Nghiên cứu giá trị của sinh thiết màng phổi trong tràn dịch màng phổi dịch ít

Tài liệu nghiên cứu Nghiên cứu giá trị của kỹ thuật sinh thiết màng phổi bằng kim castelain trong tràn dịch màng phổi, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Bệnh viện Bạch Mai

Chuyên ngành

Y học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

đề tài nghiên cứu

2023

100
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Tràn dịch màng phổi và nguyên nhân gây tràn dịch màng phổi

1.1.1. Hội chứng tràn dịch màng phổi

1.1.2. Phân loại mức độ tràn dịch màng phổi

1.1.3. Các nguyên nhân tràn dịch màng phổi

1.2. Phương pháp STMP kín trong chẩn đoán nguyên nhân tràn dịch màng phổi

1.2.1. Lịch sử sinh thiết màng phổi

1.2.2. Các loại kim sinh thiết

1.2.3. Cải tiến kim sinh thiết

1.2.4. Tình hình nghiên cứu sinh thiết màng phổi trên thế giới

1.2.5. Sự ứng dụng hình ảnh học vào kỹ thuật sinh thiết màng phổi

1.2.6. Tình hình nghiên cứu về STMP ở Việt Nam

1.2.6.1. Tại các tỉnh phía Bắc
1.2.6.2. Tại các tỉnh phía Nam

1.3. Các phương pháp chẩn đoán nguyên nhân tràn dịch màng phổi

1.3.1. Lâm sàng

1.3.1.1. Triệu chứng cơ năng
1.3.1.2. Triệu chứng toàn thân
1.3.1.3. Triệu chứng thực thể

1.3.2. Chọc dò màng phổi

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về giá trị sinh thiết màng phổi bằng kim Castelain

Sinh thiết màng phổi (STMP) bằng kim Castelain là một phương pháp quan trọng trong chẩn đoán nguyên nhân của tràn dịch màng phổi (TDMP) dịch ít. Phương pháp này giúp lấy mẫu mô từ màng phổi để phân tích mô bệnh học, từ đó xác định nguyên nhân gây bệnh. Theo nghiên cứu, STMP kín có độ nhạy và độ đặc hiệu cao, đặc biệt trong các trường hợp TDMP do lao và ung thư. Việc áp dụng kỹ thuật này không chỉ giúp chẩn đoán chính xác mà còn giảm thiểu rủi ro cho bệnh nhân.

1.1. Đặc điểm lâm sàng của tràn dịch màng phổi dịch ít

Tràn dịch màng phổi dịch ít thường khó chẩn đoán hơn so với dịch nhiều. Các triệu chứng lâm sàng như khó thở, đau ngực và ho có thể không rõ ràng. Theo nghiên cứu của Ngô Quý Châu, tỷ lệ TDMP dịch ít chiếm khoảng 6% tại bệnh viện Bạch Mai. Việc nhận diện sớm các triệu chứng này là rất quan trọng để có phương pháp điều trị kịp thời.

1.2. Tình hình nghiên cứu về STMP tại Việt Nam

Nghiên cứu về STMP tại Việt Nam đã cho thấy hiệu quả cao trong chẩn đoán nguyên nhân TDMP. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng tỷ lệ chẩn đoán dương tính của STMP bằng kim Castelain đạt tới 90% trong các trường hợp TDMP do lao. Điều này cho thấy giá trị thực tiễn của phương pháp này trong điều kiện lâm sàng tại Việt Nam.

II. Thách thức trong chẩn đoán nguyên nhân tràn dịch màng phổi

Chẩn đoán nguyên nhân của TDMP dịch ít gặp nhiều khó khăn do lượng dịch không đủ để thực hiện các xét nghiệm truyền thống. Theo Nick A Maskell, khoảng 15% trường hợp TDMP không xác định được nguyên nhân. Việc chờ đợi dịch nhiều lên để sinh thiết không phải là giải pháp tối ưu, vì tổn thương mô có thể thay đổi nhanh chóng.

2.1. Những khó khăn trong việc chẩn đoán

Việc chẩn đoán nguyên nhân TDMP dịch ít thường gặp khó khăn do thiếu thông tin từ các xét nghiệm. Các phương pháp như nội soi màng phổi có thể không khả thi trong trường hợp này. Do đó, cần có các phương pháp chẩn đoán hiệu quả hơn để xác định nguyên nhân sớm.

