Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Du lịch tâm linh gắn liền với các hoạt động hành hương tại các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, đền chùa và việc tham dự các lễ hội truyền thống. Tại Việt Nam, loại hình này đang trở thành một xu hướng phổ biến trong đời sống văn hóa xã hội. Tỉnh Hà Nam sở hữu vị trí địa lý thuận lợi tại cửa ngõ phía Nam của Thủ đô Hà Nội, nằm trong vùng Đồng bằng sông Hồng và trên tuyến du lịch xuyên Việt. Địa phương này mang nét văn hóa đặc trưng của cư dân vùng trũng ngập úng với nhiều tài nguyên du lịch nhân văn giá trị. Tuy nhiên, hoạt động du lịch nói chung và du lịch tâm linh nói riêng tại Hà Nam vẫn còn phát triển yếu, thiếu tính đồng đều so với các tỉnh lân cận, chưa khai thác tương xứng với tiềm năng hiện có.

Trong hệ thống tài nguyên du lịch tâm linh của tỉnh Hà Nam, di tích chùa Long Đọi Sơn (huyện Duy Tiên) là điểm đến tiêu biểu với bề dày lịch sử từ thời Lý, chứa đựng các giá trị kiến trúc, văn hóa nghệ thuật và cảnh quan thiên nhiên. Nhằm phân tích thực trạng và đưa ra các định hướng khai thác hiệu quả di tích này, đề tài "Phát triển du lịch tâm linh chùa Long Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam" đã được thực hiện.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của khóa luận là hệ thống hóa cơ sở lý luận về du lịch và du lịch tâm linh; phân tích thực trạng khai thác du lịch tại chùa Long Đọi Sơn; từ đó đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển du lịch tâm linh tại điểm đến. Để hoàn thành mục tiêu trên, khóa luận xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về tâm linh, du lịch tâm linh và các đặc điểm của du lịch tâm linh nhằm nhận định đúng bản chất của loại hình này.
  2. Nghiên cứu, đánh giá các điều kiện phát triển du lịch tâm linh như: nhu cầu của du khách, tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng - vật chất kỹ thuật, nguồn nhân lực và xu hướng phát triển hiện nay.
  3. Phân tích thực trạng hoạt động du lịch tâm linh tại chùa Long Đọi Sơn và đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm phát triển du lịch tâm linh tại khu di tích.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu được xác định rõ ràng:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động du lịch tâm linh tại chùa Long Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.
  • Phạm vi không gian: Khu vực di tích chùa Long Đọi Sơn thuộc xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.
  • Phạm vi thời gian: Các tài liệu và số liệu thứ cấp được thu thập từ năm 2000 đến năm 2012, trong đó tập trung phân tích sâu các số liệu từ năm 2006 đến thời điểm thực hiện khóa luận.

Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận xây dựng nền tảng lý luận dựa trên các quy định pháp luật hiện hành và các công trình nghiên cứu chuyên ngành về văn hóa, địa lý và du lịch. Khái niệm du lịch và tài nguyên du lịch được trích dẫn chuẩn xác theo Luật Du lịch Việt Nam năm 2017 (Khoản 1 Điều 3; Khoản 4 Điều 3; Điều 13; Khoản 1 Điều 15), kết hợp định nghĩa địa lý du lịch của học giả Belaus. Tác giả xác định du lịch tâm linh là một nhánh của du lịch văn hóa, lấy văn hóa tâm linh làm nền tảng và mục tiêu để thỏa mãn nhu cầu tinh thần, củng cố đức tin và hướng tới các giá trị chân - thiện - mỹ.

