Chương 1: Cơ sở lý luận về giá trị thương hiệu Chƣơng này bao gồm tổng hợp cơ sở lý luận giá trị thƣơng hiệu dựa Luan van 4 vào khách hàng. Chương 2: Thiết kế nghiên cứu Chƣơng này trình bày về bối cảnh nghiên cứu, mô hình nghiên cứu đề xuất và thiết kế nghiên cứu. Chương 3: Kết quả nghiên cứu Chƣơng này trình bày về những kết quả nghiên cứu chính dựa trên dữ liệu phân tích. Chương 4: Bình luận kết quả nghiên cứu và hàm ý chính sách Chƣơng này trình bày kết luận của nghiên cứu, một số hàm ý chính sách cho các nhà quản trị kinh doanh.
Tổng qu n tà l ệu ng ên ứu Để nghiên cứu đề tài này, tác giả đã tham khảo một số tài liệu và nghiên cứu sau: (1) Trong bài báo của mình với tựa đề “Consumer-based brand equity: improving the measurement – empirical evidence” (tạm dịch: Giá trị thương hiệu dựa vào khách hàng: Dần hoàn thiện sự đo lường thông qua khảo sát thực tế) đăng trên tạp chí The Journal of Product and Brand Management vào năm 2005, nhóm tác giả Pappu, Quester & Cooksey (2005) đã trình bày các kết quả của việc kiểm định mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành giá trị thƣơng hiệu của David Aaker (1991) trong thị trƣờng ô tô và ti vi tại Úc. Về phƣơng pháp nghiên cứu, nhóm tác giả sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu định lƣợng. Nghiên cứu định lƣợng đƣợc thực hiện bằng phƣơng pháp phỏng vấn trực tiếp khách hàng đang sinh sống tại Úc. Số lƣợng câu trả lời hợp lệ đƣợc dùng cho nghiên cứu này là 539 (254 cho xe ô tô và 285 cho tivi màu).
Trong nghiên cứu này, kỹ thuật phân tích nhân tố khẳng định CFA đƣợc áp dụng. Về kết quả kết quả kiểm định cho thấy mô hình của từng thƣơng hiệu Luan van 5 có giá trị thống kê Chi-bình phƣơng khác nhau nhƣng đều có 60 bậc tự do (p =. Chi-bình phƣơng tƣơng đối theo bậc tự do CMIN/df của các mô hình cho từng thƣơng hiệu ở khoảng 3. Tuy vậy, các chỉ tiêu đánh giá mức phù hợp khác đều đạt yêu cầu (TLI > 0.
Hay nói cách khác, các mô hình này thích hợp với dữ liệu thu thập từ thị trƣờng Về mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành thƣơng hiệu, kết quả cho thấy dù là sản phẩm hay thƣơng hiệu nào thì giữa các yếu tố cấu thành thƣơng hiệu dựa vào khách hàng đều có mối quan hệ trực tiếp và tích cực với nhau. (2) Trong bài báo với tựa đề “A cross-national validation of the customer based brand equity scale” (tạm dịch: Đo lường giá trị thương hiêu dựa vào khách hàng ở những quốc gia khác nhau) đƣợc đăng trên tạp chí Journal of Product & Brand Management vào năm 2008, nhóm tác giả Buil, De chernatony & Martinez (2008) đã kiểm định mô hình giá trị thƣơng hiệu dựa vào khách hàng tại hai quốc gia là Anh và Tây Ban Nha. Về cơ sở lý luận, nhóm tác giả sử dụng mô hình các yếu tố tạo thành giá trị thƣơng hiệu của Aaker (1991). Tuy vậy, họ chia liên tƣởng thƣơng hiệu thành ba yếu tố nhỏ gồm: giá trị cảm nhận (perceived value), tính cách thƣơng hiệu (brand personality) và tính tổ chức của thƣơng hiệu (organizational associations).