2.2. Giải pháp cải thiện chẩn đoán

Sử dụng STMP kín bằng kim Castelain là một giải pháp hiệu quả để lấy mẫu mô từ màng phổi. Phương pháp này giúp tăng cường khả năng chẩn đoán và giảm thiểu rủi ro cho bệnh nhân. Nghiên cứu cho thấy STMP có thể đạt độ nhạy lên tới 90% khi kết hợp với các phương pháp chẩn đoán hình ảnh.

III. Phương pháp sinh thiết màng phổi bằng kim Castelain

Kỹ thuật sinh thiết màng phổi bằng kim Castelain được đánh giá cao nhờ vào đường kính nhỏ và khả năng lấy được nhiều mẫu mô từ một vị trí chọc. Phương pháp này đã được cải tiến qua nhiều năm và hiện nay được sử dụng rộng rãi trong chẩn đoán TDMP. Theo nghiên cứu, STMP kín có thể đạt hiệu quả chẩn đoán cao trong các trường hợp TDMP do lao và ung thư.

3.1. Cách thực hiện sinh thiết màng phổi

Quy trình thực hiện STMP kín bao gồm việc chọc kim qua thành ngực vào khoang màng phổi để lấy mẫu mô. Kỹ thuật này yêu cầu sự chính xác và kinh nghiệm của bác sĩ để đảm bảo an toàn cho bệnh nhân. Việc sử dụng hình ảnh học như siêu âm giúp định vị chính xác vị trí chọc.

3.2. Đánh giá hiệu quả của phương pháp

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng STMP kín bằng kim Castelain có độ nhạy cao trong chẩn đoán nguyên nhân TDMP. Theo Mungall, tỷ lệ chẩn đoán đạt 88% trong trường hợp TDMP do lao. Điều này cho thấy giá trị của phương pháp này trong việc xác định nguyên nhân bệnh lý.

IV. Ứng dụng thực tiễn của sinh thiết màng phổi trong chẩn đoán

Sinh thiết màng phổi bằng kim Castelain đã được áp dụng rộng rãi trong chẩn đoán nguyên nhân TDMP tại nhiều bệnh viện. Kết quả nghiên cứu cho thấy phương pháp này không chỉ giúp xác định nguyên nhân mà còn hỗ trợ trong việc lập kế hoạch điều trị cho bệnh nhân. Việc kết hợp với các phương pháp chẩn đoán hình ảnh đã nâng cao hiệu quả chẩn đoán.

4.1. Kết quả nghiên cứu tại bệnh viện Bạch Mai

Nghiên cứu tại bệnh viện Bạch Mai cho thấy STMP bằng kim Castelain đạt tỷ lệ chẩn đoán dương tính cao, đặc biệt trong các trường hợp TDMP do lao và ung thư. Điều này khẳng định giá trị của phương pháp trong thực tiễn lâm sàng.

4.2. Tương lai của sinh thiết màng phổi

Với sự phát triển của công nghệ và kỹ thuật, sinh thiết màng phổi dự kiến sẽ tiếp tục được cải tiến. Việc áp dụng các phương pháp chẩn đoán hình ảnh hiện đại sẽ giúp nâng cao độ chính xác và an toàn cho bệnh nhân trong quá trình chẩn đoán.

V. Kết luận về giá trị của sinh thiết màng phổi

Sinh thiết màng phổi bằng kim Castelain là một phương pháp có giá trị cao trong chẩn đoán nguyên nhân của tràn dịch màng phổi dịch ít. Phương pháp này không chỉ giúp xác định nguyên nhân mà còn hỗ trợ trong việc điều trị bệnh nhân. Việc áp dụng STMP kín trong thực tiễn lâm sàng đã chứng minh hiệu quả và tính an toàn của nó.

5.1. Tóm tắt giá trị của STMP

STMP kín bằng kim Castelain đã cho thấy hiệu quả cao trong việc chẩn đoán nguyên nhân TDMP. Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ chẩn đoán dương tính đạt tới 90% trong các trường hợp TDMP do lao và ung thư. Điều này khẳng định giá trị thực tiễn của phương pháp này.

5.2. Đề xuất cho nghiên cứu tương lai

Cần tiếp tục nghiên cứu và cải tiến kỹ thuật STMP để nâng cao hiệu quả chẩn đoán. Việc kết hợp với các phương pháp chẩn đoán hình ảnh hiện đại sẽ giúp tăng cường độ chính xác và an toàn cho bệnh nhân trong quá trình chẩn đoán.

