Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ THEO HƯỚNG NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP CHO HỌC SINH 1. Đổi mới giáo dục và chương trình phổ thông theo định hướng phát triển năng lực Thế kỉ XXI đánh dấu sự phát triển hết sức nhanh chóng của khoa học, giáo dục và công nghệ, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ thông tin, truyền thông, vật liệu, tự động hóa… do đó phương pháp tiếp cận nội dung trong dạy học trở nên lạc hậu. Thay đổi, cải cách chương trình giáo dục theo hướng tiếp cận năng lực nhằm mục tiêu phát triển năng lực người học được khá nhiều quốc gia quan tâm, vận dụng và trở thành xu hướng quốc tế của giáo dục. Tên gọi của cách tiếp cận này được dùng khá phổ biến là “Competency-based Curriculum - Chương trình dựa trên cơ sở năng lực, gọi tắt là tiếp cận năng lực”.
Việc tiếp cận năng lực chủ trương giúp người học không chỉ học thuộc, ghi nhớ mà còn phải biết thực hành thông qua các hoạt động cụ thể, sử dụng tri thức đã học để giải quyết các tình huống trong thực tiễn, chương trình không những quy định nội dung dạy học mà còn quy định kết quả đầu ra mong muốn của quá trình dạy học, kết quả học tập mong muốn được mô tả chi tiết và có thể quan sát, đánh giá được. Nghị quyết 88/2014/QH13 ngày 28/11/2014 về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông ghi rõ: “Tiếp tục đổi mới phương pháp giáo dục theo hướng: phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, bồi dưỡng phương pháp tự học, hứng thú học tập, kĩ năng hợp tác, làm việc nhóm và khả năng tư duy độc lập; đa dạng hóa hình thức tổ chức học tập, tăng cường hiệu quả sử dụng các phương tiện 12 dạy học, đặc biệt là công nghệ thông tin và truyền thông; giáo dục ở nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và xã hội” [28]. Trong xây dựng chương trình giáo dục hiện hành, kế thừa phương pháp dạy học của chương trình giáo dục môn Địa lí ban hành năm 2006, quan điểm xây dựng và phát triển chương trình ghi rõ: “Việc đổi mới phương pháp giáo dục môn học nhằm góp phần phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động và sáng tạo của học sinh trong học tập Địa lí; bồi dưỡng phương pháp học tập môn Địa lí để học sinh có thể tiếp tục tìm hiểu, mở rộng vốn văn hóa cần thiết cho bản thân; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức địa lí vào thực tiễn” [2]. Hoạt động trải nghiệm 1.
Khái niệm Theo Từ điển Tiếng việt (Hoàng Phê, 2011, tr 874, tr1309): “Trải” nghĩa là đã từng qua, từng biết, từng chịu đựng; “nghiệm” nghĩa là ngẫm thấy, có kinh qua thực tế nhận thấy điều nào đó là đúng” [22]. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, “Trải nghiệm theo nghĩa chung nhất là bất kì một trạng thái có màu sắc xúc cảm nào được chủ thể cảm nhận, trải qua, đọng lại thành bộ phận (cùng với tri thức, ý thức…) trong đời sống tâm lí của từng người. Theo nghĩa hẹp hơn, chuyên biệt hơn của tâm lí học thì đó là những tín hiệu bên trong, nhờ đó nghĩa của các sự kiện đang diễn ra đối với cá nhân được ý thức, chuyển thành ý thức riêng của cá nhân, góp phần lựa chọn tự giác các động cơ cần thiết, điều chỉnh hành vi của cá nhân” (Từ điển Bách khoa Việt Nam 4, 2005, tr. Như vậy, trải nghiệm được hiểu là không tách rời khỏi thực tiễn cuộc sống, không tác rời các điều kiện, hoàn cảnh học tập.
Qua đó dưới sự hướng dẫn của các nhà giáo dục, HS tham gia trực tiếp vào các hoạt động học tập với tư cách là chủ thể, từ đó phát huy năng lực thực tiễn, tính sáng tạo, tự giác, chủ động trong chiếm lĩnh tri thức của nhân loại. Hoạt động trải nghiệm Theo tác giả Bùi Ngọc Diệp (Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam) tại hội thảo Hoạt động trải nghiệm sáng tạo của HS phổ thông, Bộ Giáo dục và đào tạo năm 2014: “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là các hoạt động giáo dục thực tiễn được tiến hành song song với các hoạt động dạy và học trong nhà trường phổ thông. Thông qua các hoạt động thực hành, những việc làm cụ thể và các hành động của học sinh, hoạt động trải nghiệm sáng tạo sẽ khai thác kinh nghiệm của mỗi cá nhân, tạo cơ hội cho các em vận dụng một cách tích cực những kiến thức đã học vào thực tiễn và đưa ra những sáng kiến của mình, từ đó phát huy và nuôi dưỡng tính sáng tạo của mỗi cá nhân” [9]. Theo tài liệu tập huấn cho cán bộ giáo viên về kĩ năng xây dựng và tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong trường trung học năm 2015 của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ ra: “Trong hoạt động trải nghiệm, HS được thực hành trải nghiệm những kiến thức, kĩ năng đã học trong các môn học, đồng thời tiếp tục tìm tòi, mở rộng kiến thức và khả năng ứng dụng của kiến thức vào thực tiễn.
