đặt vấn đề và giải quyết vấn đề. Tuy nhiên, “cái tôi” này vẫn đang trong giai đoạn hoàn thiện, chưa rõ nét. Do đó, việc tự đánh giá bản thân vẫn chưa chính xác, còn mơ hồ, không ổn định. - Sự nảy sinh cảm nhận bản thân đang dần thay đổi, trưởng thành là một trong những lý do dẫn đến sự gia tăng mâu thuẫn giữa thanh niên và phụ huynh, tần suất giao 16 tiếp giữa họ và phụ huynh giảm đi, trong khi tần suất giao tiếp với đồng trang lứa lại tăng lên.
- Đối với thanh niên biểu tượng chung về thế giới có một ý nghĩa nhân cách rất rộng, nó gắn liền với nhu cầu tìm kiếm một chỗ đứng cho riêng mình trong xã hội, tìm kiếm một hướng đi, một nghề nghiệp, một dự định cho cuộc sống của họ. Như vậy thế giới quan tức quan điểm về thế giới nói chung, về cơ sở của sự tồn tại về mối liên hệ giữa con người với tự nhiên, về những định hướng giá trị cơ bản. được hình thành. - Để chuẩn bị bước vào đời, thanh niên thường trăn trở với các câu hỏi về ý nghĩa và mục đích cuộc sống, về cách xây dựng một kế hoạch sống có hiệu quả, về việc lựa chọn nghề nghiệp cho phù hợp và có ý nghĩa.
Để giải đáp các câu hỏi này, khả năng nhận thức, đánh giá cũng như khả năng thực tiễn của mỗi cá nhân rất khác nhau, thể hiện đặc biệt rõ khoảng cách giữa sự phát triển tự phát và sự phát triển có hướng dẫn của giáo dục với nghĩa rộng của khái niệm này. Ở nước ta hiện nay khi mà các giá trị xã hội có nhiều biến động, không ít thanh niên chưa xác định được ý nghĩa của cuộc sống, không có định hướng nghề nghiệp rõ nét và do đó cũng không thể lập được cho bản thân một kế hoạch sống cụ thể. Hiện tượng này tồn tại không phải đơn thuần do trình độ phát triển tâm lý ở lứa tuổi thành niên chưa chín muồi, mà quan trọng hơn là do những khiếm khuyết trong giáo dục ở nhà trường, gia đình và trong xã hội (thông qua các ấn phẩm sách báo, văn hóa, nghệ thuật. 17 CHƯƠNG 2: NHẬN THỨC VỀ NGHỀ NGHIỆP CỦA HỌC SINH THPT 2.Quan niệm về nghề nghiệp của học sinh THPT 2.Quan niệm của học sinh THPT về Mục đích của nghề nghiệp Giới trẻ Việt Nam, những người trưởng thành từ cái “nôi” Văn hóa phương Đông trọng tình cảm và danh dự – từ xa xưa – đã có truyền thống xem trọng sự nghiệp.
Đó chính là thước đo về sự thành công trong cuộc đời của một con người. Mặt khác, trong điều kiện kinh tế - xã hội hiện nay, khi nhân loại tiến những bước dài trong sự phát triển, nhu cầu về mức sống ngày càng cao, yêu cầu về trình độ lao động cũng theo đó mà tăng lên. Do vậy, đối với học sinh ở lứa tuổi THPT, quan niệm, cũng như sự lựa chọn nghề nghiệp là một quyết định rất quan trọng và có ảnh hưởng lớn. Trước hết, như một nhu cầu thiết yếu, nghề nghiệp – đối với giới trẻ nói chung và học sinh THPT nói riêng – là một cách thức để đảm bảo cho cuộc sống của cá nhân và gia đình.