Nhóm nội dung lý thuyết Cơ sở văn bản / Học giả tham chiếu Nội dung học thuật cốt lõi
Khái niệm du lịch & tài nguyên Luật Du lịch Việt Nam (2017), Học giả Belaus Phân định du lịch tự nhiên (địa hình, khí hậu, nước, sinh vật) và nhân văn (vật thể, phi vật thể).
Văn hóa & Tâm thức tâm linh Trần Ngọc Thêm (2006), Hoàng Quốc Hải (2005), Chu Huy (2008), Nguyễn Văn Tân (2014) Nhận diện bản sắc văn hóa Việt Nam, tín ngưỡng thờ cúng, tri ân tổ tiên và lễ hội đền chùa.
Quản lý du lịch tâm linh Các hội thảo khoa học của Bộ VHTTDL (2013, 2015), Phân viện Nghiên cứu Phật học (2015) Cơ sở quản lý tuyến điểm du lịch tâm linh liên tỉnh vùng Đồng bằng sông Hồng và bảo tồn di sản bền vững.
Nguồn nhân lực du lịch ThS. Vũ Thành Long Đánh giá thực trạng nhân lực du lịch thời kỳ công nghiệp 4.0 và yêu cầu đào tạo chuyên môn, ngoại ngữ.
Địa chí & Lịch sử di tích Địa chí Hà Nam (2002), Hà Nam di tích và danh thắng (2003), ĐĐ. Thích Thanh Vũ (2005) Khảo cứu lịch sử chùa Đọi, bảo tháp Sùng Thiện Diên Linh và các giá trị di sản địa phương.

Để giải quyết các nhiệm vụ đề ra, tác giả sử dụng phối hợp 3 phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu thứ cấp: Kế thừa số liệu từ niên giám thống kê, báo cáo của Sở Du lịch tỉnh Hà Nam, các văn bản pháp quy, sách chuyên khảo của các nhà xuất bản uy tín và kỷ yếu hội thảo chuyên ngành.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Chọn lọc, phân loại và hệ thống hóa tư liệu lịch sử, văn hóa, so sánh mô hình phát triển du lịch tâm linh giữa các địa phương để rút ra bài học kinh nghiệm.
  • Phương pháp điền dã: Khảo sát thực địa tại khuôn viên chùa Long Đọi Sơn và khu vực phụ cận; tiến hành phát phiếu điều tra thu thập ý kiến trực tiếp từ du khách về độ tuổi, thời điểm tham quan, cự ly di chuyển và khả năng kết nối tuyến điểm.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về du lịch tâm linh

Chương 1 làm rõ hệ thống lý thuyết về loại hình du lịch tâm linh với các luận điểm chính:

  • Đặc điểm du lịch tâm linh tại Việt Nam: Khóa luận chỉ ra 4 đặc trưng cơ bản gồm: (1) Gắn liền với tôn giáo và đức tin (Phật giáo chiếm ưu thế với 90% cơ sở tín ngưỡng); (2) Gắn liền với đạo lý "Uống nước nhớ nguồn", tri ân các anh hùng dân tộc và người có công với đất nước; (3) Gắn với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, dòng tộc và đạo hiếu; (4) Kết hợp với các liệu pháp tinh thần như thiền (tiêu biểu là Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử) hoặc yoga. Ngoài ra, loại hình này mang tính mùa vụ rõ rệt, tập trung cao điểm vào tháng Giêng và các dịp lễ hội đầu xuân.
  • Điều kiện phát triển: Phân tích nhu cầu đa dạng của khách nội địa (tìm kiếm sự thanh thản, cầu an, tìm hiểu kiến trúc) và khách quốc tế (khám phá văn hóa bản địa); đánh giá vai trò của tài nguyên tự nhiên, tài nguyên nhân văn, hệ thống hạ tầng giao thông, thông tin liên lạc, dịch vụ lưu trú, ẩm thực chay; nêu rõ thực trạng thiếu hụt nhân lực du lịch chất lượng cao tại các điểm đến.
  • Vai trò kinh tế - xã hội: Du lịch tâm linh thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, tạo việc làm và thu nhập trực tiếp cho người dân địa phương thông qua dịch vụ chèo đò, bán hàng lưu niệm, dịch vụ ăn uống, đồng thời góp phần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường sinh thái.

