Tổng quan nghiên cứu

Trong tiến trình phát triển kinh tế, nguồn nhân lực luôn giữ vai trò trung tâm quyết định tốc độ và chất lượng tăng trưởng của mỗi địa phương. Tại tỉnh Kiên Giang, năm 1998 ghi nhận quy mô dân số đạt 1.550.000 người, trong đó lực lượng trong độ tuổi lao động đạt 851.223 người, chiếm tỷ lệ 57,6% tổng dân số. Tốc độ tăng dân số tự nhiên bình quân duy trì ở mức cao 2,36%/năm tạo ra nguồn cung lao động dồi dào, song cũng đặt ra áp lực nặng nề khi mỗi năm có khoảng 38.000 người bước vào độ tuổi lao động. Thực trạng thị trường lao động địa phương giai đoạn 1991 - 1998 bộc lộ sự mất cân đối nghiêm trọng giữa tốc độ gia tăng nhân lực và năng lực tạo việc làm mới của nền kinh tế, dẫn đến số lượng người thất nghiệp thường xuyên duy trì ở mức 34.000 đến 36.000 người mỗi năm, tương ứng tỷ lệ thất nghiệp dao động từ 5,35% đến 6,82%. Đáng chú ý, có tới 88,34% số người thất nghiệp tập trung tại khu vực nông thôn và gần 70% thuộc nhóm tuổi thanh niên từ 15 đến 34 tuổi.

Vấn đề cốt lõi của nghiên cứu là giải quyết mối quan hệ biện chứng giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế và bài toán giải quyết việc làm bền vững cho người lao động tại Kiên Giang. Mục tiêu trọng tâm của đề tài là phân tích toàn diện thực trạng cung - cầu lao động, đánh giá các nhân tố kinh tế - xã hội tác động trực tiếp đến việc làm, từ đó xác lập hệ thống giải pháp đồng bộ giai đoạn 2000 - 2005. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các ngành kinh tế trọng điểm trên địa bàn toàn tỉnh Kiên Giang xuyên suốt thập niên đổi mới. Luận văn mang lại ý nghĩa thực tiễn to lớn thông qua việc xác định lộ trình giảm tỷ lệ thất nghiệp thành thị xuống dưới 5%, nâng cao tỷ lệ sử dụng thời gian lao động nông thôn từ mức 69,61% lên trên 80%, đồng thời thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động từ khu vực nông - lâm - thủy sản sang công nghiệp và dịch vụ giá trị cao.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng nền tảng nghiên cứu dựa trên hệ thống lý luận kinh tế chính trị Mác - Lênin và các lý thuyết kinh tế học hiện đại về thị trường lao động. Trọng tâm là lý thuyết việc làm của John Maynard Keynes, xem tổng cầu là nhân tố quyết định quy mô việc làm của nền kinh tế, chỉ ra rằng sự can thiệp của Nhà nước thông qua chính sách đầu tư công và kích cầu là điều kiện tiên quyết để giải quyết nạn thất nghiệp chu kỳ. Bên cạnh đó, nghiên cứu vận dụng quy luật Okun trong kinh tế vĩ mô, khẳng định mối tương quan chặt chẽ khi GDP thực tế giảm 2% so với GDP tiềm năng thì tỷ lệ thất nghiệp sẽ tăng thêm khoảng 1%.

Khung lý thuyết cũng làm rõ các khái niệm cốt lõi:

  • Lao động và nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực được xác định là toàn bộ bộ phận dân số trong độ tuổi luật định có khả năng lao động, phản ánh cả số lượng và chất lượng thể lực, trí lực.
  • Việc làm theo quy định pháp lý: Căn cứ Điều 13 Bộ Luật Lao động Việt Nam, việc làm được định nghĩa là mọi hoạt động lao động tạo ra thu nhập hợp pháp mà pháp luật không ngăn cấm, mở rộng không gian việc làm ra cả khu vực kinh tế tư nhân và hộ cá thể.
  • Thất nghiệp và khiếm dụng lao động: Vận dụng phân loại của Paul Samuelson và chuẩn mực của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) để phân định rõ thất nghiệp tự nguyện, thất nghiệp cơ cấu và trạng thái thiếu việc làm (khiếm dụng lao động) khi người lao động làm việc dưới mức thời gian tiêu chuẩn và có thu nhập không bảo đảm mức sống.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp giai đoạn 1991 - 1998 thu thập từ Cục Thống kê tỉnh Kiên Giang, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Công an tỉnh và Tỉnh Đoàn Kiên Giang, cùng nguồn dữ liệu sơ cấp từ cuộc khảo sát lao động việc làm toàn tỉnh.