Khi xã hội phát triển, nghề nghiệp là phương án duy nhất để “giải đáp” những “bài toán” về nhu cầu và yêu cầu ngày một tăng cao của con người. Sự đào thải và phân cấp trong xã hội hiện đại khắc nghiệt hơn bao giờ hết, đặc biệt là ở một môi trường năng động và phát triển như thành phố Hồ Chí Minh. Bài nghiên cứu “Nghề nghiệp giới trẻ và những vấn đề cần quan tâm” cũng đề cập đến vấn đề này: “Mặc dù danh xưng nghề nghiệp hoàn toàn không thay đổi về ý nghĩa nhưng cách phân cấp thứ bậc trong nghề thì có thay đổi, thái độ tôn vinh đối với thứ bậc của nghề hầu như bị chuẩn mực đạo đức mới làm lu mờ và thay vào đó là sự phân công chức trách làm mất đi ý thức tôn vinh, kính trọng trong giá trị thứ bậc nghề nghiệp. Hậu quả của nhận thức ấy là ý thức trách nhiệm hành nghề, lòng yêu nghề, say mê gắn bó với nghề của giới trẻ đã không còn mặn mà và thuần khiết như xưa.” Thành phố Hồ Chí Minh vốn là một môi trường năng động với mức độ tập trung dân cư và tăng trưởng kinh tế xếp vào loại cao nhất trong cả nước.
Môi trường này, cùng với sự phát triển cao trong trình độ nhận thức của phần đông dân cư thành thị, đã 18 đem đến nhiều điều kiện thuận lợi trong việc phát triển giáo dục thể chất, tinh thần và kiến thức cho thế hệ trẻ. Sự giáo dục của gia đình, tác động của xã hội và ý thức tự thân đã hình thành từ rất sớm trong học sinh những quan niệm về nghề nghiệp. Một trong những đặc trưng nổi bật trong văn hóa Việt Nam truyền thống là “tính cộng đồng” – thiên về âm tính và trọng gia đình. Gia đình, gia tộc có vai trò rất quan trọng đối với mỗi cá nhân.
Ngoài nhu cầu bản thân, thế hệ trẻ vẫn còn chịu tác động khá nhiều của nhận thức về bổn phận đối với gia đình, họ hàng… Văn hóa Việt Nam truyền thống và hiện đại vẫn còn đậm tính chất “trọng danh dự” – sự thành công trong sự nghiệp không chỉ có ý nghĩa với cá nhân một người mà còn là niềm tự hào của gia đình, gia tộc. Do đó, ngoài nhu cầu “thiết thân” nhất của một con người cho sự tồn tại, sinh sống – công danh, nghề nghiệp còn là một biểu hiện của sự đảm bảo thực hiện trách nhiệm của bản thân. Mặt khác, trong tính chất “âm tính” bao trùm nên cả nền văn hóa Việt Nam – yếu tố “dương tính” vẫn tồn tại, như một biểu hiện cụ thể cho quy luật chuyển hóa của triết lý âm dương: “Trong âm có dương, trong dương có âm. Nhu cầu chứng tỏ cái “tôi” cá nhân xuất hiện và phát huy sự ảnh hưởng rộng rãi của nó trong xã hội Việt Nam hiện đại.
Hơn nữa, trong sự giao lưu, tiếp biến với Văn hóa phương Tây – giới trẻ Việt Nam nói chung và học sinh THPT nói riêng cũng quan niệm: nghề nghiệp là một cách để thể hiện năng lực và khắng định bản thân. Trong Biểu đồ thể hiện Kết quả khảo sát 300 học sinh tại hai trường: THPT Nguyễn Thị Minh Khai và THPT Nguyễn Hữu Cầu, về câu hỏi: “Tầm quan trọng của nghề nghiệp đối với bạn?”, quan niệm này đã được lựa chọn nhiều nhất. Một trong những biểu hiện của quan niệm này là cách nhận thức: người giỏi hơn – là người có công việc vị trí cao hơn và kiếm được nhiều tiền hơn… Nhận thức này có tác động và sức thúc đẩy rất lớn – hướng một cá nhân đến sự phấn đấu không ngừng để có thể chứng tỏ và thể hiện bản thân, nhưng cũng là một tác nhân gây đến nhiều hậu quả, khi cái “tôi” cá nhân quá lớn, và tham vọng “chứng tỏ bản thân” làm biến đổi mục đích của nghề nghiệp theo chiều hướng tiêu cực. 19 Bên cạnh đó, nghề nghiệp – theo một số học sinh THPT – còn là sự theo đuổi và hiện thực hóa những ước mơ, đam mê của mình.
