Luận án tiến sĩ về dịch tễ sán lá gan nhỏ và sán lá ruột nhỏ tại Ninh Bình

Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm dịch tễ và thành phần loài sán lá gan, sán lá ruột tại huyện Kim Sơn và Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình.

Trường đại học

Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương

Chuyên ngành

Dịch tễ học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sỹ y học

2020

184
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về sán lá gan nhỏ và sán lá ruột nhỏ

Sán lá gan nhỏ (SLGN)sán lá ruột nhỏ (SLRN) là hai loài ký sinh trùng lây truyền qua cá, gây bệnh cho người và động vật. Dịch tễ học của hai loài này tập trung chủ yếu ở khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Ninh Bình là một trong những địa phương có tỷ lệ nhiễm cao do thói quen ăn gỏi cá của người dân. Nghiên cứu y học về hai loài sán này đã chỉ ra sự đa dạng về thành phần loài và vòng đời, cũng như tác động của chúng đến sức khỏe cộng đồng. Các bệnh truyền nhiễm do sán lá gan và sán lá ruột gây ra vẫn là vấn đề nghiêm trọng, đặc biệt ở các vùng nông thôn.

1.1. Đặc điểm dịch tễ học

Dịch tễ học của sán lá gan nhỏsán lá ruột nhỏ được nghiên cứu kỹ lưỡng tại Ninh Bình, đặc biệt ở hai huyện Kim SơnYên Khánh. Tỷ lệ nhiễm sán ở người và cá được xác định thông qua các phương pháp điều tra dịch tễ và xét nghiệm phân. Kết quả cho thấy, tỷ lệ nhiễm sán lá gan nhỏ lên đến 30% ở một số địa phương. Phòng chống bệnh ký sinh trùng này đòi hỏi sự kết hợp giữa giáo dục sức khỏe và cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường.

1.2. Thành phần loài và vòng đời

Thành phần loài của sán lá gan nhỏ bao gồm các loài chính như Clonorchis sinensis, Opisthorchis viverrini, và Opisthorchis felineus. Sán lá ruột nhỏ thuộc họ HeterophyidaeEchinostomatidae, với hơn 70 loài được ghi nhận. Vòng đời của hai loài sán này bao gồm các giai đoạn từ trứng, ấu trùng, đến sán trưởng thành, lây nhiễm qua cá và động vật có vú. Hiểu rõ vòng đời giúp thiết kế các biện pháp phòng chống bệnh hiệu quả.

II. Phương pháp nghiên cứu và kết quả

Nghiên cứu sử dụng các phương pháp điều tra dịch tễ, xét nghiệm phân, và kỹ thuật sinh học phân tử để xác định tỷ lệ nhiễm và thành phần loài của sán lá gan nhỏsán lá ruột nhỏ tại Ninh Bình. Kết quả cho thấy, tỷ lệ nhiễm sán ở người và cá có sự khác biệt đáng kể giữa các địa phương. Nghiên cứu y học này cung cấp dữ liệu quan trọng để thiết kế các chương trình phòng chống bệnh ký sinh trùng hiệu quả.

2.1. Điều tra dịch tễ

Điều tra dịch tễ được thực hiện trên 400 đối tượng tại hai huyện Kim SơnYên Khánh. Kết quả cho thấy, tỷ lệ nhiễm sán lá gan nhỏsán lá ruột nhỏ cao ở những người có thói quen ăn gỏi cá. Các yếu tố nguy cơ bao gồm điều kiện vệ sinh kém và thiếu kiến thức về phòng chống bệnh. Nghiên cứu này nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo dục sức khỏe trong việc giảm tỷ lệ nhiễm sán.

2.2. Kỹ thuật sinh học phân tử

Kỹ thuật sinh học phân tử như PCR được sử dụng để xác định chính xác thành phần loài của sán lá gan nhỏsán lá ruột nhỏ. Kết quả cho thấy sự hiện diện của nhiều loài sán khác nhau, bao gồm Clonorchis sinensisOpisthorchis viverrini. Phương pháp này giúp cải thiện độ chính xác trong chẩn đoán và thiết kế các biện pháp phòng chống bệnh hiệu quả.

III. Đóng góp và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu này đóng góp quan trọng vào việc hiểu rõ dịch tễ học của sán lá gan nhỏsán lá ruột nhỏ tại Ninh Bình. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học để thiết kế các chương trình phòng chống bệnh ký sinh trùng hiệu quả. Nghiên cứu y học này cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kết hợp giữa giáo dục sức khỏe và cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường trong việc giảm tỷ lệ nhiễm sán.

