Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong hệ thống ngữ pháp tiếng Việt, tính từ là một trong ba thực từ cơ bản (bên cạnh danh từ và động từ) có tần số xuất hiện và khả năng hoạt động ngữ pháp rất phong phú. Đặc biệt, ở cương vị thành tố phụ trong cấu trúc danh ngữ, tính từ đảm nhận vai trò định tố điển hình, mang lại khả năng hạn định ngoại diên, miêu tả thuộc tính và bộc lộ thái độ đánh giá chủ quan của chủ thể phát ngôn. Trong văn học nghệ thuật, ngôn từ là chất liệu cơ bản để nhà văn sáng tạo hình tượng, trong đó việc lựa chọn và tổ chức các định tố tính từ đóng vai trò then chốt trong việc định hình phong cách tác giả và tạo lập thế giới nghệ thuật của tác phẩm.

Nguyễn Tuân là cây bút văn xuôi xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại, nổi bật với phong cách tài hoa, uyên bác và độc đáo. Trong giai đoạn sáng tác trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, tập truyện ngắn Vang bóng một thời (xuất bản năm 1940) được xem là tác phẩm tiêu biểu phản ánh quan niệm thẩm mỹ về "cái đẹp trong quá khứ". Để tái hiện bức tranh văn hóa cổ truyền cùng hình tượng những con người tài hoa, nghĩa khí, nhà văn đã huy động một hệ thống định tố tính từ với mật độ dày đặc và cấu trúc đa dạng. Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Sang (Trường Đại học Thủ Dầu Một, 2016) tiếp cận tác phẩm dưới góc độ ngôn ngữ học nhằm khảo sát toàn diện hệ thống định tố tính từ này.

Nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể:

  1. Làm rõ các đặc điểm ngữ pháp, cấu tạo và vị trí phân bố của định tố tính từ trong ngôn ngữ tác phẩm Vang bóng một thời.
  2. Phân loại và phân tích đặc điểm ngữ nghĩa của định tố tính từ dựa trên hai chức năng cơ bản: hạn định và miêu tả.
  3. Khảo sát đặc điểm ngữ dụng của định tố tính từ qua bốn chức năng: chiếu vật, biểu đạt thông tin, biểu thị hàm ý và chức năng trang trí.
  4. Chỉ ra giá trị biểu đạt nghệ thuật của định tố tính từ trong việc xây dựng hệ thống nhân vật, không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật trong 12 truyện ngắn của tác phẩm.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống định tố tính từ (từ hoặc cụm tính từ làm thành tố phụ cho danh từ trung tâm trong danh ngữ).
  • Phạm vi tư liệu: Toàn bộ 12 truyện ngắn trong tập Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân (bao gồm: Bữa rượu máu/Chém treo ngành, Những chiếc ấm đất, Thả thơ, Đánh thơ, Ngôi mả cũ, Hương cuội, Chữ người tử tù, Ném bút chì, Chén trà trong sương sớm, Một cảnh thu muộn, Báo oán, Trên đỉnh non Tản).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và khái niệm công cụ

Khóa luận vận dụng hệ thống lý thuyết về từ loại, ngữ pháp và ngữ dụng học tiếng Việt từ các công trình nghiên cứu nền tảng:

  • Khái niệm tính từ và đặc điểm ngữ pháp: Khóa luận tiếp thu quan điểm của nhóm tác giả Diệp Quang Ban - Hoàng Văn Thung, Mai Ngọc Chừ - Vũ Đức Nghiệu - Hoàng Trọng Phiến, Đinh Văn Đức, Nguyễn Kim Thản. Theo đó, tính từ được xác định là thực từ mang ý nghĩa khái quát chỉ tính chất, đặc trưng; có khả năng kết hợp với phụ từ chỉ mức độ (rất, quá, lắm...) nhưng không kết hợp với các phụ từ mệnh lệnh (hãy, đừng, chớ); phân loại thành hai nhóm: tính từ chỉ đặc trưng không xác định thang độ và tính từ chỉ đặc trưng xác định thang độ tuyệt đối (trắng phau, đen sì, đỏ lòm).
  • Phân biệt định tố và định ngữ: Tiếp thu quan điểm của Hoàng Trọng Phiến và Nguyễn Thị Nhung, khóa luận phân định rạch ròi: "định ngữ" là thành phần câu trong quan hệ cú pháp bậc câu, còn "định tố" là thành tố phụ nằm trong quan hệ nội bộ của cụm danh từ (danh ngữ). Định tố do tính từ đảm nhiệm được gọi là định tố tính từ.
  • Hệ thống phân loại định tố tính từ: Dựa trên công trình chuyên luận Định tố tính từ trong tiếng Việt của Nguyễn Thị Nhung (2006), tác giả phân loại định tố tính từ theo ba bình diện:
    • Ngữ pháp: Cấu tạo là từ (từ đơn, từ ghép, từ láy) hoặc cụm từ (cụm chính phụ, cụm đẳng lập); vị trí (đứng trước hoặc đứng sau danh từ trung tâm).
    • Ngữ nghĩa: Định tố tính từ hạn định (ĐTTTHĐ - gồm phân loại ĐTTTPL và không phân loại ĐTTTKPL) và Định tố tính từ miêu tả (ĐTTTMT - gồm miêu tả cá thể ĐTTTMTCT và miêu tả chủng loại ĐTTTMTCL).
    • Ngữ dụng: Định tố tính từ chiếu vật (ĐTTTCV: nội chỉ, ngoại chỉ), Định tố tính từ thông tin (ĐTTTTT: chuyên thông tin ĐTTTCTT, kiêm thông tin ĐTTTKTT), Định tố tính từ hàm ý (ĐTTTHY: chuyên hàm ý ĐTTTCHY, kiêm hàm ý ĐTTTKHY), và Định tố tính từ trang trí (ĐTTTTrT: chuyên trang trí ĐTTTCTrT, kiêm trang trí ĐTTTKTrT).

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp thống kê: Thu thập, lập bảng số liệu định lượng về 937 định tố tính từ xuất hiện trong văn bản nguồn.
  • Phương pháp miêu tả đồng đại: Phân tích cấu trúc hình thức, vị trí phân bố và chức năng ngữ nghĩa - ngữ dụng của định tố tính từ trong danh ngữ.
  • Phương pháp phân tích nét nghĩa: Xác định các thành phần nghĩa sở biểu, nghĩa đánh giá và trường nghĩa của tính từ kết hợp với danh từ trung tâm.
  • Phương pháp phân tích ngữ cảnh: Phân tích sự vận hành của định tố tính từ trong các ngữ cảnh giao tiếp cụ thể của tác phẩm để phát hiện giá trị ngữ dụng và giá trị thẩm mỹ.

Nguồn dữ liệu

Nguồn dữ liệu khảo sát trực tiếp là văn bản 12 truyện ngắn trong tập Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân, được trích xuất và mã hóa thành 937 ngữ liệu danh ngữ có định tố tính từ.

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: Cơ sở lí luận

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về từ loại tính từ tiếng Việt, bao gồm định nghĩa, đặc điểm ngữ pháp (ý nghĩa khái quát, khả năng kết hợp, chức vụ cú pháp) và các cách phân loại tính từ theo thang độ ý nghĩa. Chương này làm rõ sự khu biệt giữa định tố và định ngữ trong tiếng Việt, định nghĩa định tố tính từ là những tính từ hoặc cụm tính từ đứng trước hoặc sau danh từ trung tâm để bổ nghĩa cho danh từ đó trong cấu trúc danh ngữ.

Bên cạnh đó, chương 1 phác thảo chân dung văn học của tác giả Nguyễn Tuân (1910–1987), phong cách nghệ thuật với nét đặc trưng là chữ "ngông", sự tài hoa và thói quen tìm kiếm cái đẹp ở quá khứ. Bối cảnh ra đời của tập truyện Vang bóng một thời (1940) cùng ba mảng nội dung chính được tóm lược: cái đẹp gắn liền với văn hóa truyền thống (thú thưởng trà, thả thơ, đánh thơ, chơi chữ), cái đẹp gắn liền với chất tài hoa nghệ sĩ, và cái đẹp duy mỹ hình thức; đồng thời chỉ ra đặc trưng nghệ thuật tả cảnh u hoài và ngôn từ trau chuốt của tác phẩm.

