CHƯƠNG I PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Phương pháp luận; 2. Cơ sở khoa học về địa đanh: 2.1 Khai niệm: Địa danh là những từ hoặc ngữ cố định, được dùng làm tên riêng của địa hình thiên nhiên, các công trình xây dựng, các đơn vị hành chánh, các vùng lãnh thổ. Trước địa danh ta có thể đặt một danh từ chung chỉ tiểu loại địa danh đó: sông Hương, ndi Phan xi pang, chùa Một Cột.112 Nguồn gốc: Nguồn gốc địa danh rất phức tạp và đa dạng nên khi nghiên cứu cẩn tập trung vào các nội dung: nguyên tắc đặt tên và sự biến đổi của địa danh.
Nguyên tắc đặt tên: việc đặt tên địa danh được tuân theo các nguyên tắc nhất định. Các nguyên tắc này được thể hiện rõ trong các địa danh cụ thể. Có thể nêu một số nguyên tắc chủ yếu sau: e Địa danh tự nhiên: về các đối tượng địa lí tự nhiên, địa danh được thể hiện theo các nguyên tắc sau: > Địa phương: một số địa danh cụ thể được xác định theo nguyên tắc một địa danh có sin ở địa phương. Đó là các địa danh: sông Nhuệ, sông Gò Bồi, sông Côn Lôn, pú Nậm Tiên - khối núi thượng nguồn sông chảy.
>» Hình dạng: một vài địa danh được xác định bằng hình dạng của đối tượng địa lí như sông Lòng Lon, núi Thiên Nhan (nghìn ngựa), pu Sam Sao, núi Vọng Phu, hòn Gà Chọi, hòn Phụ Tử, đảo Lã Vọng. > Kích thước: địa danh cũng có thể được đặt theo kích thước khi so sánh với nhau như: sông Đại, sông Cả, sông Bé, sông Con, Đại Lãnh, Trường Sơn, Mẫu Sơn, hòn Đồ Lớn, hòn Đề Bé, Đại Côn Lôn (Phú Quốc). » Mau sắc: địa danh cũng có thể được khẳng định căn cứ vào màu sắc của nó: sông Hồng, sông Lam, Lam Sơn, thác Bac. Khóa luận tốt nghiệp trang 9 'Trường ĐHSP Tp.HCM Khoa Dia Li Mùi vị: một vài địa đanh được xác định qua mùi vị như sông Hương, Diém Hồ, hòn Thối (ngoài khơi Thanh Hóa ).
Âm thanh: cũng có khi địa danh được đặt theo âm thanh như khe Bò Đái, núi Thiên Cẩm, hòn Loong Coong. ` Đặc sản: một vài địa danh được xác định theo các đặc sản trong vùng như; Hoàng Liên Sơn, núi Mộ Da, đèo Mu Da, sông Sài Thị, Sài Gon, rào Tre, khe Con Voi. ` Thứ tự: trong điều kiện phức tạp, địa danh có thể được sắp xếp trong một trật tự nhất định như các chỉ lưu của sông Hồng ở đồng bằng Bắc Bộ xưa như Nhất Thủy, Trung Thủy. hay các ngòi Lao a, ngồi Lao b trong hệ thống sông Hồng.
Phương hướng: một vài địa danh được đặt theo phương hướng chung như Biển Đông, Non Đông (trong cánh cung Đông Triểu), Bắc Sơn, Tây Nguyên, Trường Sơn Bắc và Trường Sơn Nam. Vị trí: địa danh có khi được khẳng định theo vị trí trong vùng như sông Tién, sông Hậu, hòn Vuông ngoài, hòn Vuông trong. Dân tộc địa phương: một số địa danh được gọi theo tên các dân tộc ít người như: cao nguyên Mạ, sông K"rông Pak6, cù lao Cham. Tên người: địa danh có khi được đặt theo tên người như: suối Lénin, núi Kart Marx, núi Yên Tử, hòn Dang Văn Châu.
