Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ "Nghiên cứu đối chiếu đặc điểm ngôn ngữ pháp luật trong tiếng Hán và tiếng Việt (Qua Bộ luật Hình sự nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa 2015 và Bộ luật Hình sự nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam 2015)" (tên nguyên bản: 现代汉越语法律语言特点对比研究 - 以《中华人民共和国刑法》及《越南社会主义共和国刑法》为研究资料) do nghiên cứu sinh Nguyễn Ngọc Anh thực hiện tại Khoa Sau đại học, Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội, chuyên ngành Ngôn ngữ Trung Quốc, mã số 9220204.01, dưới sự hướng dẫn của TS. Phạm Minh Tiến và TS. Nguyễn Thị Thu Hà, hoàn thành vào tháng 12 năm 2018.

Tính cấp thiết của đề tài được tác giả xác định xuất phát từ bản chất của pháp luật do nhà nước ban hành nhằm xác lập, bảo vệ và điều chỉnh các quan hệ xã hội. Phong cách văn bản pháp luật là công cụ thể hiện ý chí nhà nước, mang tính quy phạm và cưỡng chế. Về mặt thực tiễn nghề nghiệp, tác giả xuất thân là cán bộ an ninh nhân dân Việt Nam, công tác trực tiếp trong môi trường thực thi pháp luật, đòi hỏi phải sử dụng chuẩn xác ngôn ngữ văn bản pháp luật tiếng Hán và tiếng Việt trong hoạt động tư pháp, chỉ rõ hành vi vi phạm, mức độ và hậu quả pháp lý cho đương sự. Việc nắm vững ngôn ngữ quy phạm và thuật ngữ hình sự là điều kiện tiên quyết để thực hiện nhiệm vụ chuyên môn và công tác dịch thuật tư pháp.

Về mặt học thuật, ngôn ngữ học pháp lý là ngành khoa học liên ngành giữa ngôn ngữ học và luật học có giá trị ứng dụng cao. Tuy nhiên, tình hình nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ pháp luật hiện đại trong tiếng Hán và tiếng Việt còn hạn chế về số lượng và quy mô đội ngũ nghiên cứu; số lượng công trình nghiên cứu chuyên sâu về ngôn ngữ trong bộ luật hình sự lại càng hiếm gặp. Đa số các công trình trước đây chỉ dừng lại ở phạm vi miêu tả thuật ngữ hoặc ngôn ngữ hành chính nói chung mà chưa đối chiếu toàn diện hệ thống từ ngữ, cấu trúc câu và các vấn đề chuyển dịch tội danh hình sự giữa hai ngôn ngữ.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm:

  • Vận dụng lý luận ngôn ngữ học và kết quả nghiên cứu của các học giả đi trước để làm sáng tỏ các đặc điểm của ngôn ngữ pháp luật tiếng Hán hiện đại.
  • Liên hệ đối chiếu với ngôn ngữ pháp luật tiếng Việt, làm rõ mối quan hệ tương hỗ và ảnh hưởng qua lại giữa ngôn ngữ pháp luật Hán - Việt do tiếp xúc ngôn ngữ, đồng thời cung cấp tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu chuyên ngành.

Để đạt được mục tiêu nêu trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tổng quan lý thuyết về ngôn ngữ pháp luật và trình bày thực trạng nghiên cứu liên quan;
  2. Phân tích đặc điểm ngôn ngữ pháp luật tiếng Hán hiện đại thông qua việc khảo sát đặc điểm từ ngữ và câu, từ đó đúc kết các quy luật và đặc điểm bản chất;
  3. Liên hệ kết quả khảo sát với ngôn ngữ pháp luật tiếng Việt, chỉ ra các hình thức diễn đạt tương ứng và không tương ứng giữa hai ngôn ngữ;
  4. Nghiên cứu, phân tích các vấn đề dịch thuật ngôn ngữ pháp luật Hán - Việt và đề xuất các kiến nghị giải pháp cụ thể.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là ngôn ngữ pháp luật tiếng Hán và tiếng Việt hiện đại.

Phạm vi nghiên cứu của luận án giới hạn trong:

  • Từ ngữ trong Bộ luật Hình sự nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 2015 và Bộ luật Hình sự nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 2015.
  • Cấu trúc câu trong Bộ luật Hình sự nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 2015 và Bộ luật Hình sự nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 2015.