Chương 2: Thực trạng khai thác du lịch tâm linh tại chùa Long Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam

Chương 2 tập trung khảo cứu toàn diện lịch sử, kiến trúc, hệ thống di vật và thực trạng hoạt động đón khách tại điểm di tích:

  • Vị trí và cảnh quan: Chùa Long Đọi Sơn (tên chữ là Diên Linh Tự) tọa lạc trên đỉnh núi Đọi cao gần 80m thuộc thôn Đọi Nhất, xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, cách sông Châu 500m về phía Tây. Núi Đọi nằm ở thế đất "Cửu Long", khuôn viên chùa rộng 2 ha vườn rừng, chính diện quay về hướng Nam, phía Bắc hướng về Thăng Long, phía Tây trông về chùa Hương Tích. Xung quanh chân núi có 9 chiếc giếng cổ xếp bằng đá (hiện còn 7 giếng nguyên vẹn) gắn với truyền thuyết mắt rồng.
  • Lịch sử hình thành và trùng tu: Chùa được xây dựng từ năm 1054 dưới triều vua Lý Thánh Tông và Vương phi Ỷ Lan (do Tể tướng Dương Đại Gia và Thiền sư Đàm Cứu Chỉ chỉ huy xây dựng). Năm 1118, vua Lý Nhân Tông mở rộng quy mô và cho dựng bảo tháp Sùng Thiện Diên Linh 13 tầng (khánh thành năm 1122, văn bia lập năm 1121 do Nguyễn Công Bật soạn). Năm 1467, vua Lê Thánh Tông phong tặng danh hiệu "Nam thiên đệ tam động". Sau khi bị quân Minh phá hủy, chùa được trùng tu vào năm 1591 dưới triều Mạc Mậu Hợp nhờ công lao của Đại đức Thích Hải Triều. Đến năm 1840 (thời Nguyễn), sư tổ Thích Chiếu Thường quy hoạch mở rộng chùa thành 125 gian, biến nơi đây thành trường Bắc Kỳ Phật giáo. Năm 1947, chùa bị phá hủy trong kháng chiến tiêu thổ và bắt đầu được nhân dân tôn tạo lại từ năm 1957. Ngày 10/4/1992, Bộ Văn hóa Thông tin ban hành Quyết định số 519/CP công nhận chùa là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.
  • Kiến trúc và mô hình thờ tự: Chùa mang bố cục "tiền Phật hậu Thánh/Chúa/Mẫu". Các hạng mục gồm: Tòa Tam quan 5 gian (dựng năm 2004 bằng gỗ lim theo phong cách triều Nguyễn), bàn cờ người 50m², nhà bia, sân chùa qua 24 bậc đá, tòa Tam Bảo (7 gian bái đường, 3 gian thượng điện), 2 dãy nhà Đồng tội đắp cảnh Thập điện Diêm Vương, hành lang Thập bát La Hán hình chữ U, Hậu điện thờ Nhị vị Đức Chúa (Lý Thường Kiệt và Lý Nhân Tông) cùng Thái hậu Phù Thánh Linh Nhân (Ỷ Lan - người từng cúng 72 mẫu ruộng cho chùa), 5 gian nhà Tổ thờ 10 đời sư tổ, am phủ 3 gian thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh và khu vườn tháp phía Tây gồm hơn 200 ngôi mộ tháp.
  • Di vật quý giá thời Lý:
    • Bia đá Sùng Thiện Diên Linh: Được Thủ tướng Chính phủ công nhận là Bảo vật quốc gia theo Quyết định số 2599/QĐ-TTg ngày 30/12/2013. Bia cao 2,5m (tổng thể 2,88m), rộng 1,65m (tổng thể 1,8m), dày 0,3m - 0,5m. Văn bia gồm 4.257 chữ Hán do Nguyễn Công Bật soạn và Lý Bảo Cung viết chữ. Bệ bia tạc hình 4 con rồng nước uốn lượn thay cho hình tượng rùa truyền thống.
    • Hệ thống tượng Kim Cương: Gồm 6 pho tượng Bát vị Kim Cương bằng sa thạch nguyên khối cao tương đương người thật (~1,6m), vận giáp trụ võ quan thời Lý, ngực áo trang trí hoa cúc và xoáy ốc.
    • Tượng Kinari (đầu người mình chim): Gồm 2 tiêu bản bằng đá ráp màu xám (cao 52cm, rộng 31cm, nặng khoảng 35kg), tay cầm não bạt trước ngực, phản ánh sự giao lưu văn hóa nghệ thuật giữa Đại Việt và Chămpa thời Lý.
    • Tượng Di Lặc bằng đồng: Được đúc năm 1864, nặng 1.000kg, đặt tại chùa chính.
    • Di tích phụ cận: Dấu tích ruộng Tịch Điền làng Lê nơi vua Lê Đại Hành cày ruộng năm Đinh Hợi (987) gồm nền nhà Hiến (rộng 6 sào), Dinh ngoài (3 mẫu), Dinh trong (3 mẫu) và khu Tàu ngựa.
  • Hoạt động lễ hội và số liệu khảo sát: Lễ hội chùa Đọi diễn ra thường niên từ ngày 19 đến 21 tháng 3 âm lịch. Khóa luận tổng hợp các dữ liệu điều tra qua 4 biểu đồ: cơ cấu độ tuổi du khách (Hình 2.1), thời điểm du khách đến chùa (Hình 2.2), khoảng cách địa phương nơi cư trú (Hình 2.3) và khả năng kết nối của du khách tới các điểm lân cận trong vùng (Hình 2.4).