3.1. Giá trị khoa học

Nghiên cứu cung cấp dữ liệu chi tiết về dịch tễ học và thành phần loài của sán lá gan nhỏsán lá ruột nhỏ tại Ninh Bình. Kết quả nghiên cứu giúp hiểu rõ hơn về sự phân bố và tác động của các loài sán này đến sức khỏe cộng đồng. Nghiên cứu y học này cũng mở ra hướng tiếp cận mới trong việc chẩn đoán và phòng chống bệnh ký sinh trùng.

3.2. Ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu được ứng dụng trong việc thiết kế các chương trình phòng chống bệnh ký sinh trùng tại Ninh Bình. Các biện pháp bao gồm giáo dục sức khỏe, cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường, và tăng cường giám sát dịch tễ. Nghiên cứu này cũng góp phần nâng cao nhận thức của người dân về tác hại của bệnh ký sinh và cách phòng ngừa hiệu quả.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đặc điểm dịch tễ sán lá gan nhỏ, sán lá ruột nhỏ Ngày nay, nhờ các kỹ thuật sinh học phân tử, phân loại sán lá có nhiều thay đổi, nhiều loài sán lá ruột mới được giám định và biết đến. Hơn 100 loài sán lá đã được ghi nhận gây nhiễm cho con người tập trung vào 6 nhóm chính gây bệnh tương ứng là: bệnh sán máng (schistosomiasis), bệnh sán lá gan lớn (fascioliasis), bệnh sán lá phổi (paragonimiasis), bệnh SLGN (opisthorchiasis, clonorchiasis), bệnh SLRN (intestinal trematodes) [9]. Trong luận án này chúng tôi tập trung nói tới một số loài sán lá lây truyền qua cá gồm SLGN, SLRN chủ yếu họ Opisthorchiidae và Heterophyidae.

Thành phần loài sán lá gan nhỏ, sán lá ruột nhỏ 1. Thành phần loài sán lá gan nhỏ Vị trí phân loại sán lá gan nhỏ: [16] Giới: Metazoa (Động vật - Kingdom Animalia); Ngành: Platyhelminthes (Sán dẹt - Phylum Platyhelminthes); Lớp: Trematoda (sán lá - Class Trematoda); Phân lớp: Digena (Subclass digenea); Bộ: Opisthorchiida (Order Opisthorchiida) Họ: Opisthorchiidae; Giống: Clonorchis, Opisthorchis; Họ Opisthorchiidae gồm 3 loài lây nhiễm cho người gồm: Clonorchis sinensis, Opisthorchis viverrini, Opisthorchis felineus với đặc điểm sinh học, vòng đời và lâm sàng tương đối giống nhau [17]. felineus được Sebastiano Rivolta phát hiện trên mèo năm 1884, năm 1891 K. Vinogradov phát hiện trên người.

viverrini được Leiper phát hiện lần đầu tiên năm 1911 trên các tù nhân ở Thái Lan, tuy nhiên ông nghĩ đây là O. felineus, đến năm 1955 Sadun EH cho rằng đó là một loài mới. viverrini, sau đó được Wykoff khẳng định lại năm 1965. sinensis do McConnel phát hiện lần đầu tiên ở Calcutta năm 1875 và được gọi là Distomum spathulatum, năm 1895 Blanchard đặt tên giống Opisthorchis và gọi sán này là Distomum sinense.

Năm 4 1907 Looss đặt tên giống Clonorchis, sán Clonorchis có tinh hoàn chia nhánh khác với sán Opisthorchis có tinh hoàn chia thùy [18]. Thành phần loài sán lá ruột nhỏ Bảng 1. 1: Phân loại sán lá ruột nhỏ Bộ Họ Giống Opisthorchiida Heterophyidae Apophallus, Ascocotyle, Centrocestus, Cryptocotyle, Haplorchis, Heterophyes, Heterophyopsis, Metagonimus, Procerovum, Pygidiopsis, Stellantchasmus, Stictodora Plagiorchiida Echinostomatidae Artyfechinostomum, Acanthoparyphium, Cathaemasia, Echinochasmus, Echinoparyphium, Echinostoma, Episthmium, Euparyphium, Himasthla, Hypoderaeum, Psilorchis Lecithodendriidae Phaneropsolus, Prosthodendrium Paramphistomatidae Fischoederius, Watsonius Microphallidae Spelotrema Nanophyetidae Nanophyetus Plagiorchiidae Plagiorchis Strigeidida Strigeidae Cotylurus Brachylaimoidea Brachylaimidae Brachylaima (trên họ) Digenea incertae Gastrodiscidae Homalogaster sedis (không Gymnophallidae Gymnophalloides thuộc đơn vị phân Neodiplostomidae Neodiplostomum loại nào) Nguồn(https://www.gov/Taxonomy/Browser/wwwtax.cgi) SLRN gồm khoảng 70 loài thuộc nhiều bộ khác nhau trong dưới lớp Digenea, có nhiều đặc điểm về hình thái và sinh học, cách lây nhiễm tương tự như 5 SLGN nên vùng phân bố của chúng có thể trùng với SLGN. Các biện pháp chẩn đoán hình thái rất khó khăn trong việc phân biệt SLGN và SLRN cho nên trong nhiều trường hợp nhiễm SLRN chưa được xác định chính xác và bị cộng dồn vào SLGN.