Tư liệu nghiên cứu chính văn được tác giả thu thập trực tiếp từ văn bản quy phạm: "Bộ luật Hình sự nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa" (中华人民共和国刑法) bản sửa đổi năm 2015 (gồm 10 chương, 252 điều) và "Bộ luật Hình sự nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam" năm 2015 (gồm 2 phần: phần chung 10 chương 77 điều, phần riêng 14 chương 265 điều, tổng cộng 24 chương 342 điều).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã điểm lại lịch sử phát triển của ngôn ngữ học pháp lý trên thế giới, tại Trung Quốc và tại Việt Nam:

Trên phạm vi thế giới, sự chú ý đến ngôn ngữ pháp luật manh nha từ thế kỷ 19 với công trình Forensic Oratory (1898) của học giả Mỹ W. Robinson, nghiên cứu về cách dùng từ và phong cách ngôn ngữ pháp lý. Năm 1968, Hattenhauer công bố chuyên khảo Về lịch sử ngôn ngữ pháp luật và ngôn ngữ luật thành văn của Đức, khảo sát biến chuyển của ngôn ngữ pháp luật Đức qua các thời kỳ. David Mellinkoff xuất bản The Language of the Law (1963), phân tích nguồn gốc và cấu trúc của ngôn ngữ lập pháp, ngôn ngữ tư pháp và thuật ngữ pháp lý. Peter Tiersma và Laurence L. Solan đối thoại làm rõ mối quan hệ bản chất giữa luật pháp và công cụ ngôn ngữ. Nghiên cứu có tổ chức phát triển mạnh từ thập niên 1990 với việc thành lập Hiệp hội Ngôn ngữ học Pháp lý Quốc tế (International Association of Forensic Linguists), cùng các chuyên khảo của Peter Goodrich (Legal Discourse), F. Hughes (2002), Deborah Cao (2007), và các nghiên cứu ứng dụng vào thực tiễn soạn thảo văn bản, tranh tụng của Malcolm Coulthard, Peter French, Judith Levi, Diana Eades.

Tại Trung Quốc, nghiên cứu ngôn ngữ pháp luật khởi sắc từ thập niên 1980 và phân hóa thành 3 hướng tiếp cận chính:

  • Hướng tiếp cận từ ngôn ngữ học: Trần Cảnh với Khái niệm ngôn ngữ học pháp luật và Dẫn luận ngôn ngữ học lập pháp; Vương Khiết với Giáo trình ngôn ngữ học pháp luật; Lưu Hoài Trinh với Ngôn ngữ pháp luật: Nghệ thuật lập pháp và tư pháp; Khương Kiếm Vân với Nghiên cứu ngôn ngữ và lời nói pháp luật; Phan Khánh Vân với Nghệ thuật ngôn ngữ pháp luật; Chu Quảng Nhiên với Kỹ xảo dùng từ trong pháp luật; Lý Chấn Vũ với Bước đầu tìm hiểu ngôn ngữ học pháp luật; Đỗ Kim Bảng với Ngôn ngữ học pháp luật; Lưu Hồng Anh với Ngôn ngữ học pháp luật; Lưu Uý Minh với Nghiên cứu ngôn ngữ học pháp luật; Vương Đạo Sâm với Vận dụng học ngôn ngữ pháp luật.
  • Hướng tiếp cận tiếp thu và phiên dịch lý thuyết nước ngoài: Ngô Vĩ Bình (2002) với Ngôn ngữ và pháp luật - Nghiên cứu ngôn ngữ học trong lĩnh vực tư pháp; Liêu Mỹ Trân với Kỹ xảo ngôn ngữ phòng xử án.
  • Hướng tiếp cận từ lý luận pháp luật và triết học pháp luật: Tạ Huy (2003) với Truy vấn ý nghĩa của pháp luật; Khổng Tường Tuấn (2006) với Phương pháp luận pháp luật.

Tại Việt Nam, nghiên cứu ngôn ngữ pháp luật được khởi xướng bởi GS. Nguyễn Văn Khang qua các bài viết và công trình: Những suy nghĩ bước đầu về ngôn ngữ pháp luật (1987), Tiếng Việt trong giao tiếp hành chính (2002), Tác dụng của ngôn ngữ trong việc xây dựng văn bản pháp luật ở Việt Nam (2006). Trong lý thuyết phong cách học tiếng Việt, các tác giả Nguyễn Hữu Đạt, Lê Anh Hiền, Nguyễn Thái Hòa, Đinh Trọng Lạc, Cù Đình Tú xếp văn bản luật vào phong cách hành chính - công vụ; Vương Đình Quyền, Nguyễn Văn Hàm, Nguyễn Đăng Dung, Hoàng Trọng Phiến khảo sát cấu trúc thể thức văn bản quản lý nhà nước.

