LỜI MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Trong những năm qua, Việt Nam bước vào thời kì đổi mới, một loạt thành tựu của sự nghiệp "Đổi mới" đã được ghi nhận trong đó có tốc độ phát triển kinh tế tăng trung bình hơn 7% mỗi năm trong một thời gian dài, điều đó làm thay đổi sâu sắc mọi mặt đời sống vật chất của người dân. Thu nhập và đời sống của người dân ngày càng được nâng cao, người dân dành nhiều thời gian hơn cho thư giãn, giải trí, du lịch trong đó trào lưu đi du lịch nước ngoài đang có xu hướng tăng và theo mốt. Tuy nhiên, nền kinh tế thị trường và sự hội nhập quốc tế đã tạo điều kiện và khuyến khích việc ra đời ngày càng nhiều các Công ty lữ hành có chức năng tổ chức cho khách Việt Nam đi du lịch nước ngoài, tạo ra sự cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ giữa các Công ty du lịch trong việc thu hút khách đi du lịch nước ngoài.
Cùng với tiến trình phát triển kinh tế thị trường ở nước ta, marketing ngày càng được quan tâm và chú trọng hơn bao giờ hết góp phần vào sự thành công của doanh nghiệp nói chung và kinh doanh lữ hành nói riêng. Công cụ này đã giúp doanh nghiệp nhận biết được nhu cầu của thị trường về chất lượng, số lượng, nhu cầu của khách hàng. Để từ đó đưa ra những chiến lược nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của thị trường. Các chính sách của marketing nhằm giúp doanh nghiệp có được những nhận định, giải pháp, chính sách marketing phù hợp và hiệu quả, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến doanh số và lợi nhuận của doanh nghiệp.
Ở Việt Nam hiện nay, hoạt động LHQT của Việt Nam mới bắt đầu phát triển nhưng khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp LHQT Việt Nam nói chung còn yếu so với các hãng lữ hành của nhiều đối thủ cạnh tranh trong khu vực. Các doanh nghiệp LHQT về cơ bản còn thiếu chiến lược cạnh tranh, thiếu kinh nghiệm tiếp cận thị trường du lịch nước ngoài. Nguồn tài chính dành cho hoạt động marketing, quảng cáo của nhiều doanh nghiệp LHQT của Việt nam còn hạn chếvà chưa có sự liên kết chặt chẽ với nhau. Xác định được nhu cầu này ngày một tăng cao, Công ty lữ hành Hanoitourist đang tập trung vào khai thác thị trường khách Việt Nam đi du lịch nước ngoài.
Với lợi thế về một Công ty trực thuộc Tổng công ty Du lịch Hà Nội, một trong số các Tổng công ty lớn và uy tín hàng đầu tại Việt nam về lĩnh vực du lịch. Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hóa cạnh tranh ngày càng gay gắt hiện nay, việc lựa chọn các chính sách marketing phù hợp giúp thu hút khách Việt Nam đi du lịch nước 1 c ngoài đang trở nên cấp bách hơn. Xuất phát từ quan điểm trên, tôi lựa chọn đề tài: “Giải pháp marketing nhằm thu hút khách Việt Nam đi du lịch nước ngoài tại Công ty lữ hành Hanoitourist” để nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ Quản trị kinh doanh của mình. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.
Mục tiêu chung Trên cơ sở phân tích thực trạng hoạt động marketing từ đó đề xuất giải pháp marketing nhằm thu hút khách Việt Nam đi du lịch nước ngoài của Công ty Lữ hành Hanoitourist trong thời gian tới. Mục tiêu cụ thể - Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về giải pháp marketing nhằm thu hút khách du lịch của công ty lữ hành. - Phân tích hoạt động marketing nhằm thu hút khách du lịch Việt Nam đi du lịch nước ngoài của Công ty Lữ hành Hanoitourist. - Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động marketing nhằm thu hút khách Việt Nam đi du lịch nước ngoài của công ty lữ hành Hanoitourist.
- Đề xuất giải pháp nhằm thu hút khách Việt Nam đi du lịch nước ngoài trong thời gian tới. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các hoạt động marketing quyết định sự thu hút khách Việt Nam đi du lịch nước ngoài và các tác nhân có liên quan đến quá trình áp dụng các biện pháp marketing để thu hút khách của Công ty Lữ hành Hanoitourist. Phạm vi nghiên cứu - Về nội dung: + Tìm hiểu thực trạng về quá trình áp dụng các biện pháp marketing nhằm thu hút khách đi du lịch nước ngoài đang được áp dụng tại Công ty Lữ hành Hanoitourist.