Trong số các loài SLRN thì Heterophyidae và Echinostomatidae là hai nhóm chính về số lượng loài có liên quan, số lượng người nhiễm, và sự phân bố các vùng lưu hành [19]. Sinh học và vòng đời 1. Sinh học và vòng đời sán lá gan nhỏ - Hình thể sán lá gan nhỏ: [20] Hình 1. 1: Hình thể cấu tạo sán lá gan nhỏ trưởng thành Clonorchis sinensis (A) Sán trưởng thành C.

(B) Sán trưởng thành C. sinensis nhuộm màu với carmine. SLGN là sán lá lưỡng tính, sán trưởng thành có hình phẳng, thon dài, hình lá hoặc dẹt, kích thước phụ thuộc vào loài liên quan. viverrini là nhỏ nhất, kích thước 5,5-10×0,77-1,65mm.

felineus có kích thước lớn hơn 7-12×2-3mm, trung bình dài 5,5-10mm và rộng 0,8-1,6mm. sinensis trưởng thành kích thước lớn nhất 10-25×3-5mm trung bình dài 8-15mm, rộng 1,5-4mm [21]. Sán có 2 giác bám, giác bụng thường nhỏ hơn giác miệng. Hai tinh hoàn nằm ở phía sau chia nhiều múi hoặc chia nhiều nhánh nhỏ.

Tử cung nhỏ xếp khúc nằm ở giữa thân, hoàng thể hai bên. Ổ trứng hình bầu dục, nhỏ, dưới ổ trứng là túi tinh, sau tinh hoàn là ống bài tiết [7]. sinensis có hình thái tương tự như O. felineus, nhưng khác biệt ở tinh hoàn phân nhánh [21].

6 - Trứng sán lá gan nhỏ: C. viverrini có hình thái tương tự khiến chúng khó phân biệt với nhau. Trứng hình bầu dục, dài khoảng 19-35μm và rộng khoảng 10-20μm. Trứng có một lớp vỏ mỏng bắt màu màu vàng nhạt.

Một đầu trứng có nắp, hai gờ của nắp nổi rõ. Đuôi trứng có núm con nhỏ gọi là gai. Các gai của mỗi loài là khác nhau. Bề mặt của vỏ trứng thô và không đều đã được mô tả trên kính hiển vi [22].

viverrini [24] A, Opishorchis felineus B, Opithorchis vivverini C. Sinensis [25] C, Clonorchis sinensis Hình 1. 2: Hình thể sán lá gan nhỏ trưởng thành [1] và trứng - Ấu trùng sán lá gan nhỏ: Hình 1. 3: Metacercariae Opisthorchis felineus [23] Giai đoạn ấu trùng truyền qua cá cho người và các động vật có vú khác được gọi là metacercaria, nó được bao bọc trong các mô khác nhau của vật chủ (tôm, cá).

sinensis có hình tròn, bầu dục, kích thước 0,13-0,14 x 0,09-0,10mm [26]. viverrini có hình tròn, bầu dục, kích thước 7 0,19-0,25x0,15-0,22m [22]. felineus có hình bầu dục, kích thước 0,25-0,30x0,19-0,23mm [1]. - Vòng đời sán lá gan nhỏ: Vòng đời SLGN phức tạp, qua nhiều vật chủ.