Về các công trình đối chiếu ngôn ngữ pháp luật, tác giả điểm qua các luận án, luận văn tiêu biểu:

  • Luận án tiến sĩ của Lê Hùng Tiến (1999): Một số đặc điểm của ngôn ngữ pháp luật tiếng Việt, miêu tả từ vựng, ngữ pháp luật Dân sự và Hình sự Việt Nam, liên hệ tiếng Anh và đề xuất dịch thuật Anh - Việt.
  • Luận văn thạc sĩ của Phạm Quỳnh Sơn (2012): nghiên cứu thuật ngữ hình sự trong Từ điển pháp luật (bản giản yếu) và vấn đề dịch Hán - Việt.
  • Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Ngọc Anh (2013): Nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ xét hỏi tiếng Hán hiện đại đối chiếu với tiếng Việt.
  • Luận án tiến sĩ của Hoàng Ngọc Nguyễn Hồng (2016): khảo sát 5.074 thuật ngữ trong Từ điển thuật ngữ tiêu chuẩn công an và đề xuất phương pháp dịch sang tiếng Việt.
  • Các nghiên cứu của Phan Thị Thảo (2006) khảo sát Luật Dân sự Việt Nam; Trương Thị Liên (2007) khảo sát Luật Hình sự Việt Nam; Dương Thị Hiền (2008) đối chiếu Hiến pháp Mỹ và Việt Nam; Nguyễn Thị Ly Na (2012) nghiên cứu Luật Giáo dục; Lợi Huệ Nhã (2012) khảo sát văn bản luật kinh tế Trung Quốc.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Hầu hết các công trình tại Việt Nam tiếp cận ngôn ngữ pháp luật dưới góc độ hành chính hoặc chỉ dừng ở diện hẹp là thuật ngữ ngành. Chưa có công trình nào đối chiếu đồng thời và hệ thống ngôn ngữ pháp luật trong hai bộ luật hình sự hiện hành của Trung Quốc và Việt Nam trên cả bình diện từ vựng (phương thức kết hợp, nguồn gốc, từ loại, thuật ngữ), cú pháp (cấu trúc câu, chức năng ngữ khí, câu phức) và ứng dụng dịch thuật tội danh Hán - Việt. Luận án đặt mục tiêu lấp đầy khoảng trống này bằng khảo sát thực nghiệm định lượng kết hợp miêu tả định tính.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên các khung lý thuyết nền tảng:

  • Lý thuyết ngôn ngữ học pháp lý: Luận án phân định ranh giới giữa "ngôn ngữ pháp học" (法学语言) và "ngôn ngữ pháp luật" (法律语言). Theo đó, pháp học là khái niệm loại (tổng thể), nghiên cứu quy luật và lý luận; ngôn ngữ pháp học là ngôn ngữ ở tầng bậc tư duy lý luận khoa học pháp lý. Pháp luật là khái niệm chủng (bộ phận); ngôn ngữ pháp luật là ngôn ngữ mang tính quy phạm thể chế, được sử dụng trong văn bản luật và hoạt động tư pháp. Đồng thời, luận án phân biệt "ngôn ngữ pháp luật quá khứ" và "ngôn ngữ pháp luật hiện hành", nhấn mạnh tính thời đại của ngôn ngữ pháp luật gắn với bối cảnh chính trị - xã hội.
  • Lý thuyết về đặc trưng văn bản pháp lý: Văn bản pháp lý mang 3 đặc trưng bản thể gồm tính hợp pháp (tuân thủ thẩm quyền, trình tự, thời hạn tố tụng), tính cố định (kết cấu khuôn mẫu gồm phần đầu, nội dung chính và phần cuối; diễn đạt bằng ngôn ngữ quy phạm định hình; yếu tố hóa các đề mục), và tính cưỡng chế (bảo đảm bằng quyền lực nhà nước). Về mặt ngôn ngữ, văn bản pháp luật đòi hỏi: việc sử dụng từ ngữ mơ hồ phải chính xác và hạn chế phạm vi ngoại diên; câu văn phải chặt chẽ, không có lỗi ngữ pháp, không gây đa nghĩa, tránh mâu thuẫn nội tại; cách dùng từ phải tinh luyện, cô đọng; phong cách ngôn ngữ phải trang trọng, khách quan, mang tính lý tính cao; kết cấu đoạn văn phải liền mạch, chuẩn xác.
  • Lý thuyết về văn bản luật hình sự: Bộ luật hình sự là văn bản quy phạm định tội danh và lượng hình, trực tiếp liên quan đến quyền tự do, tài sản và tính mạng con người. Hai đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ hình sự là tính chuẩn xác, rõ ràng tuyệt đối (phục vụ nguyên tắc tội hình theo luật định, loại trừ hình phạt bất định quy đối) và tính thông tục dễ hiểu (để mọi công dân nhận thức và tuân thủ).
  • Lý thuyết ngôn ngữ học đối chiếu: Tiếp thu quan điểm của B. L. Whorf (1941), C. C. Fries (1945), R. Lado (1957), Triệu Nguyên Nhiệm, P. Buren, R. Dirven, P. Breitenstein và Vương Cúc Toàn (Thế nào là ngôn ngữ học đối chiếu). Luận án xác định nhiệm vụ đối chiếu đồng đại giữa hai hệ thống ngôn ngữ, kết hợp giữa nghiên cứu định tính và định lượng, trong đó chú trọng phân tích các điểm dị biệt và chỉ ra nguyên nhân văn hóa - pháp lý.
  • Lý thuyết cấu tạo từ và ngữ pháp câu tiếng Hán và tiếng Việt: Dựa trên các nghiên cứu ngữ pháp của Tôn Đức Kim, Hoàng Bá Vinh, Hình Phúc Nghĩa đối với tiếng Hán; Đỗ Hữu Châu, Diệp Quang Ban đối với tiếng Việt. Phân loại cấu tạo từ gồm từ đơn (đơn âm, đa âm), từ phức/hợp thành (liên hợp/đẳng lập, chính phụ, thuật tân/động tân, bổ sung, chủ vị, phụ gia, trùng điệp; tiếng Việt gồm từ ghép và từ láy đơn tố/đa tố). Phân loại câu theo cấu trúc gồm câu đơn và câu phức (liên hợp, chính phụ); phân loại theo mục đích/ngữ khí.
  • Lý thuyết dịch thuật: Khái niệm dịch, tiêu chuẩn dịch, nguyên tắc dịch chuyên ngành pháp luật, phương pháp dịch tương đương thuật ngữ và dịch chuyển cấu trúc câu phức.

Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả triển khai bao gồm:

  • Phương pháp liệt kê ví dụ (例证法): Trích xuất các trường hợp điển hình về từ ngữ, thuật ngữ, cấu trúc câu trong hai bộ luật.
  • Phương pháp phân tích (分析法): Phân tích thành phần cú pháp, cấu tạo ngữ nghĩa của từ ngữ và mô hình câu.
  • Phương pháp đối chiếu (对比法): So sánh đồng đại các chỉ số ngôn ngữ giữa tiếng Hán và tiếng Việt để tìm ra điểm tương đồng và dị biệt.
  • Phương pháp thống kê (统计法): Khảo sát số liệu tần suất xuất hiện, tỷ lệ phần trăm phân bố từ loại, cấu tạo từ, mẫu câu và câu phức trong văn bản luật.
  • Phương pháp miêu tả (描写法) và phương pháp quy nạp (归纳法): Tổng hợp quy luật diễn đạt ngôn ngữ pháp lý của hai nước.

Nguồn tư liệu khảo sát: Toàn văn Bộ luật Hình sự nước CHND Trung Hoa bản sửa đổi năm 2015 (10 chương, 252 điều) và Bộ luật Hình sự nước CHXHCN Việt Nam năm 2015 (24 chương, 342 điều).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến ngôn ngữ pháp luật và cơ sở lý thuyết (第一章: 法律语言相关的研究概况及理论基础)

Chương này dành cho việc hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu ngôn ngữ học pháp lý trên thế giới, tại Trung Quốc và Việt Nam; xây dựng cơ sở lý luận cho toàn bộ luận án. Tác giả phân tích thấu đáo bản chất ngôn ngữ pháp luật, xác định sự phân nhánh giữa ngôn ngữ pháp học (nghiên cứu lý luận) và ngôn ngữ pháp luật (áp dụng trong văn bản luật pháp chế định). Đồng thời, tác giả làm rõ 5 đặc trưng cơ bản của văn bản pháp lý (tính hợp pháp, tính cố định, tính cưỡng chế, tính chính xác tinh luyện và phong cách trang trọng); nêu bật 2 thuộc tính trọng yếu của ngôn ngữ hình sự (tính chuẩn xác, minh xác và tính thông tục dễ hiểu); phân tích các luận điểm cơ bản của ngôn ngữ học đối chiếu, lý thuyết cấu tạo từ và cấu trúc ngữ pháp câu đơn, câu phức trong tiếng Hán và tiếng Việt nhằm thiết lập hệ thống thao tác cho các chương khảo sát thực nghiệm tiếp theo.

Chương 2: Đối chiếu đặc điểm từ ngữ giữa Bộ luật Hình sự nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa 2015 và Bộ luật Hình sự nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam 2015 (第二章: 中华人民共和国 2015 年刑法 与越南社会主义共和国 2015 年刑法词语特点对比)

Chương 2 tập trung khảo sát thực chứng, định lượng và phân tích từ ngữ trong hai bộ luật hình sự theo 5 tiêu chí:

  1. Phương thức kết hợp từ: Khảo sát tỷ lệ phân bố giữa từ đơn và từ ghép/từ phức trong hai văn bản luật. Luận án chỉ ra sự tương đồng khi cả hai ngôn ngữ pháp lý đều ưu tiên tuyệt đối từ ghép/từ phức đa âm tiết mang tính chuẩn xác, trang trọng và hạn chế dùng từ đơn âm tiết dễ gây mơ hồ nghĩa. Tuy nhiên, tiếng Việt có sự xuất hiện của các dạng từ láy hạn chế (từ láy mang tính pháp lý), trong khi tiếng Hán cấu tạo từ theo các mô hình hình vị hóa cao.
  2. Nguồn gốc từ ngữ: Khảo sát thành phần từ bản ngữ và từ ngoại lai. Bộ luật Hình sự Trung Quốc sử dụng lượng lớn từ ngữ gốc Hán cổ kết hợp với thuật ngữ dịch mượn từ tiếng Nhật (chiếm tỷ lệ áp đảo trong các thuật ngữ khoa học xã hội nhân văn) và từ gốc Âu - Mỹ. Bộ luật Hình sự Việt Nam bên cạnh lớp từ thuần Việt có tỷ lệ sử dụng từ gốc Hán (từ Hán - Việt) áp đảo tuyệt đối, đóng vai trò tạo dựng tính trang nghiêm, khái quát và súc tích cho văn bản quy phạm.
  3. Từ loại: Luận án thống kê tỷ lệ xuất hiện của danh từ, động từ, tính từ và các hư từ. Cả hai bộ luật đều ghi nhận danh từ chiếm tỷ lệ cao nhất (danh từ hóa các khái niệm pháp lý, chủ thể, khách thể, hành vi, công cụ), kế đến là động từ (chỉ hành vi phạm tội, biện pháp cưỡng chế, phán quyết) và tính từ (miêu tả mức độ, tính chất vi phạm: "nghiêm trọng", "đặc biệt nghiêm trọng").
  4. Thuật ngữ pháp lý và thuật ngữ hình sự: Luận án khảo sát định nghĩa thuật ngữ, phân định thuật ngữ khoa học thông thường với thuật ngữ pháp lý chuyên ngành, và thống kê danh mục thuật ngữ hình sự xuất hiện trong hai bộ luật (khái niệm tội danh, hình phạt, biện pháp tư pháp).
  5. Tổng hợp đối chiếu sử dụng từ ngữ: Đúc kết tương đồng và dị biệt trong phương thức biểu đạt khái niệm pháp lý giữa hai bộ luật.

Hệ thống bảng số liệu thống kê thực chứng trong Chương 2 bao gồm:

Tên bảng trong văn bản Nội dung thống kê
Bảng 1 (第 1 表) Đặc điểm từ ngữ Bộ luật Hình sự nước CHND Trung Hoa 2015 dưới góc độ phương thức kết hợp từ
Bảng 2 (第 2 表) Đặc điểm từ ngữ Bộ luật Hình sự nước CHXHCN Việt Nam 2015 dưới góc độ phương thức kết hợp từ
Bảng 3 (第 3 表) Đặc điểm từ ngữ luật hình sự Trung Quốc dưới góc độ nguồn gốc từ ngữ
Bảng 4 (第 4 表) Đặc điểm từ ngữ Bộ luật Hình sự nước CHXHCN Việt Nam 2015 dưới góc độ nguồn gốc từ ngữ
Bảng 5 (第 5 表) Bảng tỷ lệ phân bố các loại từ loại trong Bộ luật Hình sự nước CHND Trung Hoa 2015
Bảng 6 (第 6 表) Tỷ lệ sử dụng các loại từ loại trong Bộ luật Hình sự nước CHXHCN Việt Nam 2015
Bảng 8 (第 8 表) Các thuật ngữ xuất hiện trong Bộ luật Hình sự nước CHND Trung Hoa 2015
Bảng 9 (第 9 表 - đầu) Các thuật ngữ xuất hiện trong Bộ luật Hình sự nước CHXHCN Việt Nam 2015

Chương 3: Đối chiếu đặc điểm câu giữa Bộ luật Hình sự nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa 2015 và Bộ luật Hình sự nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam 2015 (第三章: 中华人民共和国 2015 年刑法的句子 与越南社会主义共和国 2015 年刑法的句子特点对比)

Chương 3 triển khai khảo sát câu văn pháp luật trên hai bình diện: cấu trúc ngữ pháp (câu đơn, câu phức) và mục đích giao tiếp / chức năng ngữ khí (câu trần thuật quy phạm, câu mệnh lệnh, câu phán đoán):

