp trong các tháng nông nhàn, khiến trên 60% người lao động không có việc làm ổn định quanh năm.

Chất lượng nguồn nhân lực thấp tạo rào cản chuyển dịch sinh kế. Trên 90% lao động dân tộc thiểu số tại 4 xã biên giới chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật, trình độ học vấn chủ yếu ở bậc tiểu học và trung học cơ sở. Thu nhập bình quân từ trồng trọt chỉ đạt khoảng 41,5 triệu đồng/ha/năm, không đủ bảo đảm trang trải chi phí sinh hoạt gia đình.

Tình trạng di cư lao động tự phát qua biên giới tiềm ẩn nhiều rủi ro. Do thiếu việc làm tại chỗ, hàng trăm lao động đã vượt biên giới 31,177 km sang Trung Quốc làm thuê không có hợp đồng lao động, dẫn đến nguy cơ bị bóc lột, quỵt lương và vi phạm quy chế biên giới. Bên cạnh đó, nguồn vốn tín dụng chính sách từ Quỹ Quốc gia về việc làm mới chỉ đáp ứng được khoảng 30% đến 35% nhu cầu thực tế của các hộ nghèo.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện phản ánh rõ nét mâu thuẫn giữa quy mô lao động dồi dào và năng lực tạo việc làm tại chỗ của một huyện miền núi vùng cao. Nguyên nhân căn bản xuất phát từ điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, địa hình dốc đứng bị chia cắt bởi dãy Tây Côn Lĩnh khiến việc ứng dụng cơ giới hóa gặp nhiều trở ngại. Quy mô canh tác manh mún làm giảm hiệu quả tích lũy vốn nội tại của hộ gia đình.

Để làm rõ mối tương quan giữa trình độ văn hóa, mức độ tiếp cận thông tin và thu nhập, dữ liệu phân tích có thể được mô hình hóa trực quan thông qua bảng so sánh cơ cấu thu nhập theo ngày công lao động và biểu đồ cột thể hiện tỷ suất sử dụng thời gian của từng nhóm dân tộc. Biểu đồ này chỉ rõ nhóm lao động dân tộc Mông và La Chí ở vùng cao có số ngày làm việc thực tế trong năm thấp hơn đáng kể so với mức chuẩn 280 ngày/năm.

So sánh với các nghiên cứu thực hiện tại huyện Tủa Chùa (tỉnh Điện Biên) và huyện Lâm Bình (tỉnh Tuyên Quang), bức tranh việc làm tại Xín Mần có nét tương đồng về điểm xuất phát thấp và tỷ lệ nghèo cao trên 50%. Tuy nhiên, Xín Mần chịu thêm áp lực lớn từ thị trường lao động phi chính thức phía bên kia biên giới, đòi hỏi chính quyền phải xây dựng các kênh giải quyết việc làm chính ngạch và an toàn hơn.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giải quyết căn bản bài toán việc làm cho lao động dân tộc thiểu số huyện Xín Mần giai đoạn 2020 - 2025, bốn nhóm giải pháp hành động được đề xuất:

Tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa chuyên canh: Đẩy nhanh tiến độ dồn điền đổi thửa, chuyển đổi diện tích nương rẫy kém hiệu quả sang phát triển các cây trồng có giá trị cao như chè Shan tuyết, dược liệu bản địa, cây ăn quả ôn đới và vùng lúa chất lượng cao Già Dui. Kết hợp mở rộng quy mô kinh tế gia trại chăn nuôi đại gia súc (trâu, bò thịt, dê núi) gắn với trồng cỏ. Mục tiêu nâng giá trị thu hoạch bình quân lên 45 - 50 triệu đồng/ha/năm trước năm 2025. Cơ quan chủ trì thực hiện là Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp cùng Ủy ban nhân dân 18 xã, thị trấn.