Về phƣơng pháp nghiên cứu, Buil & ctg (2008) sử dụng phƣơng pháp định lƣợng với kỹ thuật thu thập thông tin trực tiếp bằng phỏng vấn khách hàng tại hai quốc gia Anh và Tây Ban Nha. Số lƣợng phiếu điều tra đƣợc trả lời chính xác và đầy đủ các câu hỏi sau khi thu thập là 411 bảng cho mỗi quốc gia. Sản phẩm đƣợc chọn nghiên cứu là nƣớc giải khát (Coca-cola và Pepsi), trang phục thể thao (Nike và Adidas) và hàng điện tử (Sony và Panasonic). Trong nghiên cứu này, phƣơng pháp hệ số tin cậy Cronbach alpha, phƣơng pháp phân tích yếu tố khám phá EFA và phƣơng pháp phân tích nhân tố Luan van 6 khẳng định CFA đƣợc sử dụng.
Kết quả mô hình nghiên cứu tại Anh có 155 bậc tự do với giá trị thống kê Chi-bình phƣơng là 407. Tuy vậy, các chỉ tiêu đánh giá mức phù hợp khác đều đạt yêu cầu (IFI > 0. Do đó, mô hình này thích hợp với dữ liệu thu thập từ thị trƣờng Anh. Kết quả tại thị trƣờng Tây Ban Nha, mô hình có 155 bậc tự do với giá trị thống kê chi bình phƣơng 415.000) và các chỉ tiêu đánh giá mức phù hợp khác đều đạt yêu cầu (IFI > 0.
Do đó, mô hình này cũng phù hợp tại thị trƣờng Tây Ban Nha. Hay nói cách khác, mô hình giá trị thƣơng hiệu dựa vào khách hàng với bốn yếu tố cấu thành của Aaker (1991) phù hợp với cả hai thị trƣờng Anh và Tây Ban Nha. (3) Trong bài báo của mình với tựa đề “Measuring customer based brand equity: empirical evidence from the sportwear market in China” (tạm dịch: Đo lường giá trị thương hiêu dựa vào khách hàng: Cuộc khảo sát tại thị trường trang phục thể thao Trung Quốc) đăng vào năm 2009 trên tạp chí Journal of Product Brand Management, hai tác giả Tong & Hawley (2009) đã trình bày các kết quả của việc kiểm định mô hình giá trị thƣơng hiệu dựa vào khách hàng của David Aaker (1991) trong thị trƣờng trang phục thể thao Trung Quốc. Về kết quả nghiên cứu, kết quả chỉ ra rằng mô hình nghiên cứu này đạt mức thích hợp với dữ liệu thị trƣờng với ((χ2)/df = 2.
Tuy vậy, trong thịtrƣờng trang phục thể thao Trung Quốc chỉ hai yếu tố là liên tƣởng thƣơng hiệu (ß = 0.94) và trung thành thƣơng hiệu (ß = 0.88) có ảnh hƣởng trực tiếp, tích cực đến toàn bộ giá trị thƣơng hiệu dựa vào khách hàng. Ngƣợc lại, chất lƣợng cảm nhận (ß = -0.83) và nhận biết về thƣơng Luan van 7 hiệu (ß = 0.77) lại không ảnh hƣởng trực tiếp, tích cực đến toàn bộ giá trị thƣơng hiệu dựa vào khách hàng. (4) Với bài báo tựa đề “Linking customer based brand equity with brand market performance: a managerial approach” (tạm dịch: Kết nối giá trị thương hiệu dựa vào khách hàng với hiệu quả của thương hiệu trên thị trường: sự tiếp cận quản lý) đăng trên tạp chí Journal of Product & Brand Management vào năm 2009, hai tác giả Tolba & Hassan (2009) đã trình bày các kết quả của việc kiểm định mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành giá trị thƣơng hiệu với hành vi khách hàng và hiệu quả của thƣơng hiệu trên thị trƣờng (thị phần) trong thị trƣờng ô tô Hoa Kỳ. Về cơ sở lý luận chính, dựa trên khái niệm và các yếu tố cấu thành giá trị thƣơng hiệu của những nhà nghiên cứu trƣớc đây, nhóm tác giả đƣa ra mô hình giá trị thƣơng hiệu dựa vào khách hàng gồm 3 thành phần chính: giá trị kiến thức (knowledge equity), giá trị thái độ (attitudinal equity) và giá trị quan hệ (relationship equity).