  1. Câu trong Bộ luật Hình sự Trung Quốc: Thống kê cấu trúc câu đơn, câu phức; phân tích các mẫu câu thông dụng trong điều luật (như mô hình điều kiện - giả thiết: "có hành vi... thì bị xử phạt...", mô hình lựa chọn khung hình phạt). Về ngữ khí, 100% câu văn trong văn bản luật là câu trần thuật biểu thị ý chí quy phạm mang tính cưỡng chế và mệnh lệnh pháp lý tuyệt đối, không có câu hỏi, câu cảm thán.
  2. Câu trong Bộ luật Hình sự Việt Nam: Phân tích cấu trúc câu đơn, hệ thống câu phức với các quan hệ ngữ pháp phức tạp (điều kiện - hệ quả, liên hợp, liệt kê cấu thành tội phạm); thống kê các mẫu câu quy định tội danh và khung hình phạt điển hình; phân tích chức năng ngữ khí quy phạm mệnh lệnh.
  3. Đối chiếu so sánh câu giữa hai bộ luật:
    • Điểm tương đồng: Cả hai bộ luật đều triệt để sử dụng câu trần thuật chức năng quy phạm; ưa chuộng câu phức điều kiện - hệ quả để biểu đạt cấu trúc quy phạm pháp luật (giả định - quy định - chế tài); cấu trúc câu dài, phân tầng nhiều cấp bậc với định ngữ và trạng ngữ phức tạp nhằm bao quát mọi tình tiết thực tế.
    • Điểm dị biệt: Do khác biệt loại hình cú pháp giữa tiếng Hán và tiếng Việt, trật tự từ trong câu và định ngữ có sự phân hóa sâu sắc. Tiếng Hán định ngữ luôn đứng trước trung tâm ngữ (kể cả mệnh đề định ngữ rất dài bổ nghĩa cho danh từ chỉ tội danh/hành vi), trong khi tiếng Việt định ngữ thường đứng sau trung tâm ngữ. Các liên từ biểu thị điều kiện, giả thiết, nhượng bộ và cách ngắt câu phức trong các điều khoản có sự khác nhau về dung lượng và trật tự liên kết logic.

Hệ thống bảng số liệu thống kê thực chứng trong Chương 3 bao gồm:

Tên bảng trong văn bản Nội dung thống kê
Bảng 9 (第 9 表 - sau) Các mẫu câu xuất hiện trong Bộ luật Hình sự nước CHND Trung Hoa 2015
Bảng 10 (第 10 表) Bảng thống kê tỷ lệ sử dụng các loại câu trong luật hình sự Trung Quốc (dưới góc độ mục đích của câu)
Bảng 11 (第 11 表) Bảng phân loại câu trong Bộ luật Hình sự nước CHXHCN Việt Nam 2015 (dưới góc độ cấu trúc)
Bảng 12 (第 12 表) Các cấu trúc khác nhau của câu phức trong luật hình sự Việt Nam
Bảng 13 (第 13 表) Bảng thống kê tỷ lệ sử dụng các loại câu trong luật hình sự Việt Nam (dưới góc độ chức năng ngữ khí)

Chương 4: Các vấn đề dịch thuật ngôn ngữ pháp luật Hán - Việt (第四章: 法律语言的汉越翻译问题)

Chương 4 vận dụng toàn bộ kết quả khảo sát từ ngữ và cú pháp ở hai chương trước vào lĩnh vực dịch thuật pháp lý thực hành:

  1. Tổng kết lý thuyết dịch thuật: Trình bày định nghĩa, các tiêu chuẩn dịch thuật văn bản chuyên ngành (tín - đạt - nhã, tính chính xác pháp lý tuyệt đối), nguyên tắc dịch (tuân thủ thuật ngữ chuẩn của hệ thống pháp luật đích), phương pháp dịch (dịch nguyên nghĩa, dịch chuyển đổi ngữ pháp, dịch tương đương chức năng) và phân loại các loại hình dịch thuật.
  2. Dịch thuật ngôn ngữ pháp luật Hán - Việt:
    • Dịch thuật ngữ pháp lý: Xử lý các hiện tượng đồng danh dị nghĩa, dị danh đồng nghĩa do khác biệt chế định pháp luật giữa Trung Quốc và Việt Nam; cách khai thác lớp từ Hán - Việt tương ứng và các trường hợp không được lạm dụng âm Hán - Việt gây hiểu sai bản chất pháp lý.
    • Dịch tên gọi các tội danh: Phân loại các tội danh có sự tương đương hoàn toàn, tương đương bộ phận và hoàn toàn không tương đương giữa Bộ luật Hình sự Trung Quốc 2015 và Bộ luật Hình sự Việt Nam 2015; đưa ra nguyên tắc định danh tội danh khi chuyển ngữ.
  3. Đề xuất và kiến nghị về dịch thuật văn bản pháp luật:
    • Đề xuất quy trình dịch thuật văn bản quy phạm pháp luật Hán - Việt.
    • Giải quyết các khó khăn kỹ thuật khi chuyển ngữ câu phức: xử lý trật tự định ngữ tầng bậc dài của tiếng Hán sang kết cấu cú pháp tiếng Việt nhằm bảo đảm câu văn dịch mạch lạc, rõ ràng, không sai lệch nội hàm chế tài hình sự.

