MỞ ĐẦU Từ năm 1919 đến năm 1954, phong trào yêu nước và cách mạng ở Kiên Giang diễn ra những sự kiện nào nổi bật? Theo em, những giai đoạn đó gắn với những sự kiện nào của lịch sử dân tộc Việt Nam? KIẾN THỨC MỚI 1. Những chuyển biến về kinh tế – xã hội ở Kiên Giang sau Chiến tranh thế giới thứ nhất Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, bộ mặt kinh tế – xã hội Kiên Giang có nhiều thay đổi: mạng lưới giao thông phát triển, buôn bán nhộn nhịp hơn, xuất hiện những công trình kiến trúc mới, trụ sở, trường học,. Tuy vậy, nền kinh tế cơ bản của Kiên Giang vẫn là nền nông nghiệp lạc hậu, chưa tiếp nhận nhiều kĩ thuật canh tác mới; công nghiệp phiến diện, là thị trường tiêu thụ của tư bản Pháp. 16 Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, giai cấp trong xã hội Kiên Giang có sự phân hoá sâu sắc: – Có nhiều ruộng đất, một số địa chủ có cả ruộng đất ở trong và ngoài tỉnh.
Giai cấp địa chủ – Đa số làm tay sai cho Pháp, giúp cho tư sản Pháp chiếm đất của dân, bóc lột nông dân. – Chiếm số lượng đông nhất. – Chủ yếu là tá điền và những người phiêu bạt từ nơi khác Sự phân hoá Giai cấp nông dân tới. giai cấp ở – Là đối tượng bóc lột chủ yếu Kiên Giang của địa chủ người Việt và tư sau Chiến sản Pháp.
tranh thế giới thứ nhất – Gồm các tầng lớp công chức và trí thức. Giai cấp tiểu tư sản – Phần lớn xuất thân từ gia đình giàu có, được học hành và giao lưu với bên ngoài. – Xuất thân từ nông dân, làm thợ trong các cơ sở tiểu Giai cấp công nhân thủ công nghiệp, chủ yếu tập trung ở tỉnh lỵ, các cơ sở sản xuất dịch vụ. Sơ đồ phân hoá giai cấp ở Kiên Giang sau Chiến tranh thế giới thứ nhất – Nêu những chuyển biến về kinh tế ở Kiên Giang sau Chiến tranh thế giới thứ nhất.
17 – Dựa vào sơ đồ phân hoá giai cấp, hãy cho biết trong xã hội Kiên Giang có những giai cấp nào? 2. Phong trào cách mạng từ năm 1919 đến năm 1939 Từ năm 1919 đến năm 1929, phong trào yêu nước ở Kiên Giang có sự phát triển. Tháng 6 – 1930, Chi bộ Hội Việt Nam Cách mạng ở Mỹ Quới chuyển thành Chi bộ Cộng sản. Đây là Chi bộ Cộng sản đầu tiên của tỉnh Rạch Giá.
Cuối năm 1930 đến đầu năm 1931, thực dân Pháp thực hiện chính sách khủng bố, đàn áp phong trào cách mạng trên cả nước. Nhiều đảng viên các nơi khác đã bí mật rút về Rạch Giá – Hà Tiên hoạt động để gây dựng lại cơ sở và phong trào. Đến năm 1935 tỉnh Rạch Giá có 10 chi bộ như: Ranh Hạt, Ninh Quới, Vĩnh Phú, Vĩnh Phong,. năm 1936, Quận uỷ Phước Long được thành lập.
Năm 1938, nông dân Mỹ Quới, Vĩnh Quới, Vĩnh Thuận (quận Phước Long) đấu tranh đòi cứu đói, hoãn thuế, đòi địa chủ phải cho nông dân vay lúa,. Nông dân các xã Lâm Sơn, Sóc Sơn, Tân Hội (quận Châu Thành) đấu tranh chống tên trạng sư người Pháp La Cu-tua và một số địa chủ cướp đất. Các cuộc đấu tranh này thu hút hàng ngàn người tham gia. Cuộc đấu tranh của công nhân nhà máy xay sát Bùi Quang Đài ở thị xã Rạch Giá đòi tăng lương, giảm giờ làm, chống hành động cúp phạt đối với công nhân.