CHƯƠNG 2: Thống kê, phân loại định tố tính từ trong ngôn ngữ tác phẩm "Vang bóng một thời" của Nguyễn Tuân

Chương 2 trình bày kết quả khảo cứu định lượng và định tính trên 937 định tố tính từ thu thập được từ tác phẩm.

Về đặc điểm ngữ pháp:

  • Xét về vị trí: Tuyệt đại đa số định tố tính từ phân bố sau danh từ trung tâm với 916 trường hợp (chiếm 97,8%). Vị trí đứng trước danh từ trung tâm chỉ xuất hiện 21 trường hợp (chiếm 2,2%), thường là các định tố tính từ chỉ lượng hoặc dùng trong cấu trúc sóng đôi nhằm nhấn mạnh nhịp điệu.
  • Xét về cấu tạo: Dạng thức từ chiếm ưu thế vượt trội với 777 trường hợp (82,9%), trong khi dạng thức cụm từ chiếm 160 trường hợp (17,1%).
Tiêu chí phân loại Kiểu cấu tạo / Vị trí Số lượng (ngữ liệu) Tỷ lệ (%)
Vị trí phân bố Đứng sau danh từ trung tâm 916 97,8%
Đứng trước danh từ trung tâm 21 2,2%
Cấu tạo: Dạng từ Từ đơn 550 58,7%
Từ ghép 117 12,5%
Từ láy 110 11,7%
Cấu tạo: Dạng cụm từ Cụm từ (chính phụ, đẳng lập) 160 17,1%
Tổng cộng 937 100,0%

Về đặc điểm ngữ nghĩa: Định tố tính từ trong tác phẩm được phân thành hai nhóm ngữ nghĩa chính:

  1. Định tố tính từ hạn định (ĐTTTHĐ): Chiếm 646/937 trường hợp (khoảng 68,9%), có nhiệm vụ bổ sung nội hàm và thu hẹp ngoại diên của danh từ trung tâm. Nhóm này gồm định tố tính từ phân loại (ĐTTTPL - phân biệt tiểu loại trong chủng loại, ví dụ: vỏ cam khô, chiếc đĩa cổ) và định tố tính từ không phân loại (ĐTTTKPL - thu hẹp ngoại diên đến mức tối đa bằng các tính từ chỉ mức độ tuyệt đối).
  2. Định tố tính từ miêu tả (ĐTTTMT): Không thu hẹp ngoại diên mà tập trung tái hiện đặc điểm, tính chất của sự vật. Nhóm này chia thành định tố tính từ miêu tả cá thể (ĐTTTMTCT - miêu tả đặc điểm của đối tượng xác định, tên riêng) và định tố tính từ miêu tả chủng loại (ĐTTTMTCL - miêu tả đặc trưng chung của lớp sự vật).

Về đặc điểm ngữ dụng: Định tố tính từ được phân định theo 4 chức năng hoạt động trong ngữ cảnh:

  • Chức năng chiếu vật (ĐTTTCV): Gồm chiếu vật nội chỉ (dựa vào văn cảnh đi trước) và chiếu vật ngoại chỉ (quy chiếu thực thể ngoài ngôn bản).
  • Chức năng biểu đạt thông tin (ĐTTTTT): Cung cấp thông tin mới mang tính thông báo (chuyên thông tin hoặc kiêm thông tin).
  • Chức năng biểu thị hàm ý (ĐTTTHY): Truyền tải thông điệp gián tiếp, ý kiến đánh giá ẩn tàng của người viết (chuyên hàm ý hoặc kiêm hàm ý).
  • Chức năng trang trí (ĐTTTTrT): Tăng cường tính gợi hình, gợi cảm, tạo nhạc tính và giá trị thẩm mỹ cho câu văn thông qua các từ láy và cụm từ giàu hình ảnh (chuyên trang trí hoặc kiêm trang trí).