22/06/2025
Nghiên cứu giá trị của kỹ thuật sinh thiết màng phổi bằng kim castelain trong tràn dịch màng phổi dịch ít tại khoa hô hấp bệnh viện bạch mai

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tràn dịch màng phổi và nguyên nhân gây tràn dịch màng phổi 1. Hội chứng tràn dịch màng phổi Tràn dịch màng phổi là một hiện tượng bệnh lý trong đó dịch trong khoang màng phổi hiện diện với số lượng nhiều hơn bình thường. Bình thường mỗi bên khoang màng phổi chứa khoảng 10mL dịch.

Số lượng dịch này là kết quả của sự cân bằng giữa quá trình hình thành và quá trình hấp thu dịch. Khi sự cân bằng này mất đi (tăng hình thành hay giảm hấp thu hay cả hai), hiện tượng tràn dịch màng phổi xảy ra. Các quá trình bệnh lý làm tăng sự hình thành dịch trong khoang màng phổi bao gồm: Tăng áp lực thuỷ tĩnh (suy tim ứ huyết). Giảm áp lực thẩm thấu keo (hội chứng thận hư, xơ gan).

Tăng tính thấm thành mạch (nhiễm trùng, u bướu). Dịch thoát lên khoang màng phổi từ khoang bụng (xơ gan có tràn dịch màng bụng) qua các lỗ mở của cơ hoành. Giảm áp lực trong khoang màng phổi (xẹp phổi)… [42. Sự hấp thu dịch từ khoang màng phổi sẽ giảm trong các trường hợp sau: Tắc nghẽn dẫn lưu bạch mạch (bệnh lý ác tính).

Ứ trệ dẫn lưu bạch mạch (tắc tĩnh mạch chủ trên)… Tràn dịch màng phổi gây ra một số hậu quả về mặt sinh lý bệnh. Trước hết, nó làm giảm quá trình thông khí (thông khí giới hạn). Nếu mức độ giảm thông khí này là đáng kể, bệnh nhân (BN) sẽ biểu hiện bằng tình trạng thiếu oxy hơn là tình trạng ưu thán. Thể tích toàn bộ phổi, cũng như thể tích cặn chức năng, thể tích sống gắng sức, đều giảm.

Tràn dịch màng phổi cũng dẫn đến sự bất tương hợp thông khí-tưới máu. Tràn dịch màng phổi số lượng nhiều có thể ảnh hưởng đến cung lượng tim. Dịch trong tràn dịch màng phổi có thể là dịch thấm, dịch tiết, máu hay mủ. Biểu hiện lâm sàng và cận lâm sàng của hội chứng này phụ thuộc vào mức độ tích lũy của dịch trong khoang màng phổi và nguyên nhân gây tràn dịch [42.

Phân loại mức độ tràn dịch màng phổi Hiện nay, phân loại mức độ TDMP tự do chưa có một tiêu chuẩn thống nhất nào. Hầu hết các tác giả đánh giá dựa trên hình ảnh X-Quang (XQ). + Theo Chrétien (1990) phân chia mức độ tràn dịch màng phổi trên XQ như sau [85.]: TDMP nhiều: mức dịch từ gian sườn 2 trở lên (mờ trên 2/3 phế trường), tim và trung thất bị đẩy sang bên đối diện. TDMP trung bình: mức dịch ngang bờ dưới xương bả vai (hình mờ từ 1/3 dưới đến 2/3 phế trương).

TDMP ít: hình ảnh ở dưới mức trung bình (hình mờ dưới ranh giới giữa 1/3 dưới và 1/3 giữa phế trường). TDMP rất ít: mờ góc sườn hoành. + Theo tiêu chuẩn của Nicholas J Screaton (2000) phân độ trên XQ [65.]: TDMP Nhiều: khi lượng TDMP vượt quá 3 khoảng gian sườn trên phim thẳng. TDMP ít: khi lượng TDMP thấp hơn 3 khoảng gian sườn trên phim thẳng.

+ Theo tác giả Coenraad FN và CS (2008) phân độ TDMP trên siêu âm (SA) [41.]: TDMP rất ít: khi khoảng trống siêu âm còn giới hạn trong góc sườn hoành. TDMP ít: khoảng trống siêu âm vượt ra ngoài góc sườn hoành nhưng vẫn nằm trong vùng giới hạn của mặt cắt đầu dò cong tần số 3,5MHz. TDMP trung bình: Nếu khoảng trống siêu âm vượt quá phạm vi của một lát cắt nhưng chưa quá 2 lát cắt. TDMP nhiều: Khoảng trống siêu âm lớn hơn phạm vi của hai lát cắt.

