phần mở đầu và kết luận thì nội dung chính của khóa luận đƣợc chia thành ba chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận. Trong chƣơng này, chúng tôi sẽ trình bày khái quát về một số vấn đề liên quan trực tiếp đến đề tài nghiên cứu nhƣ: tính từ và đặc điểm của tính từ; định tố, định tố tính từ và các đặc điểm của định tố tính từ; tác giả Nguyễn Tuân và tác phẩm “Vang bóng một thời”. 6 Chƣơng 2: Thống kê, phân loại định tố tính từ trong ngôn ngữ tác phẩm “Vang bóng một thời” của Nguyễn Tuân. Trong chƣơng này, chúng tôi sẽ thống kê số lƣợng định tố tính từ đƣợc sử dụng trong tác phẩm “Vang bóng một thời”.
Sau đó, chúng tôi sẽ tiến hành phân loại định tố tính từ dựa vào đặc điểm ngữ pháp, đặc điểm ngữ nghĩa và đặc điểm ngữ dụng của nó. Trong quá trình phân loại, chúng tôi còn đƣa ra một số đánh giá về đặc điểm của định tố tính từ đƣợc sử dụng trong tác phẩm “Vang bóng một thời”. Ngoài ra, chúng tôi còn thống kê, phân loại để tìm hiểu thêm về đặc điểm của định tố tính từ trong chức năng là trƣờng nghĩa của danh từ trung tâm. Chƣơng 3: Giá trị của định tố tính từ trong ngôn ngữ tác phẩm “Vang bóng một thời” của Nguyễn Tuân.
Trong chƣơng này, chúng tôi sẽ phân tích để làm rõ giá trị của định tố tính từ trong chức năng là trƣờng nghĩa của danh từ trung tâm. 7 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. Khái quát về tính từ 1. Khái niệm tính từ Khi ngôn ngữ trở thành phƣơng tiện giao tiếp trọng yếu nhất của con ngƣời thì hệ thống từ loại đƣợc xem nhƣ là cơ sở ngữ pháp vững chắc cho một ngôn ngữ nhất định.
Trong hệ thống từ loại tiếng Việt, tính từ là một trong các loại thực từ, thuộc về nhóm từ vựng cơ bản và nó là đối tƣợng nghiên cứu của ngữ pháp học, từ vựng học. Khi nghiên cứu về từ loại tính từ trong tiếng Việt, tính từ đƣợc định nghĩa theo nhiều quan niệm khác nhau của các nhà Việt ngữ học. Trƣớc hết, tính từ đƣợc nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ - Vũ Đức Nghiệu - Hoàng Trọng Phiến định nghĩa nhƣ sau: “Tính từ có ý nghĩa khái quát chỉ tính chất, có thể đứng sau từ rất và thƣờng làm vị ngữ hay định ngữ trong câu” [5; 272]. Quan niệm này đã bao hàm các đặc trƣng ngữ pháp của tính từ xét từ ý nghĩa khái quát là chỉ tính chất đến khả năng kết hợp với phụ từ chỉ mức độ rất và chức vụ làm vị ngữ hay định ngữ trong câu.
Nhằm nhấn mạnh vị trí và vai trò của tính từ trong tiếng Việt, Đinh Văn Đức đƣa ra quan niệm: “Tính từ là từ loại có vị trí quan trọng trong các thực từ, sau danh từ và động từ. Tính từ có số lƣợng lớn và nhƣ lệ thƣờng, đƣợc coi là từ loại có ý nghĩa chỉ tính chất, rộng hơn, là chỉ các đặc trƣng nói chung” [6; 148]. Còn trong công trình nghiên cứu Định tố tính từ trong tiếng Việt, tác giả Nguyễn Thị Nhung đã đồng nhất quan niệm của mình về tính từ với các tác giả trong công trình nghiên cứu Ngữ pháp tiếng Việt: “Tính từ là từ có nghĩa khái quát về tính chất” [24; 70]. Chúng tôi cũng đồng nhất với quan niệm về tính từ của nhóm tác giả này.
