Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỘNG CƠ CHỌN NGHỀ 1.Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1.Những nghiên cứu về động cơ chọn nghề 1.Những công trình nghiên cứu trên thế giới a) Kết quả nghiên cứu về động cơ chọn nghề của các nhà tâm lý học Liên Xô (cũ) L. Rubina đã nghiên cứu kế hoạch đường đời (sự lựa chọn nghề nghiệp) của thanh niên Liên Xô trên 2 khía cạnh: động cơ chọn nghề và tình huống. Động cơ chọn nghề xem xét đặc điểm con đường tự quyết định của nhân cách trước khi vào đại học, điều kiện hình thành định hướng và giáo dục đại học; xét cơ sở khách quan - các yếu tố ảnh hưởng tới sự lựa chọn nghề nghiệp (gia đình, môi trường, nhà trường, kinh nghiệm sống, phương tiện thông tin đại chúng…) mức độ ổn định và có ý thức hứng thú đối với nghề đã chọn…Rubina đã phát hiện ra những động cơ không gắn liền với đào tạo nghề nghiệp, đến khía cạnh nội dung của hoạt động nghề nghiệp, mà chỉ chọn thi vào cho có học ở đại học, thường xuất hiện ở những sinh viên mà kế hoạch đường đời (sự tự quyết lựa chọn nghề) diễn ra chóng vánh, kế hoạch được sắp đặt trước khi thi đại học khoảng 1 năm hay trước khi nộp đơn thi. Thường ở những người này không có định hướng xã hội rõ ràng cho tương lai, không có hứng thú nghề nghiệp ổn định [37, tr.
“Những nghiên cứu của E.Pavlưuchencov về động cơ chọn nghề cũng chỉ ra rằng, những học sinh tích cực tham gia hoạt động liên quan đến học tập, lao động thì có cấu trúc động cơ chọn nghề tối ưu hơn những học sinh khác” [37, 14]. Levitop cho rằng, hứng thú, năng lực, mức độ chuẩn bị đối với nghề đã chọn, tình cảm, ý chí và nguyện vọng tự rèn luyện là những động cơ cá nhân bên trong. Lời khuyên, tấm gương của người khác cũng như những lý do có tính chất sinh hoạt và vật chất là những động cơ bên ngoài của việc chọn nghề” [37, 14].Trugunova với đề tài Mối quan hệ giữa động cơ nghề nghiệp và tính tích cực sáng tạo của người kỹ sư. Qua phân tích bằng phương pháp thống kê toán học cho thấy, động cơ hoạt động nghề nghiệp của người kỹ sư ở hiện tại có kết hợp chặt chẽ một cách đặc thù với động cơ lựa chọn nghề nghiệp và vị trí công việc được đánh giá có ý nghĩa đối với bản thân từ trước đó vài năm… Trong số kỹ sư có thái độ thờ ơ, tiêu cực với công việc có 42,7% trước đó đã chọn nghề do sự ngẫu nhiên; trong số kỹ sư có thái độ tích cực cao 50% đã có hứng thú ổn định đối với khoa học kỹ thuật từ thời điểm phải tự quyết định nghề nghiệp tương lai [37, 12].
b) Kết quả nghiên cứu về động cơ chọn nghề của các nhà tâm lý học phương Tây Bates và Michael Julian (1998) của trường Đại học Memphis (Mỹ) đã tiến hành nghiên cứu đề tài Những yếu tố ảnh hưởng đến việc chọn nghề giảng dạy âm nhạc của học sinh lớp 11 và 12 người Mỹ gốc Phi. Đề tài đã xác định được những yếu tố chính và mức độ ảnh hưởng đến việc chọn nghề của học sinh là: mô hình về vai trò của người giáo viên âm nhạc, giáo viên âm nhạc, gia đình. Ngoài ra, học sinh còn quan tâm đến một số yếu tố khác như: các buổi học âm nhạc ở trường, kiểm tra năng khiếu âm nhạc, tư vấn và trải nghiệm nghề nghiệp, môi trường, kinh tế cũng như tương tác của giáo viên và học sinh trong các trò chơi âm nhạc ở lớp [43]. (2004) đã nghiên cứu đề tài Sự lựa chọn nghề giáo viên dàn nhạc có dây của học sinh trung học.