Kết quả và những đóng góp mới

Theo tuyên bố tự thân của luận án tại phần Đóng góp mới và ý nghĩa nghiên cứu, các kết quả chính bao gồm:

  • Đóng góp về mặt lý luận:
    • Góp phần phân định ranh giới học thuật rõ ràng giữa "ngôn ngữ pháp luật" (ngôn ngữ văn bản chế định) và "ngôn ngữ pháp học" (ngôn ngữ lý luận khoa học pháp lý).
    • Đây là công trình luận án tiến sĩ đầu tiên tại Việt Nam tiến hành nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về đặc điểm ngôn ngữ pháp luật tiếng Hán hiện đại thông qua ngữ liệu chuyên ngành hình sự và đối chiếu trực tiếp với tiếng Việt.
    • Mở rộng phạm vi nghiên cứu ngôn ngữ pháp luật Hán - Việt từ các phạm vi quen thuộc (như khảo sát đơn lẻ từ vựng hay thuật ngữ) sang tổng thể đa bình diện: cấu tạo từ ngữ, nguồn gốc từ vựng, từ loại, thuật ngữ chuyên sâu, cấu trúc câu, chức năng ngữ khí và chuyển dịch tội danh.
  • Đóng góp về mặt thực tiễn:
    • Cung cấp bức tranh toàn cảnh bằng số liệu thống kê cụ thể về tần suất và tỷ lệ phân bố của các mô hình kết hợp từ, nguồn gốc từ vựng, từ loại và các mẫu câu, câu phức trong Bộ luật Hình sự Trung Quốc 2015 và Bộ luật Hình sự Việt Nam 2015.
    • Làm sáng tỏ các điểm tương ứng và không tương ứng trong cấu trúc cú pháp pháp luật giữa hai ngôn ngữ, chỉ ra quy luật chuyển đổi ngữ tự và định ngữ dài khi dịch thuật văn bản pháp lý.
    • Đưa ra hệ thống giải pháp, nguyên tắc thực hành cụ thể nhằm giải quyết các rào cản dịch thuật đối với thuật ngữ pháp lý, tên tội danh và các dạng câu phức chuyên ngành hình sự.
    • Phục vụ trực tiếp cho công tác đào tạo chuyên ngành tiếng Hán pháp lý, an ninh, tư pháp tại Việt Nam và hỗ trợ cán bộ thực thi pháp luật xử lý các vụ việc tư pháp liên quan đến hai quốc gia.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Văn bản luận án xác định phạm vi nghiên cứu tập trung vào văn bản pháp điển lập pháp hình sự:

  • Hạn chế: Ngữ liệu nghiên cứu của luận án giới hạn trong phạm vi hai văn bản cụ thể là Bộ luật Hình sự nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 2015 (bản sửa đổi) và Bộ luật Hình sự nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 2015. Luận án chưa thể mở rộng sang các phân ngành luật khác (như luật dân sự, luật tố tụng hình sự, luật hành chính, kinh tế) cũng như chưa khảo sát các thể loại văn bản áp dụng pháp luật trong thực tiễn xét xử (như bản án, cáo trạng, quyết định tố tụng) hoặc ngôn ngữ giao tiếp tại phiên tòa thực tế do tính bảo mật và giới hạn dung lượng của đề tài.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tác giả định hướng mở rộng diện khảo sát đối chiếu sang các ngành luật khác trong hệ thống pháp luật của hai nước; đẩy mạnh nghiên cứu ngôn ngữ trong hoạt động thực tiễn tư pháp, đặc biệt là ngôn ngữ xét hỏi, ngôn ngữ tranh tụng và các biến thể ngôn ngữ pháp luật trong thực tế thi hành án.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn rõ rệt đối với các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Ngôn ngữ Trung Quốc, Ngôn ngữ học so sánh đối chiếu và Ngôn ngữ học ứng dụng: Chương 1 và Chương 2 cung cấp khung lý thuyết hoàn chỉnh về ngôn ngữ học pháp lý, phương pháp phân tích ngữ liệu luật học và mô hình đối chiếu cấu tạo từ, từ loại, thuật ngữ hình sự.
  • Cán bộ nghiên cứu, giảng viên các học viện, trường đại học khối an ninh, cảnh sát, tòa án, kiểm sát: Cung cấp kiến thức chuyên sâu về ngôn ngữ văn bản hình sự của Trung Quốc, hỗ trợ công tác nghiên cứu tư pháp so sánh và đấu tranh phòng chống tội phạm có yếu tố xuyên biên giới.
  • Biên dịch viên, phiên dịch viên pháp lý Hán - Việt: Chương 4 là phần đáng tham khảo nhất, cung cấp các nguyên tắc cụ thể để dịch thuật tên tội danh, thuật ngữ chuyên ngành và kỹ thuật chuyển ngữ các cấu trúc câu phức điều kiện - giả thiết nhiều tầng định ngữ từ tiếng Hán sang tiếng Việt mà không làm sai lệch ý nghĩa pháp lý.
  • Người làm công tác xây dựng pháp luật, rà soát văn bản quy phạm: Cung cấp cứ liệu về tính chuẩn xác, tính tinh luyện, phong cách trang trọng và các yêu cầu kỹ thuật lập pháp đối với việc sử dụng từ ngữ mơ hồ và cấu trúc câu trong luật hình sự.