Chương 3: Giải pháp khai thác hiệu quả du lịch tâm linh chùa Long Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam

Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp xuất phát từ định hướng bảo tồn và nâng cao hiệu quả khai thác kinh tế du lịch:

  • Định hướng phát triển: Kết hợp chặt chẽ giữa khai thác du lịch với nhiệm vụ bảo tồn nguyên trạng các di vật, bảo vật quốc gia thời Lý; bảo vệ môi trường cảnh quan rừng núi Đọi; tôn trọng không gian tôn giáo tín ngưỡng thanh tịnh.
  • Hệ thống giải pháp cụ thể:
    • Quy hoạch hạ tầng và dịch vụ du lịch: Hoàn thiện hệ thống đường giao thông tiếp cận chân núi, bố trí bãi đỗ xe tập trung, lắp đặt biển chỉ dẫn thông tin di tích, nâng cấp công trình vệ sinh công cộng đạt chuẩn, quy hoạch các quầy hàng lưu niệm và dịch vụ ăn uống chay có trật tự.
    • Phát triển nguồn nhân lực: Tổ chức các lớp bồi dưỡng kiến thức văn hóa, lịch sử thời Lý và kỹ năng giao tiếp cho ban quản lý, người dân tham gia làm dịch vụ và đội ngũ thuyết minh viên tại điểm.
    • Đẩy mạnh tuyên truyền, xúc tiến quảng bá: Xây dựng các ấn phẩm giới thiệu giá trị văn hóa của bia Sùng Thiện Diên Linh, hệ thống tượng đá thời Lý và lễ hội tháng 3 âm lịch; phối hợp quảng bá trên các phương tiện truyền thông và cổng thông tin du lịch tỉnh Hà Nam.
    • Xây dựng sản phẩm và liên kết tuyến điểm: Kết nối chùa Long Đọi Sơn với lễ hội Tịch Điền Đọi Sơn, làng nghề trống Đọi Tam; thiết lập tour du lịch tâm linh liên hoàn trong tỉnh (Long Đọi Sơn - Chùa Bà Đanh - Đền Trúc - Ngũ Động Thi Sơn) và tuyến liên tỉnh kết nối Hà Nội, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và cung cấp hệ thống dữ liệu chi tiết về di tích chùa Long Đọi Sơn:

