Chương 1: Cơ sở lý thuyết về địa danh và tổng quan về thành phố Cần Thơ. Chương 2: Đặc điểm cấu tạo của địa danh hành chính Cẩn Thơ. Chương 3: Đặc điểm ý nghĩa và giá trị văn hóa của địa danh hành chính Cần 20 NỘI DUNG 'CHƯƠNG L CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐỊA DANH VA TONG QUAN VỀ THÀNH PHO CAN THO 1. Cơ sở lý thuyết về địa danh 1.
Khái niệm về địa danh 1. Định nghĩa về địa danh “Thuật ngữ “địa danh” được sử dụng rất rộng rãi trong giao tiếp hàng ngày. thường được quy chiếu cho các đồi tượng có tên gọi nhất định. Đó có thể là tên đất, tên làng, tên trường học, nhà máy, con đường,.
cụ thẻ nào đó mà ta bắt gặp trong đời thường. Tuy n „ trong nghiên cứu khoa học, đị danh được các nhà nghiên cứu hiểu theo nghĩa hẹp hơn. Có thể kể ra rất nhiều cách hiểu về địa danh. Trong một số từ điển của nước ta, các tác giả thường giải thích địa danh theo lỗi chiết tự có nghĩa là tên đất.
Như /iám Việt từ điển của Đào Duy Anh cho rằng địa danh là “tên các miền đất (nom de terre)” [I, tr. Hoàng Phê trong Từ điển tiếng Việt cũng định nghĩa: "Địa danh là tên đất, tên địa phương” [51, tr. Từ điển bách khoa Việt Nam giải thích: *Địa danh là tên gọi các lãnh thổ, các điểm quần cư (làng, xã, huyện, tỉnh, thành phố), các điểm kinh tế (vùng nông thôn, khu công nghiệp), các quốc gia, các châu lục, các núi, đèo, cao nguyên, thung lũng, đồng bằng, châu thổ, sông, hỏ. vũng, vịnh, biển, eo biển, đại đương có tọa độ địa lý nhất định ghi lại trên bản đồ.
›hản ánh quá trình hình thành, đặc điểm của các yếu tố địa lý tự nhiên và. xã hội của các lãnh thổ” [30, tr. lịch sử với những nét đặc sắc về kinh. 6 g6c đô văn hóa, Trằn Ngọc Thêm cho rằng “các đối tượng tự nhiên hay nhân tạo đều mang dấu ấn của con người.
Sự tác động của con người đối với tự nhiên có thể. mang tính vật chất (như việc luyện quăng để chế tạo đồ dùng, đẽo gỗ. tạc tượng) hoặc 21 mang tính tỉnh thần (như việc đặt tên tạo truyền thuyết cho các cảnh quan thiên nhiên. như: vịnh Hạ Long, núi Ngũ Hành, hòn Vọng Phu.” [59] Tác giả Nguyễn Văn Âu tiếp cận địa danh theo góc đô địa lý - văn hóa và quan niệm: “Địa danh học (toponymie) là một môn khoa học chuyên nghiên cứu vẻ tên dia lý các địa phương” [6, t.5], “Địa danh là tên đắt, gồm tên sông, núi, làng mạc.
hay là tên các địa phương, các dân tộc” [5, tr-5]. O khía cạnh nghiên cứu khác, Bùi Đức Tịnh trong “Lược khảo nguôn gốc địa. danh Nam Bổ" đã định nghĩa về địa danh như sau: “Địa danh là danh từ có nghĩa tổng quát đê chỉ tên gọi các loại vật thể tự nhiên được phân biệt trong sinh hoạt xã hội và. các đơn vị hành chánh hay quân sự” [64].