Mở rộng nguồn vốn tín dụng và đổi mới phương thức hỗ trợ sản xuất: Đề nghị Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Xín Mần tăng quy mô Quỹ Quốc gia về việc làm, phấn đấu đáp ứng 70% nhu cầu vay vốn của các hộ nghèo và cận nghèo giai đoạn 2020 - 2025. Áp dụng hình thức cho vay vốn theo chu kỳ khép kín, phân kỳ nhiều đợt nhỏ gắn với chuyển giao kỹ thuật của cán bộ khuyến nông trực tiếp tại thôn bản, tránh tình trạng sử dụng vốn sai mục đích.

Đổi mới công tác đào tạo nghề gắn với nhu cầu thị trường: Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện cần phối hợp với các tổ chức chính trị - xã hội tổ chức từ 20 đến 30 lớp dạy nghề ngắn hạn mỗi năm cho khoảng 1.000 đến 1.200 lao động nông thôn. Tập trung đào tạo các nghề chế biến nông lâm sản, kỹ thuật thú y, sửa chữa cơ khí nhỏ và dệt thổ cẩm truyền thống, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo của huyện lên trên 35% vào năm 2025.

Đẩy mạnh kết nối cung - cầu lao động ngoài địa phương và quản lý lao động qua biên giới: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện thiết lập liên kết chặt chẽ với các doanh nghiệp, khu công nghiệp tại các tỉnh đồng bằng để giới thiệu việc làm cho 500 đến 700 lao động mỗi năm. Đồng thời, phối hợp với Bộ đội Biên phòng và chính quyền đối đẳng phía Trung Quốc hoàn thiện cơ chế quản lý lao động qua biên giới theo hiệp định hợp tác lao động hợp pháp, giảm thiểu tình trạng xuất cảnh trái phép.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và hệ thống dữ liệu của luận văn mang lại giá trị thiết thực cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

Cán bộ quản lý Nhà nước và cơ quan hoạch định chính sách tại địa phương: Lãnh đạo Ủy ban nhân dân, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Phòng Dân tộc huyện Xín Mần và các huyện miền núi có thể sử dụng các chỉ số trong luận văn làm căn cứ xây dựng kế hoạch đào tạo nghề và phân bổ ngân sách giảm nghèo bền vững.

Học viên cao học, giảng viên và nhà nghiên cứu chuyên ngành Phát triển nông thôn, Kinh tế nông nghiệp: Cung cấp khung phương pháp luận tiếp cận đánh giá việc làm thông qua chỉ tiêu tỷ suất thời gian lao động (chuẩn 280 ngày) và bộ công cụ điều tra thực địa 120 hộ dân tộc thiểu số vùng cao biên giới.

Các tổ chức phi chính phủ và ban quản lý dự án phát triển cộng đồng: Dữ liệu về điều kiện tự nhiên, tập quán canh tác của 15 dân tộc trên địa bàn là tài liệu tham khảo giá trị để thiết kế các can thiệp sinh kế, hỗ trợ vốn xoay vòng và nâng cao năng lực cho phụ nữ dân tộc thiểu số.

Lãnh đạo các Hợp tác xã và doanh nghiệp nông nghiệp: Nắm bắt bức tranh nguồn nhân lực địa phương để xây dựng chuỗi liên kết sản xuất bao tiêu nông sản như gạo Già Dui, chè Shan tuyết và dược liệu, tận dụng hiệu quả nguồn lao động dồi dào tại chỗ.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân chính dẫn đến tỷ lệ thiếu việc làm trên 60% tại huyện Xín Mần là gì? Tình trạng này bắt nguồn từ tính chất thời vụ gay gắt trong sản xuất nông nghiệp, trong khi trên 92% lao động làm nghề nông. Mùa khô kéo dài 6 tháng làm giảm khả năng thâm canh, trong khi ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp tại chỗ còn kém phát triển, chưa thể hấp thu lực lượng lao động dôi dư trong thời gian nông nhàn.