Câu hỏi thường gặp

1. Tác giả luận án phân biệt "ngôn ngữ pháp học" và "ngôn ngữ pháp luật" như thế nào?
Luận án chỉ rõ "pháp học" là khái niệm tổng thể (khái niệm loại), là hệ thống tri thức và lý luận nghiên cứu các hiện tượng pháp luật; do đó "ngôn ngữ pháp học" là ngôn ngữ thuộc tầng bậc tư duy lý luận khoa học pháp lý. Ngược lại, "pháp luật" là khái niệm bộ phận (khái niệm chủng); "ngôn ngữ pháp luật" là ngôn ngữ ở tầng bậc chế định và quy phạm, được thể hiện trong các điều văn luật thành văn của nhà nước và các văn bản tư pháp do cơ quan có thẩm quyền ban hành trong quá trình thực thi pháp luật.

2. Ngữ liệu khảo sát thực chứng của luận án gồm những văn bản cụ thể nào?
Ngữ liệu của luận án gồm văn bản Bộ luật Hình sự nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (中华人民共和国刑法) bản sửa đổi năm 2015 (gồm 10 chương, 252 điều) và Bộ luật Hình sự nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 2015 (gồm 2 phần: phần chung 10 chương 77 điều, phần riêng 14 chương 265 điều, tổng cộng 24 chương 342 điều).

3. Văn bản pháp lý có những đặc trưng bản thể và yêu cầu ngôn ngữ nào theo luận án?
Về mặt bản thể, văn bản pháp lý mang 3 đặc trưng: tính hợp pháp (về thẩm quyền, trình tự, thời hạn), tính cố định (khuôn mẫu cấu trúc 3 phần, dùng từ ngữ quy phạm, yếu tố hóa nội dung) và tính cưỡng chế. Về mặt ngôn ngữ, văn bản pháp luật đòi hỏi: dùng từ ngữ mơ hồ phải chuẩn xác và hạn chế phạm vi ngoại diên, câu văn phải tuyệt đối chặt chẽ (không lỗi ngữ pháp, không gây đa nghĩa, không mâu thuẫn nội tại), diễn đạt tinh luyện, phong cách trang trọng nghiêm túc và kết cấu đoạn văn chặt chẽ.

4. Hai bộ luật hình sự Hán - Việt có điểm tương đồng và dị biệt nổi bật nào về mặt cấu trúc câu?
Điểm tương đồng là cả hai bộ luật đều dùng 100% câu trần thuật mang chức năng quy phạm và mệnh lệnh cưỡng chế; cấu trúc câu ưa chuộng dạng câu phức điều kiện - hệ quả nhiều tầng bậc để mô tả cấu thành tội phạm và khung hình phạt. Điểm dị biệt cơ bản nằm ở trật tự cú pháp: tiếng Hán có kết cấu định ngữ đứng trước trung tâm ngữ, dẫn đến các câu có mệnh đề bổ nghĩa cho tội danh/hành vi rất dài ở phía trước, trong khi tiếng Việt định ngữ thường đứng sau trung tâm ngữ; cách thức sử dụng liên từ liên kết và ngắt vế trong câu phức giữa hai ngôn ngữ cũng có sự khác biệt rõ nét.

5. Luận án giải quyết vấn đề dịch tên gọi các tội danh hình sự từ tiếng Hán sang tiếng Việt như thế nào?
Luận án phân tích tên tội danh theo 3 mức độ tương đương (tương đương hoàn toàn, tương đương bộ phận và không tương đương), đồng thời lưu ý người dịch không được lạm dụng việc sao chép nguyên dạng âm Hán - Việt khi nội hàm pháp lý giữa hai nước có sự khác biệt, mà phải căn cứ vào hành vi khách quan và cấu thành tội phạm trong văn bản luật đích để lựa chọn định danh tương ứng.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Ngọc Anh là công trình nghiên cứu chuyên khảo đối chiếu có hệ thống về đặc điểm ngôn ngữ pháp luật giữa tiếng Hán và tiếng Việt qua ngữ liệu Bộ luật Hình sự năm 2015 của hai nước. Bằng việc kết hợp phương pháp phân tích định tính với khảo sát thống kê định lượng, luận án đã làm sáng tỏ các quy luật cấu tạo từ, nguồn gốc từ vựng, phân bố từ loại, cấu trúc câu phức và chức năng ngữ khí trong văn bản luật hình sự. Đồng thời, công trình đề xuất các giải pháp kỹ thuật cụ thể nhằm tháo gỡ khó khăn trong chuyển dịch thuật ngữ, tội danh và các cấu trúc câu phức tạp Hán - Việt. Kết quả nghiên cứu đáp ứng trực tiếp yêu cầu thực tiễn của công tác tư pháp, an ninh và cung cấp tư liệu tham khảo cho hoạt động đào tạo, nghiên cứu ngôn ngữ học pháp lý tại Việt Nam.