Sán ký sinh ở đường mật trong vật chủ chính (người, chó, mèo…) đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoại cảnh. Trứng rơi vào nước, ốc (vật chủ phụ một) nuốt trứng, trứng phát triển thành ấu trùng lông (miracidia) và phát triển qua nhiều giai đoạn (sporocysts, rediae) rồi thành ấu trùng đuôi (cercariae) rời khỏi ốc sống tự do trong nước. Ấu trùng đuôi xâm nhập vào cá (vật chủ phụ 2) phát triển thành thành nang ấu trùng (metacercariae). Vật chủ chính ăn cá nhiễm nang ấu trùng, ấu trùng thoát nang trong tá tràng và đi lên đường mật, phát triển thành sán trưởng thành có khả năng đẻ trứng sau 3-4 tuần.

Hạn định đời sống của SLGN có thể dài tới 25 năm [1], [21] [27]. 4: Vòng đời của sán lá gan nhỏ Clonorchis sinensis Vật chủ chính sán C. sinensis gồm người và một số động vật có vú như chó, mèo, lợn, chuột (Rattus norvegicus), một số động vật ăn cá hoang dã, có thể cả chim tuy nhiên người được coi là vật dự trữ mầm bệnh quan trọng nhất [21]. 8 Vật chủ phụ một SLGN có nhiều loài ốc khác nhau tùy địa điểm nghiên cứu.

Nghiên cứu tại Thái Lan cho thấy vật chủ phụ một của sán O. viverrini là các loại ốc Bithynia siamensis, B. Vật chủ phụ một của C. Sinensis là ốc nước ngọt thuộc 5 họ (Assimineidae, Bithyniidae, Hydrobiidae, Melaniidae, Thiaridae) như Alocinma, Bulimus, Melanoides, Parafossarulus (đặc biệt là P.

manchouricus) và Semisulcospira [21]. Ốc giải phóng rất nhiều ấu trùng đuôi, một ốc nhiễm O. viverrini có thể giải phóng 1728 ấu trùng đuôi/ngày. Trái ngược với tỷ lệ nhiễm nang ấu trùng cao ở cá tỷ lệ nhiễm ấu trùng đuôi ở ốc thấp (khoảng 1%) do đó việc làm giảm tỷ lệ nhiễm ở ốc rất khó khăn, ít khả thi và hiệu quả thấp trên thực tế [28].

Vật chủ phụ hai của SLGN gồm nhiều loài cá nước ngọt, chủ yếu là cá họ Cyprinidae và một số họ khác [21]. Tỷ lệ nhiễm ở cá thường rất cao 60-95%, cường độ nhiễm cũng có thể rất cao, số lượng nang ấu trùng ở cá thay đổi từ một vài đến hàng trăm, có những loài nhiễm tới 30.000 nang ấu trùng/cá và trên 6. parva ở Trung Quốc, Hàn Quốc [29]. Tình trạng nhiễm nang ấu trùng phụ thuộc nhiều yếu tố như loài cá, bộ phận cơ thể khác nhau ở cá, nguồn nước nơi cá sống, mùa vụ.

Do vòng đời của SLGN liên quan tới hai vật chủ trung gian nên đặc điểm dịch tễ học cũng liên quan tới hai vật chủ trung gian này trong đó vật chủ phụ một (ốc) có vai trò quyết định đến phân bố của sán do chỉ một số ít ốc có thể nhiễm sán. Vai trò của vật chủ phụ hai ít quan trọng hơn do rất nhiều loài cá có thể mang ấu trùng sán. Sự phân bố của sán phụ thuộc vào ốc tuy nhiên lây nhiễm vào người và động vật ăn thịt phụ thuộc vào cá. Vật dự trữ mầm bệnh gồm người, chó, mèo, lợn, chuột và nhiều loại động vật ăn cá khác.

Sán lây truyền chủ yếu do ăn cá sống hoặc chưa nấu chín nên tỷ lệ nhiễm cao ở những cộng đồng có thói quen ăn cá sống. Tập quán làm nhà vệ sinh trên ao hồ, nuôi cá bằng phân người là những yếu tố góp phần quan trọng trong lan truyền bệnh. Tỷ lệ nhiễm C. sinensis cao ở động vật có vú bao gồm chó, mèo (tỉ lệ lây nhiễm 0,8-4,8,5%) do đó kiểm soát nhiễm sán ở động vật cũng đóng vai trò trong phòng chống nhiễm sán ở người [21], [31].

Sinh học và vòng đời sán lá ruột nhỏ - Hình thể sán lá ruột nhỏ: Heterophyidae có chiều dài từ 0,5-2mm, chiều rộng từ 0,3-0,4mm. Phía ngoài cơ thể thường có nhiều gai. Chúng có 1 giác miệng và một giác bụng. Xung quanh giác miệng có thể có hoặc không có gai.