Tóm lại, các quan niệm về tính từ đƣợc nói đến ở trên đa số dựa vào các đặc trƣng ngữ pháp của tính từ. Khái niệm tính từ chỉ cần đƣợc khẳng định ở hai khía cạnh: tính từ là một loại từ loại, nó có bản chất ý nghĩa dùng để chỉ tính chất. Ý nghĩa khái quát của tính từ là thứ ý nghĩa chung nhất của lớp từ này và nó luôn chỉ rõ đặc trƣng của sự vật, hiện tƣợng. Hay nói cách khác, ý nghĩa khái quát của tính 8 từ là thứ ý nghĩa đi kèm với từ (đi kèm với danh từ và động từ).
Chính vì vậy, bao giờ tính từ cũng là một thành tố phụ dùng để bổ sung nghĩa cho thành tố chính trong một nhóm từ nhất định. Đặc điểm ngữ pháp của tính từ Đặc điểm ngữ pháp của tính từ đƣợc xét trên ba phƣơng diện: ý nghĩa khái quát, khả năng kết hợp và chức vụ cú pháp. Các phƣơng diện này cũng chính là cơ sở ngữ pháp để phân định từ loại tiếng Việt. Theo nhóm tác giả Diệp Quang Ban - Hoàng Văn Thung trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt, đặc điểm ngữ pháp của tính từ đƣợc nêu cụ thể nhƣ sau: - “Ý nghĩa đặc trƣng đƣợc biểu hiện trong tính từ thƣờng có tính chất đối lập phân cực (thành cặp trái nghĩa) hoặc có tính chất chỉ mức độ (so sánh và miêu tả theo thang độ)” [1; 115].
- “Tính từ có khả năng kết hợp với phụ từ, nhƣng không kết hợp đƣợc với “hãy”, “đừng”, “chớ” (đối lập với động từ). Tính từ cũng có thể kết hợp đƣợc với thực từ đi kèm (để bổ nghĩa cho tính từ). Trong tính từ, có bộ phận không thể dùng kèm phụ từ, đó là những tính từ chỉ ý nghĩa đặc trƣng ở thang độ tuyệt đối” [1; 115]. - “Làm vị ngữ trong câu đƣợc coi là chức năng chính của tính từ, nhƣng tính từ cũng đƣợc dùng kèm với danh từ hoặc động từ để bổ nghĩa cho danh từ hay động từ” [1; 115].
Trên cơ sở lý luận về các đặc điểm ngữ pháp của tính từ tiếng Việt nêu trên, chúng tôi xin trình bày tóm tắt những đặc điểm ngữ pháp nhất định và phổ biến của tính từ tiếng Việt nhƣ sau: - Tính từ có ý nghĩa khái quát chỉ tính chất của sự vật, hiện tƣợng. Ý nghĩa khái quát này phản ánh đặc trƣng khách quan, đồng thời, nó còn bị chi phối bởi cách nhìn, cách thức nhận xét của ngƣời bản ngữ. Khi tính từ chỉ ý nghĩa đặc trƣng đã mang tính chất tuyệt đối thì không thể kết hợp với các phụ từ đi kèm, ví dụ: trắng phau, đen sì, thơm phức, xanh ngắt, đỏ lòm…; ngƣợc lại, khi tính từ biểu thị ý nghĩa 9 đƣợc hình thành do cách thức phản ánh đặc trƣng của ngƣời bản ngữ thì nó có thể kết hợp với các phụ từ đi kèm, ví dụ: Hoa còn tươi. Cô gái rất đẹp.
Bé ngoan lắm. - Tính từ có khả năng kết hợp với các phụ từ, tiểu từ tình thái, nhƣng phụ từ chuyên dụng của tính từ là những phụ từ chỉ mức độ đặc trƣng. Trƣờng hợp tính từ làm vị ngữ, nó sẽ biểu thị đặc trƣng của sự tình, mà sự tình thì biến động, do vậy, tính từ dễ dàng tiếp nhận các tiêu chí thời thể và gắn với yếu tố về thời gian nhƣ diễn tiến của động từ, ví dụ: Hoa này còn tươi. Nam đang buồn vì chuyện gia đình.