Lịch sử: một số địa danh được đặt theo một số sự kiện lịch sử nào đó như: sông Cấm, sông Hoàng Long, hổ Hoàn Kiếm, núi Phù Lê, núi Thiên Cẩm. Truyền thuyết: địa danh có thể được đặt theo một số truyến thuyết nào đó như: Da Trạch, sông Krông Ana, Krông Knô, cao nguyên Lang — Biang. Đặc điểm chung: một vai địa danh mang tính chất chung như: hòn Non Nước, Dâm Đàm (hồ Tay), đèo Mang Giang (Cổng Trời). e Địa danh kinh tế - xã hội: cũng không kém phan phức tạp và được xác định theo các nguyên tắc sau: Khóa luận tốt nghiệp trang 10 Trường ĐHSP Tp.HCM Khoa Địa Lí > Dia phương: một số địa danh có thể được đặt theo tên địa phương sẵn có như thị trấn Sa Pa, thị xã Nha Trang, tỉnh Đồng Nai, tỉnh Cửu Long, tỉnh Tién Giang.
> Đặc sản: địa danh được đặt theo tên đặc sản như: làng Đường Lâm (mía), làng Khoai, động Cáo (làng gạo), làng Mễ Trì, làng Đồng Gidu, làng Phù Lưu, làng Diêm Điền. > Nghề nghiệp: một số địa danh được xác định theo nghề nghiệp địa phương: làng Cót, làng Võng Thi, làng Chợ Gidu, Kẻ Vải, Kẻ Mam. > Tình cảm, nguyện vọng: một số địa phương dat theo tình cảm, nguyện vọng của nhân dân địa phương: làng Phúc Xá (xưa là Cơ Xá), làng Hữu Điển (xưa là Vô Điền), làng Tự Trì (xưa là Mục Đặc), huyện Đại An (xưa là Đại Ác), tinh Vĩnh Phú, tỉnh Tây Ninh. > Huyết tộc: một số địa danh được xác định theo tên một số dòng họ như: Trần Xá, Cao Xá, Đỗ Gia, Mã Cha (làng họ MA).
>» Tên người: địa danh được đặt theo tên người như huyện Khoái Châu, thị xã Buôn Mê Thuột, thành phố Hồ Chí Minh. > Dân tộc địa phương: cũng có địa danh được đặt theo tên dân tộc địa phương như huyện Mèo Vac, tỉnh Chiêm (Bình Định ngày nay), thành phố Đà Lạt. > Lich sử: một số tên làng và thành phố được đặt theo sự tích và sự kiện lịch sử như: làng Giảng Võ, làng Lưu Kiếm, làng Cẩm Bào, các làng Thượng Cát, Hạ Cát, thành phố Hải Phòng, thành phố Huế. > Tôn giáo: cũng có địa danh mang tính chất tôn giáo như xóm Chùa, làng Phật Tích, xã Ba Đình.
> Truyền thuyết: một số địa danh được đặt theo một truyền thuyết nào đó như làng Bộ Dau, bản Ca Gia, Mường Quái, Mường Thanh (Điện Biên),. > Kế thừa: cũng có những địa danh mang tính kế thừa như làng Chiéng, làng Ban. »> Kích thước: địa danh có khi biểu thị theo kích thước như các làng Kim Lớn, Kim Con, các làng Quậy Cả, Quậy Con (Châu Phong). Khóa luận tốt nghiệp trang 11 Trường ĐHSP Tp.HCM Khoa Địa Lí > Thứ tự: có địa danh được xác định theo thứ tự như các làng Giáp Nhất, Giáp Nhị.
cho đến Giáp Bát ở Thanh Thi; các làng Dịch Vọng Tiến, Trung, Hau ở Từ Liêm. Hà Nội; các làng Biển Thượng, Trung, Ha ở Biển Đông, Hà Bắc; các làng Điện Tho |, 2, 3,. > Phương hướng: địa danh thường được xác định theo phương hướng như: thôn Đông, xã Đoài; các làng Tân Thuận Đông và Tân Thuận Tây; Đông Kinh và Tây Kinh, Đông Đô va Tây Đô,. V Vị trí: địa danh có khi được đặt theo vị trí trong khu vực như: các làng tả và hữu Thanh Oai, các thôn Gia Quốc trong và ngoài, các tỉnh Tiền Giang và Hậu Giang.
> Đặc điểm chung: một số địa danh được xác định theo đặc điểm xã hội địa phương như làng Cổ Hủ, làng Mục Đặc, làng Cơ xá, làng Phú Thượng. Sự biến đổi của địa danh: Địa danh của một nơi thường biểu thị đặc điểm từng địa phương nên bao giờ cũng mang theo tình yêu qué hương, lòng tự hào dân tộc. địa danh thường được giữ lại khá bén vững trong tâm tư, tình cảm của nhân dân địa phương, tức là có tính bảo lưu mạnh mẽ. Tuy nhiên, địa danh vẫn có những thay đổi đáng kể do một số nguyên nhân chủ yếu: © Sự phát triển của ngôn ngữ, văn tự: dân tộc ta có một lịch sử phát triển lâu đài.