Về phƣơng pháp nghiên cứu, Tolba & Hassan (2009) đã sử dụng phƣơng pháp định lƣợng với kỹ thuật thu thập thông qua internet (Zoomerang’s survey). Nhóm sản phẩm đƣợc chọn là ô tô. Mẫu điều tra là 5,598 khách hàng đang sinh sống tại Hoa Kỳ đƣợc chia làm 3 nhóm: nhóm chƣa bao giờ thử, nhóm đã sử dụng và nhóm khách hàng là chủ sở hữu. Phƣơng pháp hệ số tin cậy Cronbach alpha, phƣơng pháp phân tích nhân tố khám phá EFA và phƣơng pháp phân tích nhân tố khẳng định CFA đƣợc dùng để khẳng định lại các thành phần và độ tin cậy của các thang đo.
Cuối cùng, phƣơng pháp phân tích cấu trúc tuyến tính SEM để kiểm định mô hình. Về kết quả nghiên cứu chính, các giả thuyết mà nhóm tác giả đƣa ra có kết quả khác nhau ở các nhóm khách hàng. Tuy vậy, ở nhóm khách hàng là những ngƣời đã chạy thử hoặc chủ sở hữu thì yếu tố lòng trung thành đều có Luan van 8 ảnh hƣởng trực tiếp, tích cực đến sự yêu thích thƣơng hiệu và quyết định mua của khách hàng. (5) Bài báo với tựa đề “Exploring customer-based airline brand equity: Evidence from Taiwan” (tạm dịch: Khám phá giá trị thương hiệu dựa vào khách hàng trong ngành hàng không: Cuộc điều tra tại Đài Loan) đăng vào năm 2010 trên tạp chí Transportation Journal, hai tác giả Chen & Tseng (2010) đã nghiên cứu và trình bày kết quả về giá mối quan hệ lẫn nhau giữa các thành phần tạo nên giá trị thƣơng hiệu và sự tác động của các thành phần này lên toàn bộ giá trị thƣơng hiệu trong thị trƣờng hàng không Đài Loan.
Về cơ sở lý luận, nhóm tác giả tách giá trị thƣơng hiệu dựa vào khách hàng thành 4 yếu tố. Trong đó, có 3 yếu tố thuộc về nhận thức khách hàng là chất lƣợng cảm nhận, nhận biết thƣơng hiệu, hình ảnh thƣơng hiệu và một yếu tố thuộc về quan điểm của khách hàng hƣớng đến thƣơng hiệu đó là trung thành thƣơng hiệu. Về phƣơng pháp nghiên cứu, Chen & Tseng (2010) đã sử dụng phƣơng pháp định lƣợng với kỹ thuật thu thập thông tin trực tiếp bằng phỏng vấn các hành khách ngƣời Đài Loan với mẫu điều tra là 249 khách hàng tại sân bay quốc tế Taoyuan - Đài Loan vào tháng 2 năm 2008. Trong nghiên cứu này, phƣơng pháp hệ số Cronbach alpha, phƣơng pháp phân tích nhân tố khẳng định CFA và phƣơng pháp phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính SEM đƣợc các tác giả áp dụng.
Về kết quả nghiên cứu chính, kết quả cho thấy rằng các nhân tố cấu thành giá trị thƣơng hiệu dựa vào khách hàng trong ngành hàng không có mối quan hệ với nhau dù độ mạnh giữa các mối quan hệ này là mạnh yếu khác nhau. Đối với sự tác động của các yếu tố này đến toàn bộ giá trị thƣơng hiệu, chỉ có trung thành thƣơng hiệu có tác động trực tiếp, tích cực đến toàn bộ giá trị thƣơng hiệu. Ngƣợc lại, chất lƣợng cảm nhận và hình ảnh thƣơng hiệu lại Luan van 9 không có sự ảnh hƣởng trực tiếp, tích cực đến toàn bộ giá trị thƣơng hiệu. (6) Trong bài báo với tựa đề “Measuring customer based brand equity” (tạm dịch: Đo lường giá trị thương hiêu dựa vào khách hàng) đƣợc đăng trên tạp chí Journal of Consumer Marketing Management vào năm 1995, nhóm tác Lassar, Mital & Sharma (1995) đã đƣa ra mô hình nghiên cứu giá trị thƣơng hiệu dựa vào khách hàng và đo lƣờng nó trong thị trƣờng đồng hồ và ti vi Hoa Kỳ.
Tiếp theo, tác giả đánh giá sự liên quan giữa giá trị thƣơng hiệu với giá bán trên thị trƣờng.