Tác giả Nguyễn Hữu Hiểu trong “Nguỗn gốc địa danh Nam bộ qua truyện tích và giá thuyết” thì cho rằng “Địa danh là danh từ riêng. không những chi dé goi tên một vùng đất, mà còn là tên để gọi nhiều đối tượng khác nhau như các địa hình tự nhiên. (sông, rạch, núi, đồi. công trình xây dựng (cầu, đường, chợ.
các đơn vị hành chính (tỉnh, huyện, quận, tổng, làng, xã. Tác giả Lê Trung Hoa sau khi phân loại địa danh theo các đối tượng địa lý (theo. tiêu chí tự nhiên và không tự nhiên) và theo nguồn gốc ngữ nguyên của địa danh, đã đưa ra định nghĩa như sau: “Địa danh là những từ hoặc ngữ, được dùng làm tên riêng của các địa hình thiên nhiên, các đơn vị hành chánh, các vùng lãnh thổ và các công trình xây dựng thiên về không gian hai chiều. Trước địa danh ta có thể đặt một danh từ chung chỉ tiểu loại địa danh đó: sông Hương, huyện Mộ Đức (Quảng Ngãi), vùng Ba.
Vi, thành phố Cần Thơ, đường Nguyễn Du.L8|, Nhìn nhận đưới góc độ địa lý - ngôn ngữ - văn hóa, tác giả Nguyễn Kiên Trường cho rằng “địa danh là tên riêng của các đối tượng địa lý tự nhiên và nhân văn có vị trí xác định trên mặt đắt” [71, tr. Như vậy, tùy theo mục đích nghiên cứu, mỗi tác giả đều có cách hiểu, cách lý. giải khác nhau về khái niệm địa danh. Với việc nghiên cứu về địa danh hành chính Cần Thơ, chúng tôi sử dụng định nghĩa của Lê Trung Hoa để tham khảo cho luận văn của mình.
Từ những quan niệm như trên chúng tôi cho rằng: Địa danh là những đơn vị đa thành tổ được dùng làm tên gọi để đánh dấu và khu biệt các đối tượng địa lí tự nhiên và nhân văn có vị trí xác định trên bề mặt trái đất. Đồng thời địa danh còn là phương tiện lưu giữ những thông tỉn về tự nhiên, xã hội, lịch sử, văn hóa và ngôn ngữ của dân tộc một cách trực tiếp và cụ thể nhất. Do đó, luận văn này chúng tôi sẽ nghiên cứu những từ ngữ chỉ tên riêng của các đối tượng địa lý thuộc địa danh hành chính trên địa bàn thành phố. Địa danh hành chính Địa danh hành chính là địa danh chỉ các đơn vị hành chính, do chính quyền Trung ương và địa phương đặt tên, nhằm phục vụ công tác quản lý nhà nước.
Qua mỗi thời kỳ lịch sử, địa danh hành chính lại có đặc điểm riêng, phản ánh tổ chức hành chính của thời kỳ đó [26]. Căn cứ vào định nghĩa của Lê Trung Hoa, luận văn này chúng tôi sẽ nghiên cứu những từ ngữ chỉ tên riêng của các đối tượng địa lý thuộc địa danh hành chính trên địa bàn thành phố Cần Thơ. Hiện nay, trên địa bành thành phố Cần Thơ, địa danh hành chính bao gồm tên các đơn vị hành chính như: thành phố/tinh, quận, huyện, thị trắn, xã, phường, khu vực, ấp. “Thống kê có tông cộng 724 địa danh, bao gỗ “Thành phố: 01 địa danh; Quận, huyện: 09 địa danh: Xã, phường, thị trấn: 85 địa danh; Ấp, khu vực: 629 địa danh.
Phân loại địa danh Hiện nay, ở Việt Nam, do chưa có sự thống nhất về mục đích, phương diện nghiên cứu nên vấn đề phân loại địa danh giữa các nhà nghiên cứu khá phức tạp và chưa thống nhất. Qua các tài liệu tham khảo, chúng tôi nhận thấy có 02 cách phân loại tiêu biểu nhất: Trong “Một số vấn để vẻ địa danh học Việt Nam”, Nguyễn Văn Âu đã phân loại địa danh dựa trên những đặc tính cơ bản về địa lý và xã hội để phân loại địa danh là một hệ thống ba cấp chủ yếu: loại, kiểu và dạng địa danh. Trong đó, loại địa danh gồm: địa danh tự nhiên và địa danh kinh tế - xã hội. Kiểu địa danh, gồm 7 kiểu: thuỷ danh, lâm danh, sơn danh, làng xã, huyện thị, tỉnh, thành phố, quốc gia và 12 dạng cụ thể là: sông ngòi, hỗ đầm, đồi núi, hải đảo, rừng rú, trảng, làng xã, huyện quận, thị trấn, tỉnh, thành phố, quốc gia [6].