Phù hợp với quá trình này, ngôn ngữ văn tự cũng thay đổi theo, ngày càng phong phú, hoàn thiện hơn. - Một số phụ âm kép không còn dùng nữa: M'r trong M'ring, M'rang, b'I trong b'lù hay b'lời trong địa danh Mê Linh, Từ Liêm, Bái Trời. - Một số nguyên âm ngày nay rất ít dùng hay không tồn tại nữa như: "uông” trong địa danh Nam Suông, Con Cuông; “én” trong địa danh On Châu, “gn” trong địa danh Hoài Nhơn, Khánh Nhơn, “wt” trong địa danh Nhứt Tây, “ơi” trong địa danh Mỹ Thới, Long Quới. - Một số từ cổ cũng thay đổi và gần như không còn sử dụng nữa như: "kẻ” trong từ chỉ một đơn vị hành chính như làng, xã, huyện hay tỉnh như trong các địa danh như Kẻ Vải, Kẻ Mắm, Kẻ Chiêm.
Khóa luận tốt nghiệp trang 12 Trường ĐHSP Tp.HCM Khoa Địa Li "Cáo " là gạo trong địa danh Động Cáo hay Gò Gao; "ngươn, nguồn, ngân, nguồn” trong các địa danh về sông suối như: nguồn Thu Bồn. © Cải cách hành chính trong lịch sử: trong quá trình phát triển của đân tộc nước ta nói riêng cũng như của toàn thể nhân loại nói chung đều có xu hướng tiến hóa. Do đó, các triểu đại sau thường muốn tiến hành cải cách lại xã hội cũ cho phù hợp với điều kiện lịch sử đương thời. Trong quá trình này, địa danh cũng được thay đổi cho phù hợp.
- Sự biến đổi có thể chỉ là sự thay đổi tên gọi: Làng Sụ thành làng Phú Thượng, làng Cơ Xá thành làng Phúc Xá. - Thay đổi địa danh thường kèm theo sự thay đổi kích thước của địa phương. Ví dụ: tỉnh Vĩnh Phú thành lập do kết hợp hai tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc (Vĩnh Phúc trước kia do sự kết hợp của hai tỉnh Vĩnh Yên và Phúc Yên): Quảng Ninh (kết hợp bởi đặc khu Hồng Quang và tỉnh Hải Ninh); Hà Tây (là kết hợp của hai tỉnh Hà Đông và Sơn Tây). - Thay đổi địa danh là do sự kết hợp rồi lại phân chia các đơn vị hành chính như: từ Cao Lạng trở về Cao Bằng và Lạng Sơn; Bình Trị Thiên tách ra thành Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế.
- Sự thay đổi địa danh có thể thoát khỏi từ gốc cũ: tỉnh Hà Bắc do kết hợp của hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang. Đặc biệt, có khi do thay đổi về mặt hành chính là địa danh cũ lại không còn nữa. Ví dụ: Huyện Hoài An cũ do sự kết hợp của hai huyện Phù Cát và Thái Đường thuộc Châu Uy Man thời Minh nay không còn nữa, chỉ là phần đất của huyện Mỹ Đức, Hà Đông cũ. e Húy, hèm: - Húy là sự kiêng ky không được nói tên các vua, chúa đương thời.
Do đó, ở mỗi thời đại, mỗi địa phương lại phải thay đổi địa danh cho thích hợp. Ví dụ: Đời Lê, vua Lê Trang Tông (1523 — 1548) tên Ninh nên huyện Vũ Ninh phải đổi là Vũ Giang, huyện Ninh Sơn phải đổi là huyện Yên Sơn. - Tục hèm: rất phổ biến như ở làng Thủ Lệ - Cầu Giấy - Hà Nội thờ Linh Lang nên cấm nuôi các con vật lang (lợn lang, chuột lang) và trong ngôn từ người dân phải kiêng nói từ “lang” hay phải đọc chệch đi như khoai lang thành khoai lương, thầy lang thành thầy lương.