CHƯƠNG 3: Giá trị của định tố tính từ trong ngôn ngữ tác phẩm "Vang bóng một thời" của Nguyễn Tuân

Chương 3 phân tích giá trị biểu đạt nghệ thuật của hệ thống định tố tính từ trong việc tổ chức các yếu tố thi pháp của tác phẩm:

  • Trong cách xây dựng nhân vật: Các định tố tính từ được sử dụng để khắc họa diện mạo, cốt cách thanh tao, phẩm hạnh và tài năng phi thường của các nhân vật Nho sĩ, nghệ nhân xưa (Huấn Cao, cụ Kép, Bát Lê...). Tính từ làm nổi bật sự đối lập giữa nhân cách trong sạch, kiên cường với hoàn cảnh ngục tù tăm tối hoặc thực tại suy đồi.
  • Trong miêu tả không gian nghệ thuật: Định tố tính từ tái hiện những không gian cổ kính, trang nghiêm, tĩnh lặng (thư phòng thưởng trà, trường thi, phòng giam ẩm ướt, đền miếu cổ). Hệ thống tính từ chỉ màu sắc, hình khối và ánh sáng tạo nên không khí u trầm, thanh tịnh mang đậm dấu ấn hoài cổ.
  • Trong miêu tả thời gian nghệ thuật: Tác giả sử dụng các định tố tính từ gắn liền với dòng thời gian dĩ vãng, thời gian tàn tạ, buông trôi (chiều muộn, đêm tàn, mùa thu xế bóng), khắc sâu tâm trạng nuối tiếc những nét đẹp truyền thống đang dần mai một trước sự biến động của thời cuộc.

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính

  1. Khóa luận đã thống kê và phân loại đầy đủ 937 định tố tính từ trong toàn bộ 12 truyện ngắn của tác phẩm Vang bóng một thời.
  2. Về mặt ngữ pháp, tác giả chỉ ra tính chất ngắn gọn, hàm súc trong kết cấu danh ngữ của Nguyễn Tuân: định tố tính từ dạng từ đơn chiếm tỷ lệ lớn nhất (58,7%), định tố dạng từ nói chung chiếm 82,9%; vị trí phân bố sau danh từ trung tâm chiếm tỷ đối tuyệt đối (97,8%), vị trí trước danh từ chiếm 2,2%.
  3. Về mặt ngữ nghĩa, định tố tính từ hạn định chiếm vị trí áp đảo với 646/937 trường hợp (68,9%), khẳng định xu hướng định danh, phân loại và khu biệt chính xác các thuộc tính của sự vật, cảnh vật trong văn phong Nguyễn Tuân.
  4. Về mặt thi pháp ngôn từ, khóa luận chứng minh định tố tính từ là công cụ nghệ thuật đắc lực giúp Nguyễn Tuân tạo dựng không gian nghệ thuật hoài cổ, khắc họa nhân vật tài hoa và biểu đạt thời gian tàn phai đặc trưng cho chủ đề "cái đẹp vang bóng".

Đóng góp của đề tài

  • Khóa luận là công trình nghiên cứu chuyên biệt đầu tiên tiếp cận tác phẩm Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân dưới góc độ ngôn ngữ học từ loại, cụ thể là chức năng của định tố tính từ trên cả ba bình diện: ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng.
  • Kết nối thành công giữa lý thuyết ngữ pháp học tiếng Việt hiện đại (mô hình định tố tính từ của Nguyễn Thị Nhung) với việc phân tích phong cách học văn bản nghệ thuật, cung cấp cơ sở định lượng cụ thể để lý giải phong cách ngôn ngữ tài hoa của Nguyễn Tuân.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do giới hạn về thời gian và dung lượng của một khóa luận tốt nghiệp bậc đại học, phạm vi khảo sát chỉ mới dừng lại ở một tác phẩm văn xuôi trước năm 1945 (Vang bóng một thời), chưa mở rộng đối chiếu với các tác phẩm tùy bút, ký sau năm 1945 của Nguyễn Tuân như Sông Đà hay Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi.
  • Hướng mở rộng: Nghiên cứu so sánh sự biến chuyển trong cách sử dụng định tố tính từ của Nguyễn Tuân giữa hai giai đoạn trước và sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945; hoặc đối chiếu đặc điểm định tố tính từ giữa Nguyễn Tuân với các tác giả cùng thời kỳ như Thạch Lam, Tô Hoài để làm sáng tỏ nét khu biệt trong phong cách ngôn từ nghệ thuật của từng tác giả.