Hạng mục di sản / Hiện vật Số liệu & Thông số kỹ thuật ghi nhận Giá trị lịch sử - văn hóa
Bia Sùng Thiện Diên Linh Cao 2,5m - 2,88m; rộng 1,65m - 1,8m; dày 0,3m - 0,5m; 4.257 chữ Hán; Bệ bia dài 2,4m - 2,5m, chạm 4 rồng nước. Bảo vật quốc gia (QĐ 2599/QĐ-TTg ngày 30/12/2013), tư liệu gốc về văn hóa, triết học và kiến trúc thời Lý.
Tượng Bát vị Kim Cương 6 pho tượng sa thạch nguyên khối; chiều cao ~1,6m; đứng chống gươm. Tác phẩm điêu khắc tròn thời Lý hoàn chỉnh nhất còn lưu giữ tại di tích.
Tượng chim thần Kinari 2 pho tượng đá ráp xám; cao 52cm; rộng 31cm; cạnh đế 20cm; nặng ~35kg. Minh chứng cho sự tiếp biến và giao lưu văn hóa nghệ thuật Đại Việt - Chămpa thời Lý.
Tượng Phật Di Lặc Đúc bằng đồng năm 1864; trọng lượng 1.000kg. Hiện vật thời Nguyễn phản ánh tư tưởng Phật giáo nhập thế và sự ấm no, an lạc.
Quần thể kiến trúc & Cảnh quan Núi cao ~80m; khuôn viên 2 ha rừng; 125 gian thờ tự; 7 giếng đá cổ; >200 mộ tháp. Quần thể di tích lịch sử cấp quốc gia (QĐ 519/CP ngày 10/4/1992), tiền thân là trường Bắc Kỳ Phật giáo.

Công trình đóng góp vào việc phân tích đặc điểm thị trường khách tham quan tại chùa Long Đọi Sơn qua số liệu khảo sát thực địa, chỉ ra các nút thắt về hạ tầng và dịch vụ, đồng thời cung cấp hệ thống giải pháp liên kết chuỗi sản phẩm du lịch nông nghiệp - làng nghề - tâm linh cho huyện Duy Tiên.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận còn tồn tại một số hạn chế do tác giả tự nhận định:

  • Nguồn tài liệu chuyên khảo viết sâu về du lịch tâm linh còn hạn chế về số lượng đầu sách mới, phần lớn phải dựa vào các tài liệu xuất bản trước đây.
  • Chuỗi số liệu thứ cấp phục vụ phân tích tập trung chủ yếu trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2012 (đặc biệt từ năm 2006), chưa cập nhật đầy đủ các biến động thị trường du lịch ở các giai đoạn tiếp sau.
  • Do điều kiện khảo sát điền dã có giới hạn, tác giả chưa đi sâu phân tích cơ cấu chi tiêu chi tiết và mức độ chi trả cho các dịch vụ bổ trợ của từng phân khúc du khách.

Hướng nghiên cứu mở rộng cần tập trung vào việc mở rộng mẫu điều tra xã hội học định lượng về hành vi tiêu dùng của du khách, nghiên cứu cơ chế phối hợp công - tư trong quản lý bảo tồn di tích và đánh giá tác động môi trường khi lượng khách tăng cao vào mùa lễ hội.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên ngành Du lịch và Quản trị dịch vụ du lịch: Tham khảo phương pháp tiếp cận nghiên cứu phát triển điểm đến tâm linh, kỹ năng thiết kế bảng hỏi và xử lý dữ liệu điền dã.
  • Người nghiên cứu ngành Văn hóa học, Lịch sử, Mỹ thuật cổ: Khai thác các mô tả chi tiết, kích thước và phong cách mỹ thuật của hệ thống di vật thời Lý (bia đá Sùng Thiện Diên Linh, tượng Kim Cương, tượng Kinari).
  • Cơ quan quản lý văn hóa và chính quyền địa phương (huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam): Sử dụng các đề xuất về hạ tầng, nguồn nhân lực và phương án liên kết tour tuyến để hoàn thiện kế hoạch phát triển du lịch tại di tích chùa Long Đọi Sơn.