- Về không gian: Phạm vi và địa bàn hoạt động của Công ty tại Hà nội. - Về thời gian: Số liệu đã công bố thu thập trên các tạp chí, báo cáo hàng năm được thu thập từ 2014 đến 2016. Số liệu mới được điều tra thu thập chủ yếu trong năm 2016. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 2.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MARKETING TRONG DU LỊCH VÀ HOẠT ĐỘNG THU HÚT KHÁCH VIỆT NAM ĐI DU LỊCH NƯỚC NGOÀI 2. Khái niệm, vai trò, ý nghĩa về giải pháp marketing 2.1 Khái niệm về công ty lữ hành Là các đơn vị có tư cách pháp nhân độc lập được thành lập nhằm mục đích sinh lợi bằng việc giao dịch, ký kết các hợp đồng du lịch và tổ chức thực hiện các chương trình du lịch trọn gói hoặc từng phần. Ngoài ra công ty du lịch còn có thể tiến hành các hoạt động trung gian, bán sản phẩm của các nhà cung cấp du lịch hoặc thực hiện các hoạt động kinh doanh tổng hợp khác đảm bảo nhu cầu du lịch của khách từ khâu đầu tiên cho đến khâu cuối cùng.2 Khái niệm về khách du lịch của công ty lữ hành Mặc dù là ngành du lịch ra đời muộn hơn so với một số ngành kinh tế khác nhưng hoạt động du lịch đã có từ xa xưa, tại các nước Ai Cập cổ đại, Hy Lạp, La Mã đã xuất hiện một số hình thức du lịch như du lịch công vụ của các phái viên Hoàng Đế, du lịch thể thao qua các sự kiện như thế vận hội Olympic, các cuộc hành hương của các tín đồ tôn giáo, du lịch chữa bệnh của giới quý tộc. Ngày nay, trên toàn thế giới, du lịch đã trở thành nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống văn hoá - xã hội và hoạt động du lịch đang được phát triển ngày một mạnh mẽ hơn.
Tại Việt nam lượng khách đi du lịch nướcngoài tăng lên đáng kể qua từng năm do thu nhập của người dân ngày càng cao, cuộc sống ngày càng được nâng lên. Tính đến năm 2016 lượng khách đi du lịch nước ngoài khoảng 6,5 triệu lượt khách đã tăng gấp 10 lần so với năm 1996 và chi tiêu gần 7 tỷ đô la Mỹ. Đứng trên góc độ thị trường “cầu du lịch” chính là khách du lịch, còn “cung du lịch” chính là các nhà cung cấp sản phẩm du lịch trọn gói hoặc từng phần. Vậy khác du lịch là gì và họ cần nhu cầu gì? Do vậy đã có nhiều khái niệm khác nhau về khách du lịch của các tổ chức và các nhà nghiên cứu để xác định rõ hơn khách du lịch là ai sau đây là một số khái niệm về khách du lịch (Đoàn Hương Lan, 2013): + Nhà kinh tế học người Áo - Jozep Stemder - định nghĩa: “Khách du lịch là những người đặc biệt, ở lại theo ý thích ngoài nơi cư trú thường xuyên, để thoả mãn những nhu cầu cao cấp mà không theo đuổi mục đích kinh tế”.
3 c + Nhà kinh tế người Anh - Olgilvi khẳng định rằng: “Để trở thành khách du lịch cần có hai điều kiện sau: thứ nhất phải xa nhà một thời gian dưới một năm; thứ hai là phải dùng những khoản tiền kiếm được ở nơi khác”. + Định nghĩa khách du lịch có tính chất quốc tế đã hình thành tại Hội nghị Roma do Liên hợp quốc tổ chức vào năm 1963: “Khách du lịch quốc tế là người lưu lại tạm thời ở nước ngoài và sống ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ trong thời gian 24h hoặc nhiều hơn”. + Theo pháp lệnh du lịch của Việt nam (1999, Điều 20): Khách du lịch gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế (*). Khách du lịch nội địa là công dân Việt nam và người nước ngoài cư trú tại Việt nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt nam.
Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt nam định cư ở nước ngoài vào Việt nam đi du lịch và công dân mang quốc tịch Việt nam, người nước ngoài cư trú tại Việt nam ra nước ngoài du lịch. Phân loại khách du lịch Ngoài việc nhận thức rõ về định nghĩa khách du lịch quốc tế việc nghiên cứu cần có sự phân loại chính xác, đầy đủ. Đó là điều thuận lợi cho việc nghiên cứu, thống kê các chỉ tiêu về du lịch cũng như định nghĩa. Sau đây là một số cách phân loại khách du lịch.
- Uỷ ban thông lệ Liên hợp quốc đã chấp nhận các phân loại sau, các định nghĩa chính của các phân loại: Khách tham quan du lịch là những cá nhân đi đến một đất nước khác ngoài nơi ở thường xuyên của họ trong một khoảng thời gian không quá 12 tháng với mục đích chủ yếu không phải kiếm tiền trong phạm vi lãnh thổ mà họ đến. Khách du lịch quốc tế là tất cả những khách du lịch đã ở lại đất nước mà họ đến ít nhất là một đêm. Khách tham quan trong ngày là tất cả những khách tham quan mà không ở lại qua đêm tại đất nước mà họ đến. Khách quá cảnh là khách không rời khỏi phạm vi khu vực quá cảnh trong thời gian chờ đợi giữa các chuyến bay tại sân bay hoặc tại các khu vực nhà ga khác.
- Theo định nghĩa khách du lịch của pháp lệnh du lịch ban hành ngày 8/2/1999. Khách du lịch có hai loại là khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế. 4 c Bên cạnh các phân loại này còn có các cách phân loại khác. + Phân loại khách du lịch theo nguồn gốc dân tộc: Cơ sở của việc phân loại này xuất phát từ yêu cầu của nhà kinh doanh du lịch cần nắm được nguồn gốc khách.
Qua đó mới hiểu được mình đang phục vụ ai? họ thuộc dân tộc nào? để nhận biết được tâm lý của họ để phục vụ họ một cách tốt hơn. + Phân loại khách du lịch theo độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp: Cách phân loại này sẽ cho phép nhà cung cấp khám phá ra các nhu cầu cơ bản và những đặc trưng cụ thể về khách du lịch. + Phân loại khách theo khả năng thanh toán: Xác định rõ đối tượng có khả năng thanh toán cao hay thấp để cung cấp dịch vụ một cách tương ứng.