Hội Phật học Kiêm Tế Rạch Giá thành lập, trụ sở chùa Tam Bảo, tháng 1 – 1938, Hội ra tạp chí Tiến hoá, công khai tuyên truyền và cổ động cho phong trào Mặt trận dân chủ Đông Dương, tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lê-nin. Qua đấu tranh, vai trò lãnh đạo của Đảng ngày càng được khẳng định, quần chúng nhân dân được giác ngộ cách mạng. Hãy nêu những nét chính về phong trào cách mạng ở Rạch Giá và Hà Tiên trong những năm 1930 – 1939 3. Phong trào giải phóng dân tộc (1940 – 1945) và Cách mạng tháng Tám năm 1945 a) Phong trào giải phóng dân tộc (1940 – 1945) ở Kiên Giang Thực hiện chủ trương khởi nghĩa của Xứ uỷ Nam Kỳ, tại Rạch Giá, các chi bộ Đảng ở quận Phước Long, Châu Thành, thị xã Rạch Giá ráo riết chuẩn bị khởi 18 nghĩa Nam Kì nổ ra vào ngày 23–11–1940.
Tuy nhiên điều kiện khởi nghĩa chưa thuận lợi, nên Trung ương Đảng chủ trương hoãn cuộc khởi nghĩa. Tháng 1–1941, Liên tỉnh uỷ vùng Hậu Giang quyết định chọn rừng U Minh Thượng làm căn cứ của toàn vùng và giao cho Đảng bộ Rạch giá xây dựng căn cứ. Thời gian này, Tỉnh uỷ lâm thời Rạch Giá được thành lập, đánh dấu bước phát triển mới của phong trào cách mạng. Chùa Tam Bảo ở thị xã Rạch Giá trở thành đầu mối thông tin liên lạc, là nơi cất dấu vũ khí từ rừng U Minh Thượng đưa về.
Di tích lịch sử cách mạng U Minh Thượng – một địa danh nằm trải dài trên địa phận các huyện U Minh Thượng, Vĩnh Thuận, An Minh, An Biên (thuộc vùng bán đảo Cà Mau). Đây là một trong những căn cứ địa lớn nhất của miền Nam, có giá trị truyền thống cách mạng. Di tích lịch sử cách mạng U Minh Thượng Từ năm 1942 – 1944, phong trào cách mạng ở Rạch Giá và Hà Tiên được phục hồi. Các tổ chức Đảng và quần chúng cách mạng có bước phát triển mới, sẵn sàng tiến tới Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945.
Chùa Tam Bảo ở Rạch Giá đã được phục dựng 19 b) Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 ở Kiên Giang Ngay sau khi Nhật đảo chính Pháp, chính quyền Pháp ở Rạch Giá – Kiên Giang bị sụp đổ, Đảng nắm cơ hội, hướng dẫn nhân dân gấp rút chuẩn bị tổng khởi nghĩa lật đổ chính quyền địch, thành lập chính quyền cách mạng. Các tổ chức cứu quốc trong Mặt trận Việt Minh như Thanh niên Cứu quốc, Phụ nữ Cứu quốc,. tăng cường hoạt động. Ngày 15 – 8 – 1945, Uỷ ban khởi nghĩa hai tỉnh Rạch Giá và Hà Tiên được thành lập, quyết định phát động toàn dân nổi dậy giành chính quyền vào ngày 27 – 8 – 1945.
Ở Rạch Giá, sáng ngày 27 tháng 8, sau cuộc mít tinh của 60 ngàn người tại trung tâm thị xã Rạch Giá, Uỷ ban khởi nghĩa tuyên bố xoá bỏ chính quyền cũ, thành lập chính quyền cách mạng. Các quận Phước Long cách mạng giành thắng lợi, quận An Biên (28 – 8). Ở thị xã Hà Tiên, khoảng 4 000 quần chúng có tổ chức từ Hòn Chông và các xã lân cận dưới sự điều hành của Uỷ ban khởi nghĩa kéo vào thị xã biểu tình thị uy, Uỷ ban nhân dân lâm thời tỉnh Hà Tiên ra mắt đồng bào. Các địa phương còn lại của tỉnh Rạch Giá và Hà Tiên cũng nổi dậy lật đổ chính quyền địch và thành lập chính quyền cách mạng.