Các nguyên nhân tràn dịch màng phổi Tràn dịch màng phổi có thể do rất nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra. Chẩn đoán nguyên nhân bắt đầu bằng việc chọc dò dịch màng phổi (DMP) nhằm xác định đây là dịch thấm hay tiết. Nguyên nhân gây TDMP dịch tiết có thể lành 5 tính hay ác tính, trong khi đó nguyên nhân của TDMP dịch thấm đa phần là lành tính. Dựa trên phân loại dịch thấm hay tiết ban đầu này, các nguyên nhân của TDMP được phân ra như bảng dưới đây (Bảng 1.

Ba nguyên nhân thường gặp nhất của tràn dịch màng phổi là suy tim ứ huyết (tràn dịch dịch thấm), bệnh lý ác tính và viêm phổi (tràn dịch dịch tiết). Lao cũng là một trong các nguyên nhân gây viêm phổi (và tràn dịch màng phổi) thường gặp, đặc biệt ở các nước đang phát triển. Ở Việt Nam theo Ngô Quý Châu (2004) tỷ lệ TDMP do lao chiếm tới 73% [5. Suy tim xung huyết là nguyên nhân gặp nhiều nhất của TDMP ở các nước phát triển.

Light cho rằng loại tràn dịch này là phổ biến nhất trên thế giới. Theo tác giả, sự phân bố TDMP phụ thuộc đáng kể vào quần thể nghiên cứu. Phần lớn mô tả nguyên nhân TDMP là từ các nghiên cứu thực hiện trên bệnh nhân TDMP nội trú. Ở một vài quốc gia, lao màng phổi vẫn là nguyên nhân hay gặp nhiều nhất (Tây Ban Nha, Nam Phi, Ả Rập.), còn ở Czech, Pháp, Nhật gặp nhiều nhất là bệnh ác tính, sau đó là TDMP do viêm phổi.

Tỷ lệ ước tính của tràn dịch màng phổi ác tính ở Hoa Kỳ là 150.000 trường hợp / năm, còn tỷ lệ mắc lao chỉ khoảng 4% [69. Nguyên nhân ác tính gây TDMP có thể là nguyên phát hay di căn. Carcinome ở bất kỳ cơ quan nào cũng có thể di căn đến màng phổi. Ung thư màng phổi nguyên phát đã được khẳng định là có liên quan đến tiếp xúc với amiăng và ngày nay các nghành công nghiệp và các sản phẩm có liên quan đến amiăng đã không còn được sản xuất nữa.

Shan tổng hợp kết quả 9 công trình nghiên cứu khác nhau về ung thư di căn vào màng phổi cho thấy tỷ lệ các ung thư nguyên phát (Bảng 1. Nguyên nhân lành tính gây tràn dịch màng phổi [58.] Tràn dịch màng phổi dịch thấm Suy tim ứ huyết Xẹp phổi Xơ gan Tắc tĩnh mạch chủ trên Viêm màng ngoài tim co thắt Phù niêm trong suy giáp Thẩm phân phúc mạc Huyết khối thuyên tắc mạch phổi Hội chứng thận hư Hội chứng Demons- Meigs Tràn dịch màng phổi dịch tiết Tiếp xúc với Asbestos Do bệnh nhiễm trùng: Vi khuẩn, trực khuẩn lao Tràn dịch màng phổi dưỡng chấp Nấm, virus, kí sinh trùng Tràn máu màng phổi Huyết khối thuyên tắc mạch phổi TDMP hậu phẫu: Phẫu thuật bụng Phẫu thuật cầu nối chủ vành Bệnh Sarcoidosis Hội chứng ure huyết cao Bệnh collagen: Hội chứng móng vàng Viêm khớp dạng thấp Lupus ban đỏ hệ thống Hội chứng Churg-Strauss Hội chứng Dressler Bệnh màng phổi do thuốc: Nitrofurantoin, Interleukin-2 Dantrolene Procarbazine Methysergide Amiodarone Bromocriptine 7 Bảng 1. U nguyên phát di căn màng phổi [75.] U nguyên phát n % Ung thư phổi 641 36 Ung thư vú 449 25 Ung thư hạch 187 10 Ung thư buồng trứng 88 5 Ung thư dạ dày 42 2 Không rõ u nguyên phát 129 7 1. Phương pháp STMP kín trong chẩn đoán nguyên nhân tràn dịch màng phổi 1.