Đề tài nghiên cứu đã khảo sát trên 1863 học sinh lớp 11 và 12 tại phía Bắc bang Texas (Mỹ). Đề tài đã đi đến kết luận rằng, số lượng học sinh nữ chọn nghề giáo viên dàn nhạc có dây nhiều hơn so với học sinh nam. Học sinh chọn nghề giáo viên dàn nhạc có dây là do: sở thích cá nhân, giúp ích cho xã hội, tạo một hình mẫu tích cực về người giáo viên dàn nhạc có dây cho các em nhỏ và đó là nghề truyền thống của gia đình. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh không chọn nghề giáo viên dàn nhạc dây là do lương quá thấp [44].
Amundson và William A. Borgen đã nghiên cứu đề tài Quyết T 2 2T 2T T 2 T 2 T 2 định chọn nghề của học sinh trung học tại Kenya. Đề tài nghiên cứu nhằm xác định những nguyên nhân thúc đẩy học sinh chọn nghề. Kết quả nghiên cứu cho thấy học sinh ở khu vực nông thôn chịu sự ảnh hưởng từ cha mẹ và thầy cô giáo khi chọn nghề, còn học sinh ở thành thị chịu sự ảnh hưởng của cha mẹ nhiều hơn là thầy cô giáo.
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy yếu tố giới tính, khái niệm bản thân và mô hình về nghề là những yếu tố chính ảnh hưởng đến quyết định chọn nghề của học sinh trung học ở Kenya [46]. Qua những nghiên cứu trên, chúng ta có thể thấy các nhà tâm lý học trên thế giới nghiên cứu về động cơ chọn nghề theo hướng chuyên sâu, động cơ chọn nghề của từng nghề cụ thể trong xã hội và mối quan hệ giữa động cơ chọn nghề với những vấn đề tâm lý khác.Những công trình nghiên cứu trong nước Tác giả Nguyễn Thị Ánh Tuyết với đề tài nghiên cứu Nghiên cứu về nguyện vọng lựa chọn nghề nghiệp của học sinh lớp 10 được thực hiện từ năm 1965-1969 ở các trường ở nông thôn, nội và ngoại thành. Kết quả nghiên cứu cho thấy, nguyện vọng lựa chọn nghề nghiệp của học sinh là để phục vụ đất nước nhưng mơ ước đó không dựa trên năng lực của bản thân, phần lớn các em chọn vào các ngành công nghiệp, kế đến là y dược, các lĩnh vực như tài chính, kế toán các em lựa chọn rất ít [21]. Luận án Phó tiến sĩ của tác giả Nguyễn Ngọc Bích (1979) với đề tài Động cơ chọn nghề của thanh thiếu niên đã nhận định rằng, ở thanh niên, học sinh động cơ chọn nghề bên trong nổi bật hơn động cơ bên ngoài.
Đối với nam thì việc thực hiện khả năng của bản thân là động cơ đầu tiên trong chọn nghề, tiếp đến là tính chất quan trọng của nghề, hứng thú với nghề. Đối với nữ thì trước tiên là yêu cầu của nhà nước, vị trí xã hội của nghề và thực hiện được khả năng của mình [19]. Đề tài Tìm hiểu động cơ chọn nghề của học sinh PTTH của tác giả Phạm Thị Nguyệt Lãng (1991) nghiên cứu khảo sát 1803 học sinh lớp 10, 11, 12 ở 12 trường PTTH thuộc các tỉnh, thành: Hà Nội, Hà Sơn Bình, Tp. Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Cửu Long.