Thắng lợi ở hai tỉnh Rạch Giá và Hà Tiên là một trong những tỉnh cuối cùng của Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám năm 1945. Cách mạng ngày 27 tháng Tám năm 1945 ở Rạch Giá (Kiên Giang) Tóm tắt phong trào giải phóng dân tộc ở hai tỉnh Rạch Giá và Hà Tiên. Kiên Giang trong thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954) a) Kiên Giang trong hơn 1 năm đầu sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 Ngay trong ngày giành được chính quyền, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh ở Rạch Giá và Hà Tiên được thành lập, sau đó là Uỷ ban nhân dân cấp quận và xã. Ngày 6 – 1 – 1946, nhân dân hai tỉnh Rạch Giá và Hà Tiên bầu cử Quốc hội khoá đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Kết quả: có 4 đại biểu tỉnh Rạch Giá và 1 đại biểu tỉnh Hà Tiên trúng cử. Ngày 20 – 1 – 1946, thực dân Pháp đánh chiếm Hà Tiên, ngày 26 – 1 – 1946, đánh Rạch Giá, Minh Lương, An Biên. Quân dân Hà Tiên – Rạch Giá kết hợp cùng với lực lượng Khu IX và một số tỉnh bạn bước đầu đánh bại âm mưu “đánh nhanh thắng nhanh” của giặc Pháp và rút lui và rừng U Minh chuẩn bị cho kháng chiến lâu dài. Phong trào diệt “giặc đói”, “giặc dốt” và giải quyết khó khăn về tài chính được đẩy mạnh: vận động “nhường cơm xẻ áo”, tương trợ lẫn nhau, lấy lúa gạo ở kho của Nhật và địa chủ chia cho dân thiếu đói, thực hiện cấp đất của tư bản Pháp cho dân cày; thực hiện phong trào giảm tô cho nông dân.
Nhờ đó, nạn đói bị đẩy lùi, đời sống nhân dân ổn định. Thực hiện sắc lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh về diệt “giặc dốt”, từ tỉnh đến cơ sở lập các ban bình dân học vụ, vận động nhân dân học chữ Quốc ngữ, xoá bỏ tệ nạn xã hội. Nhân dân Hà Tiên và Rạch Giá nhiệt tình tham gia phong trào “Tuần lễ vàng”. Đến ngày 10 – 1 – 1946, hai tỉnh giao về cho Trung ương 3,523 kg vàng và 16,950 kg bạc cùng nhiều đồ trang sức có giá trị.b) Kiên Giang thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 – 1954) Từ tháng 5 đến tháng 6-1946, lực lượng vũ trang xã Vĩnh Thạnh (huyện Giồng Riềng) và các xã Vĩnh Hoà, Gò Quao (nay thuộc U Minh Thượng) tổ chức các cuộc phản công tiêu diệt hàng trăm tên địch, thu nhiều vũ khí.
Trong những năm 1947 – 1948: quân dân hai tỉnh Rạch Giá và Hà Tiên tiếp tục tổ chức nhiều cuộc tiến công địch giành thắng lợi. Căn cứ kháng chiến U 21 Minh Thượng đã trở thành hậu phương trong kháng chiến chống Pháp ở miền Tây Nam Bộ. Từ cuối năm 1949 đến tháng 7 năm 1954, Xứ uỷ Nam bộ, sau đó là Trung ương cục miền Nam và các cơ quan của Uỷ ban kháng chiến hành chính Nam Bộ trở về căn cứ rừng U Minh. Ngày 7 – 5 – 1954, quân dân Hà Tiên và Rạch Giá liên tục tấn công địch.
Tiểu đoàn 307 phối hợp với quân dân địa phương tiêu diệt, bức rút các đồn bốt trên quốc lộ 8 A (Rạch Giá – Tri Tôn), đến cuối tháng 6 – 1954, trên địa bàn Rạch Giá – Hà Tiên ta đã giải phóng được 5/6 diện tích đất đai. Hiệp định Giơ-ne-vơ về kết thúc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp được kí kết (21 – 7 – 1954), Rạch Giá và Hà Tiên được giải phóng.