Giác miệng nhỏ nối liền với hầu, họng, hệ thống ruột có cấu tạo đơn giản và kết thúc là ruột tịt. Giác bụng lớn hơn và thường chứa khoảng 70 gai. Giác bụng và lỗ sinh dục thường không đi đôi với nhau. Hai tinh hoàn nằm ở phía sau cơ thể.

Hai buồng trứng và tuyến hoàng thể nằm ở phía trước cơ thể [3] Hình 1. 5: Sán lá ruột nhỏ trưởng thành (Hideto Kino) [3] (a) Heterophyes heterophyes (1:50 μm); (b) Metagonimus yokogawai (1:150 μm) (c) Metagonimus miyatai (1:75 μm); (d) Haplorchis taichui. 6: SLRN trưởng thành nhiễm trên người tại Việt Nam [32] Hình thái Heterophyidae thay đổi phụ thuộc vào vật chủ ký sinh. Chiều dài, chiều rộng một số loài ở Việt Nam như sau: H.

Trên thực tế kích thước toàn thân của SLRN họ Heterophyidae rất nhỏ chỉ từ khoảng 350- 1100µm chiều dài và 120-650 µm chiều ngang [33]. 10 Metagonimus hình thái khác với Heterophes và Heterophyopsis. Metagonimus kích thước nhỏ hơn, giác bụng nằm gần gữa dưới bụng, không có bộ phận sinh dục, trong khi Heterophyes và Haplorchis kích thước lớn hơn, giác bụng nằm chính giữa và cơ quan sinh dục nổi lên [19]. Heterophyopsis thon dài không giống như Heterophyes [19].

Metagonimus có hai tinh hoàn nhưng Haplorchis và Procerovum chỉ có một tinh hoàn [34]. - Trứng sán lá ruột nhỏ: Hình ô van, màu vàng nhạt, bên trong chứa một tế bào phôi và nhiều tế bào noãn hoàng, có nắp mảnh ở một cực. 7: Trứng sán lá ruột nhỏ Prosthodendrium molenkampi Trứng của H. taichui kích thước 0,027-0,032 x 0,014-0,017mm.

pumilio gần giống nhau có hình ô van, vỏ dày nhẵn, có nắp nhô lên giống như có vai, có thể có mấu nhỏ ở phía dưới hoặc không, kích thước 25-28 x 2-15µm [36]. - Vòng đời sán lá ruột nhỏ: SLRN cũng lây truyền qua cá, vòng đời tương tự SLGN. Tuy nhiên vòng đời SLRN có một số điểm khác biệt.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu dịch tễ sán lá gan nhỏ và sán lá ruột nhỏ tại Ninh Bình" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình dịch tễ học của hai loại sán này tại khu vực Ninh Bình. Nghiên cứu không chỉ nêu rõ tỷ lệ nhiễm bệnh mà còn phân tích các yếu tố nguy cơ liên quan, từ đó giúp nâng cao nhận thức về sức khỏe cộng đồng và các biện pháp phòng ngừa hiệu quả. Đối với độc giả, tài liệu này mang lại lợi ích lớn trong việc hiểu rõ hơn về các bệnh ký sinh trùng, từ đó có thể áp dụng kiến thức vào thực tiễn chăm sóc sức khỏe.

Nếu bạn muốn mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến sức khỏe, hãy tham khảo các tài liệu như Luận án tiến sĩ nghiên cứu xác định tỷ lệ nhiễm và chế tạo kit chẩn đoán bệnh tiên mao trùng trypanosomiasis ở đàn trâu tại tỉnh tuyên quang, nơi bạn có thể tìm hiểu thêm về các bệnh ký sinh trùng khác. Bên cạnh đó, Luận án tiến sĩ nghiên cứu mật độ xương tình trạng vitamin d và một số markers chu chuyển xương ở trẻ từ 6 đến 14 tuổi tại thành phố cần thơ cũng sẽ cung cấp thông tin hữu ích về sức khỏe trẻ em. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ nghiên cứu lâm sàng xquang đánh giá hiệu quả điều trị hẹp chiều ngang xương hàm trên bằng hàm nong nhanh kết hợp với minivis sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các phương pháp điều trị trong y học hiện đại. Những tài liệu này sẽ là cơ hội tuyệt vời để bạn mở rộng kiến thức và hiểu biết về các vấn đề sức khỏe quan trọng.