Lịch sử sinh thiết màng phổi Sinh thiết màng phổi (STMP) kín là phương pháp dùng các loại kim STMP chọc qua thành ngực vào khoang màng phổi để lấy bệnh phẩm. Mảnh bệnh phẩm tuy nhỏ nhưng đủ để chẩn đoán mô bệnh học chính xác, thủ thuật đơn giản, ít tai biến hơn và dễ thực hiện. Trong thập niên 1950, một số loại kim STMP kín đã lần lượt xuất hiện. Lúc này STMP có chỉ định giới hạn cho BN có TDMP lượng vừa đến nhiều, và có độ nhạy thấp chỉ 30 – 40%.

Từ đó có nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới đã được thực hiện để đánh giá hiệu quả của STMP trong chẩn đoán nguyên nhân gây TDMP. Người ta cũng luôn tìm cách cải tiến kim STMP, với mục đích lấy đủ mảnh bệnh phẩm để xét nghiệm mô bệnh học nhưng lại đảm bảo kích thước nhỏ, ít thô bạo và ít gây tai biến. Kỹ thuật STMP không ngừng được cải thiện nhằm nâng cao hiệu quả chẩn đoán vốn hãy còn thấp của kỹ thuật STMP kín cổ điển [22. 8 * Các loại kim sinh thiết + Kim Vim - Silvermann (sáng chế năm 1950), thường được sử dụng để STMP trong các trường hợp dầy dính màng phổi, hiện nay ít sử dụng vì gây nhiều biến chứng và lấy được bệnh phẩm nhỏ.

+ Kim Cope và Abrams (1958), ngày nay hai loại kim này vẫn được sử dụng, đặc biệt kim Abrams được các nhà khoa học Mỹ ưa sử dụng. Nhược điểm của kim là đường kính lớn (4mm) dễ gây tổn thương, mảnh bệnh phẩm đôi khi dập nát do đầu tù của kim và một lần sinh thiết chỉ lấy được 1 mảnh. + Kim Castelain (1964), được các nhà khoa học đánh giá cao vì ưu điểm là đường kính nhỏ (3mm) có khả năng lấy được nhiều bệnh phẩm từ một vị trí chọc qua thành ngực. Kim này được sử dụng khá nhiều ở Pháp.

+ Kim Tru- cut ra đời vào thập kỷ 70. * Cải tiến kim sinh thiết Sau Abrams và Cope, nhiều loại kim khác như kim Castelain, kim Raja được chế tạo theo cùng một nguyên tắc như kim Abrams, tuy nhiên hiệu quả chẩn đoán của các loại kim này cũng không khác biệt [64. Các kim đều có ưu nhược điểm riêng nhưng đến bây giờ các nhà chuyên môn ưa dùng kim Castelain và Abrams hơn cả [22. Boutin C cho rằng theo thời gian thì tỷ lệ chẩn đoán xác định nguyên nhân của TDMP bằng STMP đã tăng dần do sự đổi mới phương tiện và rút ra các kinh nghiệm về kỹ thuật [37.

Tình hình nghiên cứu sinh thiết màng phổi trên thế giới * Hiệu quả chẩn đoán của sinh thiết màng phổi Cope và Abrams (1958) tiến hành sinh thiết mù khá an toàn cho những trường hợp TDMP lượng nhiều (dịch vượt ba khoảng gian sườn trên phim X quang ngực thẳng). Vị trí sinh thiết dựa trên XQ lồng ngực qui ước, thông thường là khoảng liên sườn 7, 8 đường nách sau [64. 9 Năm 1978 về trước, hiệu quả chung của STMP bằng kim theo Boutin C là 57%, đến thập kỷ 90 thì tỷ lệ chung của STMP bằng kim là 70% trong đó nguyên nhân ung thư Se = 45 – 60%, nguyên nhân lao Se = 70 – 75%, Sp = 100% [37. Theo Kinasewitz GT.

(1998) với TDMP do ung thư tỷ lệ (+) của STMP là 40% còn tỷ lệ (+) của tế bào DMP là 50% và nếu kết hợp cả STMP và tế bào DMP thì hiệu quả chẩn đoán tới 2/3 số bệnh nhân TDMP do ung thư. Với TDMP do lao thì STMP có thể phát hiện u hạt hay nang lao từ 70%-80% trong khi soi và nuôi cấy DMP tìm BK chỉ đạt < 25%. STMP càng nhiều lần thì tỷ lệ (+) càng tăng, với STMP lần 3 tỷ lệ (+) đạt 90% [53. Lập lại sinh thiết > 2 lần tăng được độ nhạy của STMP theo nghiên cứu của Chen NH (1997), Lê Khắc Bảo (2001) [2.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