Khi đặt ra một yêu cầu trải nghiệm, HS phải hoạt động, hoàn thành sản phẩm, sản phẩm đó là kết quả cảu hoạt động trải nghiệm. Sản phẩm đó không theo khuôn mẫu nào, đó chính là sự sáng tạo của HS khi giải quyết vấn đề đặt ra. Với nội dung và hình thức nêu trên, hoạt động trải nghiệm có vai trò quyết định đối với việc hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất của HS” [19]. Như vậy, các khái niệm về HĐTN đều có chung một quan điểm: Thông qua tự trải nghiệm, tự khám phá HS sẽ tự mình chiếm lĩnh, làm chủ tri thức, kĩ năng, chủ động, sáng tạo giải quyết các vấn đề thực tiễn nảy sinh trong hoạt động học tập, cuộc sống.
Các HĐTN là những hoạt động có mục tiêu nội dung rõ ràng, nội dung HĐTN được tiến hành theo chủ đề các cấp học khác nhau, được kết nối với nhau theo một chương trình, đòi hỏi người tham gia học tập phải tự giác, tích cực chủ động vào quá trình hoạt động mới đạt được hiệu quả cao. Thông qua 14 HĐTN nhằm xây dựng và hình thành phát triển các phương pháp học tập có hiệu quả để thu thập và ghi nhớ thông tin khác nhau trong quá trình học tập như: tham quan mô hình thực tế (trực quan), trao đổi thảo luận trên các diễn đàn, thảo luận nhóm… HĐTN giúp phát triển năng lực người học, năng lực của HS được hình thành và phát triển khi HS được huy động kiến thức, kĩ năng vào giải quyết một tình huống nhằm tìm tòi, khám phá, chiếm lĩnh tri thức thực tiễn. Quá trình chia sẻ, thảo luận, phản ánh giúp HS phát triển các năng lực hợp tác, giao tiếp. Quá trình hệ thống hóa khái niệm giúp HS phát triển năng lực hệ thống hóa, khái quát hóa kiến thức.
Thử nghiệm tích cực giúp HS phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào giải quyết các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống. Như vậy, thông qua trải nghiệm HS phát triển năng lực sáng tạo từ việc đề xuất các ý tưởng nhằm hoàn thành nhiệm vụ. Tiếp xúc trực tiếp với các đối tượng học tập hình thành xúc cảm với đối tượng học tập, thỏa mãn ước mơ nghề nghiệp, từ đó phát triển nhân cách, năng lực và phẩm chất cho HS. Hoạt động trải nghiệm hướng nghiệp Trong chương trình GPPT 2018 (ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) đã nêu rõ “Hoạt động trải nghiệm và Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp là hoạt động giáo dục do nhà giáo dục định hướng, thiết kế và hướng dẫn thực hiện, tạo cơ hội cho học sinh tiếp cận thực tế, thể nghiệm các cảm xúc tích cực, khai thác những kinh nghiệm đã có và huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng của các môn học để thực hiện những nhiệm vụ được giao hoặc giải quyết những vấn đề thực tiễn đời sống nhà trường, gia đình, xã hội phù hợp với lứa tuổi: thông qua đó, chuyển hóa những kinh nghiệm đã trải qua thành tri thức mới, hiểu biết mới, kĩ năng mới góp phần phát huy tiềm năng sáng tạo và khả năng thích ứng với cuộc sống, môi trường và nghề nghiệp tương lai” [3].
Đặc điểm của hoạt động trải nghiệm Là một hoạt động dạy học có mục đích, có tổ chức được thực hiện trong hoặc ngoài nhà trường mà ở đó con người được tham gia trực tiếp vào các loại hình hoạt động, các mối quan hệ giao lưu phong phú, đa dạng một cách tự giác; bản thân được thử nghiệm, thể nghiệm trong thực tế, tích cực, chủ động, sáng tạo trong tương tác, giao tiếp với tập thể, cá nhân và cộng đồng, từ đó hiểu mình hơn, tự phát hiện những khả năng của mình. “Trải nghiệm luôn chứa đựng hai yếu tố không thể tách rời đó là hành động và xúc cảm, thiếu một trong hai yếu tố đó không mang lại hiệu quả. Kết quả của trải nghiệm là hình thành được kinh nghiệm mới, năng lực mới, thái độ và giá trị mới” [3]. HĐTN đề cao vai trò tích cực của chủ thể con người, quá trình hoạt động con người phải chú tâm vào công việc, phát huy hết khả năng và bộc lộ cảm xúc của mình.
Học qua trải nghiệm - tức là làm, là nhấn mạnh quy trình, thao tác kĩ thuật và kết quả, giúp người học không những có được năng lực thực tiễn gắn với kinh nghiệm mà còn có những trải nghiệm về cảm xúc, ý chí và nhiều trạng thái tâm lí khác. HĐTN được thực hiện qua các chủ đề, có sự gắn kết cơ bản giữa lí luận và thực tiễn. Mức độ yêu cầu trong các chủ đề trải nghiệm cần phù hợp với khả năng của học sinh, đảm bảo được sự an toàn hoặc giám sát được sự an toàn trong hoạt động của học sinh. Bản chất của hoạt động trải nghiệm HĐTN có thể được hiểu là “quá trình học từ trải nghiệm, là quá trình học theo đó kiến thức, năng lực được tạo ra thông qua việc chuyển hóa kinh nghiệm” (theo Kolb, 1984) [26].
Học từ trải nghiệm gần giống với học thông qua làm, đó là quá trình người học tổng hợp được tri thức, kĩ năng hoặc tích lũy qua quan sát, tiếp xúc trực tiếp với sự vật, hiện tượng, sự kiện… Điểm khác là học từ trải nghiệm luôn gắn với kinh nghiệm, cảm xúc cá nhân. Học qua trải nghiệm giúp người học 16 không những có được năng lực thực hiện mà còn có những trải nghiệm cảm xúc, ý chí và trạng thái tâm lí.