Cỡ mẫu khảo sát thực tế được thực hiện với 2.648 thanh niên trong độ tuổi lao động và 17 cơ sở đào tạo nghề, trung tâm hướng nghiệp trên địa bàn 11 huyện, thị xã trọng điểm như thị xã Rạch Giá, huyện Hà Tiên, Kiên Lương, Châu Thành, Giồng Riềng, Tân Hiệp, Phú Quốc, Vĩnh Thuận. Phương pháp chọn mẫu phân tầng theo khu vực địa lý và cơ cấu ngành nghề được áp dụng nhằm phản ánh chính xác sự khác biệt giữa đô thị, vùng nông thôn thuần nông và vùng duyên hải hải đảo.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả kết hợp phương pháp duy vật biện chứng và so sánh tương quan là nhằm làm rõ mối quan hệ giữa các biến số kinh tế vĩ mô (tăng trưởng GDP, cơ cấu đầu tư) với các chỉ số việc làm thực tế. Toàn bộ quá trình thu thập và xử lý số liệu được triển khai trong timeline nghiên cứu từ năm 1997 đến năm 1999.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích thực chứng đã rút ra những phát hiện then chốt sau:

Thứ nhất, cơ cấu việc làm phân bổ không đồng đều và mất cân đối nghiêm trọng so với cơ cấu giá trị sản xuất. Năm 1998, ngành nông - lâm nghiệp Kiên Giang đóng góp 41,16% tổng sản phẩm trên địa bàn (GDP), tương đương 2.698 tỷ đồng, nhưng lại thu hút tới 518.817 lao động, chiếm 74,76% tổng lực lượng lao động đang làm việc. Tính trung bình, để tạo ra 1 tỷ đồng GDP ngành nông - lâm nghiệp cần đến 192 lao động. Ngược lại, ngành công nghiệp đóng góp 1.391 tỷ đồng GDP (chiếm 21,22%) nhưng chỉ sử dụng 34.294 lao động (khoảng 4,9%), tức chỉ cần 25 lao động để tạo ra 1 tỷ đồng GDP. Năng suất lao động ngành công nghiệp cao gấp 7,6 lần ngành nông nghiệp. Đồng thời, tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở khu vực nông thôn chỉ đạt 69,61%, đồng nghĩa với việc quỹ thời gian nhàn rỗi lên đến 30,39%.

Thứ hai, khu vực kinh tế tư nhân giữ vai trò trụ cột tuyệt đối trong việc tạo sinh kế cho xã hội. Năm 1998, khu vực tư nhân và hộ cá thể thu hút 677.862 lao động, chiếm 95,3% tổng số lao động toàn tỉnh, duy trì mức tăng bình quân hơn 16.000 chỗ làm việc mới mỗi năm. Trong khi đó, khu vực công sau quá trình sắp xếp lại theo Quyết định 111/HĐBT và Quyết định 315/HĐBT chỉ tiếp nhận 34.400 lao động, chiếm tỷ lệ khiêm tốn 4,7%.

Thứ ba, nghịch lý thừa lao động phổ thông nhưng thiếu hụt trầm trọng nhân lực kỹ thuật cao. Thống kê năm 1997 cho thấy tỷ lệ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật trong nền kinh tế cực kỳ thấp: công nhân kỹ thuật chiếm 2,34%, trung học chuyên nghiệp chiếm 1,64%, trình độ cao đẳng và đại học chỉ chiếm 0,45%, trên đại học vỏn vẹn 0,01%. Khảo sát 2.648 lao động thanh niên cho thấy tỷ lệ chưa qua đào tạo chuyên môn lên tới trên 70% tại khu vực thành thị và trên 85% tại các huyện nông thôn như Vĩnh Thuận (93%), Hòn Đất (91%), An Biên (88%).

+-------------------------------------------------------------------------+
|    TỔNG HỢP CƠ CẤU LAO ĐỘNG VÀ ĐÓNG GÓP GDP THEO NGÀNH (NĂM 1998)       |
+----------------------+--------------------+-----------------------------+
| Ngành kinh tế        | Tỷ trọng GDP (%)   | Tỷ trọng Lao động (%)       |
+----------------------+--------------------+-----------------------------+
| Nông - Lâm nghiệp    | 41,16%             | 74,76% (518.817 người)      |
| Công nghiệp          | 21,22%             | 4,94%  (34.294 người)       |
| Thương mại - Dịch vụ | 15,77%             | 8,51%  (59.030 người)       |
| GTVT và ngành khác   | 21,85%             | 11,79% (81.856 người)       |
+----------------------+--------------------+-----------------------------+