Anh ta sẽ đau buồn khi biết bạn gái của anh ta đã qua đời. Trƣờng hợp tính từ kết hợp với các tiểu từ tình thái giúp cho phát ngôn có tính thông báo, ví dụ: Hoa Lan đẹp nhỉ! Hoa hồng rực rỡ quá! Trƣờng hợp tính từ kết hợp với các phụ từ chuyên dụng của nó nhằm chỉ mức độ, đặc trƣng của sự vật, hiện tƣợng, ví dụ: Lan rất béo. Kẻ độc ác nhất. Nam thông minh nhất.
Hồng xinh lắm!. - Tính từ có thể làm vị ngữ nhƣ động từ, nhƣng chức năng làm định tố cho danh từ là chức năng “điển hình” của tính từ, vì khi nói đến một danh từ chỉ sự vật, rộng hơn là thực thể, thì ta sẽ nhận diện ngay đối tƣợng đó bằng thuộc tính đa dạng của nó, và thuộc tính đó do tính từ biểu thị. Chính vì thế, chức vụ làm định tố cho danh từ là chức vụ phổ biến nhất của tính từ. Ví dụ: Lá trầu xanh là đầu câu chuyện kết tóc se duyên.
Miếng xôi thơm là tình nghĩa cƣu mang dành cho những ngƣời nghèo khổ. Con bƣớm trắng lƣợn quanh đám hoa cúc vàng. Phân loại tính từ Có rất nhiều cách phân loại tính từ dựa vào ý nghĩa khái quát và khả năng kết hợp của nó. Theo tác giả Nguyễn Hữu Quỳnh trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt, tính từ bao gồm các loại: tính từ chỉ đặc điểm bên ngoài của sự vật, tính từ chỉ đặc tính bên trong và trạng thái của sự vật, tính từ miêu tả.
Còn theo cách phân loại của tác giả Nguyễn Kim Thản, tính từ đƣợc phân thành hai loại: tính từ không trình độ và tính từ có trình độ. Chúng tôi đồng nhất quan niệm với cách phân loại tính từ của nhóm tác giả Diệp Quang Ban - Hoàng Văn Thung trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt. Theo nhƣ quan điểm này, tính từ đƣợc chia thành hai lớp: lớp chỉ đặc trƣng không xác định 10 thang độ (Nguyễn Kim Thản gọi là “tính từ không trình độ”) và lớp chỉ đặc trƣng xác định thang độ (Nguyễn Kim Thản gọi là “tính từ có trình độ”). - Tính từ chỉ đặc trƣng không xác định thang độ: là những tính từ có khả năng kết hợp với các phụ từ chỉ mức độ: rất, lắm, hơi, quá, cực kì, tuyệt… hoặc kết hợp với thực từ hàm chỉ ý nghĩa thang độ (thực từ đi kèm để định tính cho đặc trƣng đƣợc biểu hiện trong tính từ).
- Tính từ chỉ đặc trƣng xác định thang độ: là những tính từ tự thân không hàm chứa khả năng thay đổi mức độ, tức là nó đã biểu thị đặc trƣng mang ý nghĩa tuyệt đối. Lớp tính từ này không kết hợp với các phụ từ đi kèm, đồng thời, chúng cũng không cần thiết có thực từ đi kèm để định tính. Định tố và định tố tính từ 1. Khái niệm định tố Hiện nay, các nhà nghiên cứu Việt ngữ học nói chung, và ngữ pháp tiếng Việt nói riêng đã đƣa ra các quan điểm khác nhau về hai loại tổ hợp đứng sau danh từ: định tố và định ngữ.
Theo quan điểm của nhà ngôn ngữ học nổi tiếng Nguyễn Tài Cẩn, ông đồng nhất định ngữ với tên gọi là định tố sau danh từ; nghĩa là, định ngữ là định tố. Theo nhƣ Nguyễn Tài Cẩn, định ngữ là một thành tố phụ, thuộc đoản ngữ danh từ chứ không thuộc về thành phần câu. Nhƣng vấn đề giữa hai tên gọi “định tố” và “định ngữ” lại đƣợc một số nhà nghiên cứu khác nhƣ Hoàng Trọng Phiến, Nguyễn Thị Nhung phân biệt rất rạch ròi. Hoàng Trọng Phiến đã chỉ rõ: “Định ngữ đƣợc xét nhƣ một yếu tố trong quan hệ nội bộ của nhóm thì gọi là định tố.