Phương thức phân loại này của tác giả tuy đơn giản trong. thống kê, phân loại nhưng quá tỉ mi, chỉ tiết, tính khái quát chưa cao. Dựa vào chức năng của từng loại địa danh, Lê Trung Hoa trong “Địa danh học Việt Nam” [26] đã phân loại địa danh dựa theo hai tiêu chí đối tượng và nguyên ngữ. Với tiêu chí đối tượng, theo tác giả có địa danh tự nhiên và địa danh không tự nhiên.
Trong địa danh không tự nhiên (địa danh nhân tạo) tác giả lại chia thành ba loại nhỏ: địa danh chỉ các công trình xây dựng; địa danh chỉ các đơn vị hành chính (địa. danh hành chính); ia danh chi các vùng. Với tiêu chí nguyên ngữ, tác giả chia làm 02 nhóm: địa danh thuần Việt và địa danh không thuần Việt. Theo quan điểm cá nhân, chúng tôi cho rằng quan điểm phân loại này khá hợp lý và khoa học.
Bởi tác giả đã căn cứ vào những đặc điểm của ngôn ngữ để phân loại. Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa 1. Định nghĩa về văn hóa Có nhiều quan niệm về văn hóa, định nghĩa về văn hóa có thể hiểu theo nhiều góc đô, nhiều ý nghĩa khác nhau. “Từ điển tiếng Việt” (Hoàng Phê chủ biên) cho rằng: “Van héa 1a tong thể nói chung những giá trị vật chất và tỉnh thần do con người sáng.
tạo ra trong quá trình lịch sit” [51]. Trên cơ sở sự phân tích, đánh giá những biểu hiện về nội dung và giá trị văn hóa, Trần Ngọc Thêm định nghĩa “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tỉnh thần đo con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [59, tr.25] Căn cứ vào sự tồn tại của các dạng thức văn hóa trên thực tế, UNESCO đã phân. chia các dĩ sản văn hóa thành hai loại: Loại di sản văn hóa vật thể gồm những di sản tổn tại ở dạng vật chất như đình, miếu, đẻn, chùa, lăng, mộ. Loại thứ hai gồm các biểu hiện tượng trưng của văn hóa ở đạng tỉnh thân, được lưu truyền biến đổi theo thời gian với sự kế thừa từ thế hệ này sang thế hệ khác của công đồng - di sản văn hóa phi vật >.
Di sản văn hóa phi vật thể bao gồm truyền thống, âm nhạc, nghỉ thức, phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo, lễ hội, ngôn ngữ. Hai loại đi sản văn hóa vật thể và phi vật thể luôn gắn bó hữu cơ với nhau , tồn tại trong nhau và góp phân biểu hiện, bổ sung. ý nghĩa cho nhau. Nói chung các nhà nghiên cứu văn hóa đều thống nhất cho rằng văn hóa là một phức thể tổng hợp gồm cả sản phẩm vật chất và tỉnh thần do con người sáng tạo ra.
trong quá trình hoạt động thực tiễn ở các thời kì lịch sử. Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa Giữa ngôn ngữ và văn hóa có mỗi quan hệ qua lại gắn bó chặt chẽ với nhau. Những biểu hiện của văn hóa được thể hiện qua ngôn ngữ và ngược lại ngôn ngữ phản 25 ánh những thuộc tính, bản chất, sự tồn tại của văn hóa. Nói về mối quan hệ giữa ngôn.
ngữ và văn hóa, Nguyễn Đức Tồn cho rằng: “Là một thành tố của nền văn hóa tỉnh thần, ngôn ngữ giữ vị trí đặc biệt của nó. Bởi vì ngôn ngữ là phương tiện tắt yếu và là điều kiện cho sự nảy sinh, phát triển và hoạt động của những thành tố khác trong văn. Ngôn ngữ là một trong những thành tố đặc trưng nhất của bắt cứ nền văn hóa dân.