Giá trị tham khảo

Công trình là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Ngữ văn, Ngôn ngữ học tiếng Việt, Lý luận văn học và Sư phạm Ngữ văn khi thực hiện các đề tài nghiên cứu về từ loại, ngữ nghĩa - ngữ dụng học hoặc phong cách học tác giả.
  • Giáo viên Ngữ văn tại các trường trung học phổ thông trong việc khai thác các ngữ liệu ngôn ngữ học để phân tích các đoạn trích của Nguyễn Tuân trong chương trình (tiêu biểu như truyện ngắn Chữ người tử tù).
  • Phần bảng biểu thống kê chi tiết ở Chương 2 và các phân tích ngữ liệu ở Chương 3 là nguồn cứ liệu xác thực, đáng tin cậy cho các nghiên cứu tiếp theo về ngôn ngữ văn xuôi Nguyễn Tuân.

Câu hỏi thường gặp

Khóa luận phân loại định tố tính từ dựa trên những bình diện lý thuyết nào?

Khóa luận vận dụng mô hình lý thuyết của tác giả Nguyễn Thị Nhung (2006), phân tích định tố tính từ trên ba bình diện chính: bình diện ngữ pháp (cấu tạo từ đơn/ghép/láy, cụm chính phụ/đẳng lập; vị trí trước/sau danh từ trung tâm), bình diện ngữ nghĩa (chức năng hạn định và miêu tả), và bình diện ngữ dụng (chức năng chiếu vật, biểu đạt thông tin, biểu thị hàm ý, và chức năng trang trí).

Tỷ lệ phân bố về vị trí và cấu tạo của định tố tính từ trong tác phẩm có đặc điểm gì nổi bật?

Trong tổng số 937 định tố tính từ được khảo sát, dạng thức từ chiếm 82,9% (gồm 550 từ đơn chiếm 58,7%, 117 từ ghép chiếm 12,5%, 110 từ láy chiếm 11,7%), dạng thức cụm từ chiếm 17,1% (160 trường hợp). Về vị trí, 97,8% định tố tính từ (916 trường hợp) đứng sau danh từ trung tâm theo quy tắc trật tự thuận của tiếng Việt; chỉ có 2,2% (21 trường hợp) đứng trước danh từ trung tâm nhằm bổ sung ý nghĩa chỉ lượng hoặc tạo hiệu quả tu từ đặc biệt.

Nhóm định tố tính từ nào chiếm ưu thế về mặt ngữ nghĩa trong "Vang bóng một thời"?

Định tố tính từ hạn định (ĐTTTHĐ) chiếm ưu thế với 646/937 trường hợp (khoảng 68,9%). Điều này cho thấy ngòi bút của Nguyễn Tuân luôn hướng tới việc xác định cụ thể, phân loại chi tiết các thuộc tính, trạng thái của sự vật để làm nổi bật nét độc đáo của đối tượng được miêu tả.

Có trường hợp ngoại lệ nào về vị trí của định tố tính từ trong danh ngữ được tác giả chỉ ra?

Tác giả chỉ ra các trường hợp định tố tính từ đứng trước danh từ trung tâm biểu thị ý nghĩa chỉ lượng như: "ít quà mọn", "ít bạc cốm", cấu trúc phân bố trước - sau trong câu sóng đôi "Càng đông đèn, cỗ càng vui", hoặc trường hợp định tố tính từ bị gián cách với danh từ trung tâm bởi phó từ chỉ mệnh lệnh - khuyên bảo trong câu thơ: "Núi cao sông hãy còn dài / Năm năm báo oán đời đời đánh ghen".

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Thị Ngọc Sang đã giải quyết tường minh vấn đề định tố tính từ trong tập truyện ngắn Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân trên cả ba bình diện cấu trúc ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng. Dựa trên nguồn ngữ liệu thực tế gồm 937 định tố tính từ, công trình cung cấp những luận cứ định lượng khoa học, làm sáng tỏ nghệ thuật sử dụng ngôn từ điêu luyện và tài hoa của nhà văn trong việc kiến tạo thế giới nhân vật, không gian và thời gian nghệ thuật hoài cổ. Đây là công trình nghiên cứu nghiêm túc, có giá trị học thuật và ứng dụng thiết thực cho việc nghiên cứu ngôn ngữ văn học và giảng dạy tác phẩm văn xuôi Nguyễn Tuân.