Câu hỏi thường gặp

1. Bia đá Sùng Thiện Diên Linh tại chùa Long Đọi Sơn có đặc điểm và giá trị pháp lý nào nổi bật?

Bia Sùng Thiện Diên Linh được dựng năm 1121 nhân dịp khánh thành bảo tháp 13 tầng dưới triều vua Lý Nhân Tông. Tấm bia cao 2,5m - 2,88m, rộng 1,65m - 1,8m, dày 0,3m - 0,5m, chứa bài văn khắc gồm 4.257 chữ Hán do Nguyễn Công Bật soạn và Lý Bảo Cung viết chữ. Bệ bia chạm khắc 4 con rồng nước uốn lượn tượng trưng cho tín ngưỡng nông nghiệp vùng trũng. Tác phẩm đã được công nhận là Bảo vật quốc gia theo Quyết định số 2599/QĐ-TTg ngày 30/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ.

2. Hệ thống tượng điêu khắc đá thời Lý tại chùa Long Đọi Sơn gồm những hiện vật nào?

Di tích lưu giữ 6 pho tượng Kim Cương (Bát vị Kim Cương) tạc bằng sa thạch nguyên khối cao khoảng 1,6m, mặc giáp trụ võ quan, tay chống gươm trước bụng; cùng 2 pho tượng chim thần Kinari bằng đá ráp xám cao 52cm, nặng khoảng 35kg, mang nửa thân trên hình người đang đánh não bạt và nửa thân dưới hình chim.

3. Không gian chùa Long Đọi Sơn thờ tự những nhân vật lịch sử và tôn giáo nào?

Chùa bài trí theo cấu trúc "tiền Phật hậu Thánh". Ngoài hệ thống tượng Phật, La Hán và Bồ Tát, khu Hậu điện của chùa phối thờ Nhị vị Đức Chúa là vua Lý Nhân Tông và Thái úy Lý Thường Kiệt; thờ Thái hậu Phù Thánh Linh Nhân (Ỷ Lan - người đã cúng 72 mẫu ruộng cho chùa); khu nhà Tổ thờ 10 đời sư tổ từng trụ trì và am phủ thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh.

4. Di tích ruộng Tịch Điền dưới chân núi Đọi gắn liền với sự kiện lịch sử nào?

Đây là nơi vua Lê Đại Hành tiến hành lễ cày ruộng Tịch Điền đầu tiên trong lịch sử phong kiến Việt Nam vào mùa xuân năm Đinh Hợi (987) nhằm khuyến khích sản xuất nông nghiệp. Khu vực này hiện còn dấu tích nền nhà Hiến (rộng 6 sào), Dinh ngoài (rộng 3 mẫu), Dinh trong (rộng 3 mẫu) và khu Tàu ngựa.

5. Lễ hội chùa Long Đọi Sơn diễn ra vào thời gian nào và có hoạt động gì đặc trưng?

Lễ hội truyền thống chùa Đọi được tổ chức định kỳ từ ngày 19 đến ngày 21 tháng 3 âm lịch hàng năm. Hoạt động lễ hội bao gồm các nghi lễ rước, dâng hương lễ Phật, cầu quốc thái dân an cùng các trò chơi dân gian truyền thống như thi đấu cờ người tại sân bàn cờ rộng 50m² trước cửa chùa.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Hoàng Hà đã làm rõ cơ sở lý luận về du lịch tâm linh và phản ánh bức tranh thực trạng khai thác tại di tích chùa Long Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Công trình ghi nhận và thống kê chi tiết các giá trị di sản vật thể thời Lý như bia Sùng Thiện Diên Linh, hệ thống tượng Kim Cương, tượng Kinari cùng các dấu tích lịch sử văn hóa phụ cận. Hệ thống giải pháp được đề xuất trong khóa luận mang tính đồng bộ từ quy hoạch hạ tầng, đào tạo nhân lực đến liên kết tour tuyến, đóng góp cơ sở dữ liệu thực tiễn cho công tác quản lý và định hướng phát triển bền vững du lịch tâm linh tại địa phương.