Mẫu khảo sát 120 hộ tại 4 xã biên giới mang tính đại diện như thế nào? Mẫu nghiên cứu bao quát 4 dân tộc thiểu số chiếm trên 80% dân số toàn huyện gồm Mông (42,5%), Nùng (26,7%), Dao (15,0%) và La Chí (10,0%). Cả 4 xã Nàn Sỉn, Chí Cà, Xín Mần, Pà Vầy Sủ đều mang đặc trưng tiêu biểu về địa hình dốc, khó khăn về nước tưới và chịu áp lực di cư lao động biên giới.

Hạn chế lớn nhất của nguồn vốn tín dụng giải quyết việc làm tại địa phương là gì? Hạn chế lớn nhất là nguồn vốn từ Quỹ Quốc gia về việc làm mới chỉ đáp ứng 30% đến 35% nhu cầu thực tế của người dân. Hơn nữa, trên 60% dự án vay vốn tập trung vào nông nghiệp truyền thống, tỷ lệ cơ sở sản xuất kinh doanh tiếp cận vốn chỉ dưới 10%, làm giảm khả năng tạo việc làm mới bền vững.

Đâu là mô hình sinh kế nông nghiệp mang lại hiệu quả cao nhất cho vùng cao Xín Mần? Mô hình kết hợp trồng cây đặc sản giá trị cao (chè Shan tuyết, thảo quả, cây ăn quả ôn đới, gạo Già Dui) với phát triển chăn nuôi bò thịt, dê núi nhốt chuồng. Mô hình này giúp khai thác tốt lợi thế đất đồi dốc và khí hậu cận nhiệt đới, nâng giá trị sản xuất lên trên 45 triệu đồng/ha.

Làm thế nào để hạn chế tình trạng lao động vượt biên trái phép sang Trung Quốc tìm việc? Cần thực hiện đồng bộ hai nhóm giải pháp: một mặt kết nối doanh nghiệp đưa lao động vào làm việc tại các khu công nghiệp nội địa với thu nhập ổn định; mặt khác đẩy mạnh triển khai thỏa thuận hợp tác quản lý lao động qua biên giới chính ngạch, đảm bảo hợp đồng pháp lý và quyền lợi cho người lao động.

Kết luận

Luận văn đã làm sáng tỏ bức tranh toàn diện về thị trường lao động nông thôn vùng biên giới thông qua 5 kết luận then chốt:

  • Lao động dân tộc thiểu số huyện Xín Mần rất dồi dào với 31.608 người trong độ tuổi lao động, nhưng chất lượng tay nghề còn thấp và trên 92% phụ thuộc vào nông nghiệp.
  • Hiện tượng thiếu việc làm mùa vụ diễn ra phổ biến với trên 60% lao động không có việc làm ổn định, tỷ suất sử dụng thời gian lao động trong mùa khô đạt mức rất thấp.
  • Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng nhưng còn chậm, tỷ trọng nông lâm nghiệp năm 2017 vẫn chiếm 45,3%, đất trồng lúa nước chỉ đạt 3.075,51 ha.
  • Dòng di cư lao động tự do qua 31,177 km đường biên giới sang Trung Quốc phản ánh nhu cầu bức thiết về sinh kế nhưng tiềm ẩn nhiều rủi ro an ninh xã hội.
  • Hệ thống giải pháp đồng bộ về dồn điền đổi thửa, tín dụng phân kỳ, đào tạo nghề thực hành và liên kết khu công nghiệp là chìa khóa then chốt cho giai đoạn 2020 - 2025.

Đóng góp lớn nhất của nghiên cứu là xây dựng luận cứ khoa học và thực tiễn vững chắc giúp chính quyền huyện Xín Mần hoàn thiện chính sách đào tạo nghề và phân bổ nguồn lực giảm nghèo đa chiều. Các cơ quan quản lý và các tổ chức phát triển nông thôn cần khẩn trương đưa các khuyến nghị của luận văn vào chương trình hành động thực tế nhằm tạo việc làm bền vững, nâng cao thu nhập và giữ vững an ninh biên giới quốc gia.