Thảo luận kết quả

Thực trạng trên bắt nguồn từ điểm xuất phát kinh tế thấp, cơ sở hạ tầng phân tán và mạng lưới đào tạo nghề còn lạc hậu. Toàn tỉnh chỉ có 01 trường trung học kinh tế kỹ thuật chính quy, 01 trung tâm dịch vụ việc làm và 14 trung tâm hướng nghiệp dạy nghề cấp huyện với trang thiết bị cũ kỹ, chủ yếu đào tạo chứng chỉ ngắn hạn dưới 6 tháng. Khi đối chiếu với các tỉnh trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long, trình độ lao động kỹ thuật của Kiên Giang tụt hậu rõ rệt: tỷ lệ lao động kỹ thuật của Cần Thơ cao gấp 1,5 lần, Long An gấp 2 lần và Tiền Giang gấp 2,5 lần so với Kiên Giang.

Hệ quả là tình trạng mất cân đối cục bộ diễn ra gay gắt. Điển hình trong thực tế, khi Nhà máy xi măng Sao Mai có nhu cầu tuyển dụng hơn 50 kỹ sư và thợ kỹ thuật bậc cao, các cơ sở việc làm địa phương hoàn toàn không thể cung ứng, buộc doanh nghiệp phải tuyển dụng nhân sự ngoài tỉnh. Trong khi đó, hàng năm có gần 1.000 lao động phổ thông đăng ký tại Trung tâm dịch vụ việc làm nhưng không tìm được việc do thiếu kỹ năng. Dữ liệu này có thể được mô hình hóa qua biểu đồ cột thể hiện sự chênh lệch cung - cầu kỹ năng và bảng phân tích cán cân việc làm theo từng đơn vị hành chính, khẳng định tính cấp thiết của việc tái cấu trúc hệ thống đào tạo nghề gắn liền với quy hoạch công nghiệp hóa.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu, 4 nhóm giải pháp chiến lược được đề xuất nhằm giải quyết việc làm tại Kiên Giang giai đoạn 2000 - 2005:

  1. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn gắn với chế biến nông - thủy sản: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp cùng Ủy ban nhân dân các huyện triển khai mô hình thâm canh tăng vụ, phát triển nuôi trồng thủy sản nước lợ tại Tứ giác Long Xuyên và Bán đảo Cà Mau. Target metric: Giảm tỷ lệ thời gian nông nhàn từ 30,39% xuống dưới 15%, tạo việc làm tại chỗ cho khoảng 15.000 lao động mỗi năm; hoàn thành trong giai đoạn 2001 - 2004.
  2. Nâng cấp mạng lưới cơ sở đào tạo nghề và gắn kết đào tạo với doanh nghiệp: Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì nâng cấp Trường Trung học Kinh tế Kỹ thuật Kiên Giang thành trường cao đẳng nghề, hiện đại hóa 14 trung tâm hướng nghiệp cấp huyện. Target metric: Nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật từ 2,76% lên 15% vào năm 2005, cam kết 80% học viên tốt nghiệp có việc làm đúng chuyên ngành.
  3. Hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển khu vực kinh tế tư nhân và làng nghề: Sở Kế hoạch và Đầu tư kết hợp hệ thống Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Kiên Giang mở rộng Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm, áp dụng ưu đãi thuế và mặt bằng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Target metric: Duy trì tốc độ tạo việc làm mới khu vực tư nhân đạt 20.000 - 25.000 chỗ làm việc/năm xuyên suốt timeline 2000 - 2005.
  4. Phát triển kinh tế biển đảo và điều chuyển lao động hợp lý: Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang chỉ đạo quy hoạch phát triển du lịch, dịch vụ cảng biển tại Phú Quốc và Hà Tiên, kết hợp đánh bắt xa bờ. Target metric: Thu hút và luân chuyển 10.000 - 15.000 lao động nông thôn sang các ngành du lịch và dịch vụ biển trong giai đoạn 2002 - 2005.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn cung cấp nguồn tài liệu toàn diện, giàu số liệu thực chứng phục vụ 4 nhóm đối tượng:

  1. Cơ quan hoạch định chính sách cấp tỉnh (Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Kế hoạch và Đầu tư Kiên Giang): Sử dụng báo cáo phân tích thực trạng cung - cầu làm căn cứ khoa học để xây dựng Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực và Đề án giải quyết việc làm giai đoạn 5 năm.
  2. Ban quản lý các khu công nghiệp và doanh nghiệp tại Kiên Giang: Tham khảo bức tranh cơ cấu nhân lực và thực trạng tay nghề để thiết kế chương trình đào tạo nội bộ, chủ động hợp tác với các trường nghề trong tuyển dụng.
  3. Giảng viên và nhà nghiên cứu chuyên ngành Kinh tế chính trị, Kinh tế phát triển: Khai thác phương pháp phân tích liên ngành, mô hình tính toán năng suất biên của lao động giữa các ngành kinh tế cấp địa phương làm tài liệu giảng dạy.
  4. Học viên cao học và sinh viên khối ngành Kinh tế, Quản lý công: Tiếp cận phương pháp thiết kế mẫu khảo sát phân tầng thực địa và phương pháp xử lý dữ liệu thống kê kinh tế - xã hội phục vụ viết luận văn tốt nghiệp.