Kết quả nghiên cứu đã đưa ra: 83,25% nữ và 78,41% nam chọn nghề theo hứng thú cá nhân. Các yếu tố động cơ thúc đẩy học sinh chọn nghề còn lại như: lương bổng nhiều, để được khen, có vinh quang chiếm tỉ lệ rất thấp. Phân tích kết quả nghiên cứu tác giả nhận định rằng học sinh đã xem xét khả năng của bản thân với yêu cầu của nghề và tỉ lệ nam cao hơn nữ [29]. Tác giả Phan Tố Oanh (1994) với đề tài Nguyện vọng và nguyên nhân chọn nghề của học sinh phổ thông trung học được thực hiện trên 200 học sinh ở Huế và 300 học sinh ở Hà Nội cho thấy, nguyên nhân học sinh chọn nghề là phù hợp với năng lực học tập, nghề nghiệp phù hợp với hứng thú, các nguyên nhân như: dễ có khả năng trúng tuyển hay phù hợp với “mốt” hiện nay được học sinh đánh giá rất thấp [32].
Đề tài nghiên cứu Tìm hiểu động cơ lựa chọn nghề khi thi vào đại học của sinh viên của tác giả Nguyễn Ánh Hồng (2001) được thực hiện trên 800 sinh viên tại Tp. Hồ Chí Minh đã kết luận việc lựa chọn nghề nghiệp của sinh viên được xuất phát từ những động cơ khác nhau, những động cơ này có tính hệ thống và thứ bậc. Bằng phương pháp phân tích nhân tố, tác giả Nguyễn Ánh Hồng đã phân chia thành 4 nhóm (hệ thống) động cơ chọn nghề: Nhóm động cơ điểm tuyển và học phí thấp (điểm tuyển thấp, không phải đóng học phí); nhóm động cơ kinh tế và việc làm (dễ kiếm việc làm và thu nhập cao); nhóm động cơ hợp khả năng và sở thích (hợp với sở thích, hợp với khả năng của cá nhân); nhóm động cơ theo lời khuyên (theo ý kiến bạn bè, theo lời khuyên của cha mẹ, ngành quan trọng trong công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước). Kết quả nghiên cứu thu được cho thấy: Nhóm động cơ hợp với khả năng và sở thích đóng vai trò quan trọng nhất đối với học sinh khi chọn nghề, kế đến là nhóm động cơ kinh tế và việc làm, sau nữa là nhóm động cơ theo lời khuyên và cuối cùng là nhóm động cơ điểm tuyển và học phí thấp [16, tr.
Đề tài Tìm hiểu động cơ thi vào sư phạm của giáo sinh năm I, năm II tại một số trường sư phạm trong Tp. Hồ Chí Minh của tác giả Võ Thị Hồng Trước (1994) với mẫu là 295 giáo sinh tại các trường: Đại học Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh, Trung học Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh và Cao đẳng Sư phạm trung ương III.
Kết quả nghiên cứu cho thấy động cơ thi vào các trường sư phạm chiếm ưu thế là động cơ bên trong [38]. Luận văn tốt nghiệp đại học của tác giả Ngô Thị Kim Ngọc (1996) với đề tài “Tìm hiểu hiện trạng và nguyên nhân chọn nghề của học sinh lớp 11 và 12 nội thành phố Hồ Chí Minh” được thực hiện năm 1996. Mẫu nghiên cứu của đề tài là 323 học sinh khối lớp 11, 12 tại 2 trường PTTH Hùng Vương và PTTH Nguyễn Thái Bình. Kết quả nghiên cứu cho thấy, học sinh chọn nghề ở lĩnh vực kinh tế và ngoại thương là nhiều nhất vì theo các em những nghề ở các lĩnh vực này sẽ có triển vọng trong tương lai.
Nguyên nhân thúc đẩy các em chọn nghề là phù hợp với hứng thú và khả năng của bản thân, không có sự khác biệt giữa nam và nữ. Những người đang hành nghề là đối tượng ảnh hưởng lớn nhất đến quyết định chọn nghề của học sinh [15, 60].