Trong trường hợp này, những tiêu chuẩn về “danh tiếng”, “quyền lực” không giữ vai trò quan trọng nhất. Dĩ nhiên, việc đam mê và thích thú ngành nghề sẽ giúp sinh viên học tập, nghiên cứu và thực hành hiệu quả hơn.1 Ñeå sinh soá n g Thöï c hieä n boå n phaä n ,traù ch nhieä m vôù i baû n thaâ n , GÑ Theå hieä n naê n g löï c,khaú n g ñònh baû n thaâ n Theo ñuoå i ñam meâ Biểu đồ 1 - Tầm quan trọng của nghề nghiệp đối với học sinh THPT Tuy nhiên, phần đông học sinh THPT hiện nay gặp phải hạn chế về thông tin ngành nghề, công việc mà họ hướng tới. Một bộ phận học sinh THPT cũng chưa xác định được tương quan giữa năng khiếu và năng lực học tập của mình đối với ngành nghề, công việc đó. Dưới nhu cầu và áp lực của gia đình, xã hội và bạn bè, phần lớn học sinh tốt nghiệp THPT đều hướng đế sự lựa chọn thi vào các trường Đại học, còn Cao đẳng và Trung cấp Chuyên nghiệp – phần đông – chỉ là lựa chọn thay thế: “Thực tế cho thấy, phần lớp học sinh tốt nghiệp THPT thường dự thi đại học, cao đẳng, chỉ khi không đỗ mới chuyển sang học TCCN hoặc học nghề.
Số còn lại ở nhà tiếp tục ôn tập chờ kỳ thi 20 năm sau hoặc đi tìm việc làm khác. Theo con số thống kê, quy mô tuyển sinh vào các trường đại học, cao đẳng năm 2007-2008 chiếm 43,8% học sinh tốt nghiệp THPT; học sinh tốt nghiệp THPT vào học TCCN chiếm 30,3%; một số ít chọn con đường học nghề. Tuy nhiên, cũng có không ít học sinh tốt nghiệp THPT không học nghề nào, số học sinh bỏ học và trượt tốt nghiệp cũng còn nhiều.8 Ñaï i hoï c , hoï c vieä n/cao ñaú n g coâ n g laä p Ñaï i hoï c/ cao ñaú n g daâ n laä p Trung caá p chuyeâ n nghieä p / hoï c ngheà Tröôø ng quoá c teá Du hoï c Biểu đồ 2 - Xu hướng lựa chọn bậc học sau khi tốt nghiệp cấp III Do đó, một bộ phận học sinh THPT quan niệm và lựa chọn nghề nghiệp không xuất phát từ nhu cầu bản thân mà hoàn toàn dựa trên mong muốn hoặc áp đặt của cha mẹ, theo truyền thống gia đình hoặc chọn nghề theo phong trào – “dễ nổi tiếng”, “dễ kiếm tiền”… Và để đảm bảo việc “đậu” vào các trường Đại học, họ đăng kí vào những ngành có điểm tuyển thấp – mà không chú trọng ngành đó có phù hợp với bản thân mình và có đáp ứng nhu cầu xã hội hay không. Trong một số trường hợp khác, học sinh THPT quyết định chọn “đường vòng”: học nghề mà cha mẹ muốn, sau khi tốt nghiệp sẽ 7 Theo Bài viết “Mới định hướng chọn trường, chưa định hướng chọn nghề” 21 ôn luyện để thi vào ngành nghề mà mình yêu thích… Ý thức về định hướng nghề nghiệp trong những trường hợp trên có phần sai lầm và lệch lạc, gây tốn kém thời gian, công sức và tiền bạc của bản thân, gia đình và xã hội.
Mặt khác, một bộ phận học sinh THPT khác đã có nhận thức rõ ràng và đúng đắn về năng lực của bản thân, trên cơ sở đó xác định những quan điểm, định hướng về nghề nghiệp.