Câu hỏi thường gặp

Áp lực giải quyết việc làm lớn nhất tại Kiên Giang trong giai đoạn nghiên cứu là gì? Áp lực lớn nhất xuất phát từ tốc độ tăng dân số tự nhiên cao 2,36%/năm, khiến mỗi năm có khoảng 38.000 người bước vào độ tuổi lao động. Nền kinh tế chỉ tạo ra khoảng 17.000 chỗ làm mới mỗi năm, dẫn đến số người thất nghiệp thường xuyên duy trì ở mức 34.000 - 36.000 người.

Tại sao tỉnh Kiên Giang tồn tại nghịch lý vừa thừa vừa thiếu lao động? Nghịch lý này do cơ cấu đào tạo chưa tương thích với nhu cầu thị trường. Tỉnh thừa lao động phổ thông chưa qua đào tạo (chiếm hơn 95%), nhưng lại thiếu nghiêm trọng nhân lực kỹ thuật cao khi tỷ lệ lao động có trình độ đại học chỉ đạt 0,45%, khiến các dự án công nghiệp lớn như Xi măng Sao Mai không tuyển được kỹ sư tại chỗ.

Khu vực kinh tế nào đóng vai trò chủ lực trong tạo việc làm tại Kiên Giang? Khu vực kinh tế tư nhân và kinh tế hộ gia đình giữ vai trò áp đảo, thu hút 677.862 lao động vào năm 1998, chiếm 95,3% tổng số lao động đang làm việc toàn tỉnh và tạo thêm hơn 16.000 chỗ làm việc mới mỗi năm, vượt trội hoàn toàn so với khu vực công (4,7%).

Trình độ lao động kỹ thuật Kiên Giang đứng ở đâu so với các tỉnh lân cận? Kiên Giang thuộc nhóm có tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. So sánh chỉ số công nhân kỹ thuật và chuyên môn, Cần Thơ cao gấp 1,5 lần, Long An cao gấp 2 lần và Tiền Giang cao gấp 2,5 lần so với tỷ lệ của Kiên Giang (chỉ đạt 2,76%).

Năng suất tạo GDP của lao động ngành công nghiệp và nông nghiệp chênh lệch ra sao? Năm 1998, để tạo ra 1 tỷ đồng GDP, ngành nông nghiệp Kiên Giang cần tới 192 lao động do phương thức sản xuất còn thô sơ. Trong khi đó, ngành công nghiệp chỉ cần 25 lao động để tạo ra 1 tỷ đồng GDP, chứng minh năng suất lao động công nghiệp cao gấp 7,6 lần nông nghiệp.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận kinh tế chính trị về lao động, việc làm và quy luật cung - cầu nhân lực trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
  • Phân tích chi tiết thực trạng thị trường lao động Kiên Giang giai đoạn 1991 - 1998, chỉ rõ tỷ lệ thất nghiệp 5,35% - 6,82% và tình trạng khiếm dụng lao động nông thôn lên tới 30,39%.
  • Chỉ ra nguyên nhân cốt lõi gây mất cân đối cung - cầu là do chất lượng đào tạo nghề thấp với 97,24% lao động chưa qua đào tạo kỹ thuật chính quy.
  • Khẳng định vai trò quyết định của khu vực kinh tế tư nhân trong việc hấp thụ 95,3% lực lượng lao động xã hội trên địa bàn.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp đột phá gắn chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi với công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nâng cấp mạng lưới trường nghề.

Đóng góp lớn nhất của công trình là cung cấp luận cứ khoa học thực chứng giúp các nhà quản lý Kiên Giang xây dựng chính sách việc làm thích ứng với tiến trình hội nhập. Các bước tiếp theo cần tập trung số hóa dữ liệu thị trường lao động, mở rộng quy mô vốn vay giải quyết việc làm và đẩy nhanh tiến độ đầu tư các trung tâm kỹ thuật công nghệ cao giai đoạn 2001 - 2005. Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và bạn đọc quan tâm có thể ứng dụng trực tiếp các mô hình phân tích trong luận văn để nâng cao hiệu quả quản trị nguồn nhân lực tại địa phương.